Những điểm hạn chế chủ yếu của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay Khác với nhiều nước trên thế giới, nơi mà thị trường chứng khoán đ được hình thành c
Trang 1TS Đinh Dũng Sỹ *
1 Những điểm hạn chế chủ yếu của pháp
luật về chứng khoán và thị trường chứng
khoán ở Việt Nam hiện nay
Khác với nhiều nước trên thế giới, nơi
mà thị trường chứng khoán đ được hình
thành cách đây một vài trăm năm với hệ
thống pháp luật về chứng khoán đ hoàn
chỉnh, ở Việt Nam thị trường chứng khoán là
vấn đề còn rất mới mẻ, Trung tâm giao dịch
chứng khoán đầu tiên mới được hình thành
tại thành phố HCM từ giữa tháng 7/2000 Do
vậy, pháp luật về chứng khoán và thị trường
chứng khoán -hình thức pháp lí của quan hệ
kinh tế trong thị trường đặc thù này còn ở
mức sơ khai, chưa hoàn chỉnh và đồng bộ
Cho đến nay, các văn bản quy phạm pháp
luật điều chỉnh về chứng khoán và thị trường
chứng khoán có thể kể tới vài ba chục văn
bản, nằm rải rác ở nhiều lĩnh vực, do nhiều
cấp có thẩm quyền ban hành, dưới nhiều
hình thức khác nhau như luật, pháp lệnh,
nghị định, quyết định, thông tư Tuy nhiên,
các văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu,
trực tiếp điều chỉnh các quan hệ phát sinh
trong quá trình phát hành, kinh doanh và
quản lí nhà nước về chứng khoán đều là
những văn bản có giá trị pháp lí dưới luật,
trong đó văn bản điều chỉnh trực tiếp và quan
trọng nhất là Nghị định số 48/CP ngày
11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và
thị trường chứng khoán
Nhìn một cách tổng thể, tuy chưa có đạo
luật về phát hành và kinh doanh chứng khoán
như ở nhiều nước trên thế giới nhưng trên
thực tế, khung pháp luật về chứng khoán với
ba bộ phận cấu thành tối thiểu cần có của nó gồm Những quy định luật pháp về hàng hoá chứng khoán; những điều chỉnh luật pháp về kinh doanh chứng khoán; quản lí nhà nước
và giám sát việc phát hành và kinh doanh chứng khoán cũng đ được hình thành Tuy nhiên, về mặt nội dung, các quy định hiện hành còn bộc lộ nhiều hạn chế Cụ thể như còn nhiều quy định chưa đầy đủ, chưa rõ ràng hoặc còn bỏ ngỏ đồng thời cũng có nhiều quy định mặc dù mới được ban hành, chưa qua kiểm nghiệm nhiều trên thực tế đ bộc lộ những hạn chế, bất hợp lí Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin nêu một số điểm hạn chế chính dưới đây:
a Về cơ chế và hình thức phát hành cổ phiếu
Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán của ta hiện nay chưa có các quy
định điều chỉnh về phát hành riêng lẻ (phát hành tư nhân) Luật công ti trước đây cũng như Luật doanh nghiệp hiện hành không phân biệt rạch ròi việc phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán xác định rõ là chỉ điều chỉnh việc phát hành chứng khoán ra công chúng Mặc dù pháp luật chưa quy định rõ
đâu là phát hành cổ phiếu có tính chất riêng
lẻ nhưng các quy định trong Luật công ti trước đây chính là thể hiện những nguyên tắc
* Văn phòng Chính phủ
Trang 2và cơ chế của phát hành riêng lẻ Còn Luật
doanh nghiệp năm 1999 lại bỏ mất các quy
định của việc phát hành này Do vậy, có thể
nói hiện nay pháp luật chứng khoán của
chúng ta chưa có đủ những quy định điều
chỉnh về phát hành riêng lẻ mà chỉ có các
quy định về phát hành chứng khoán (chào
bán) ra công chúng Cần phải bổ sung quy
định này trong Luật doanh nghiệp
b Về cơ cấu các loại thị trường
Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng
khoán và thị trường chứng khoán mới chỉ
quy định về thị trường giao dịch tập trung
Trong khi đó, do bị hạn chế bởi cơ chế phát
hành, có nhiều loại chứng khoán không đủ
điều kiện để niêm yết tại thị trường giao dịch
tập trung, đặc biệt là trái phiếu Như vậy, sẽ
có lượng chứng khoán không nhỏ được phát
hành mà không có nơi giao dịch (mua bán
lại) Để khắc phục tình trạng này, pháp luật
cần quy định bổ sung và tìm ra giải pháp tạo
khả năng giao dịch cho các chứng khoán
không đủ điều kiện niêm yết tại thị trường
tập trung
c Vấn đề thời hạn và tính chuyển
nhượng của chứng khoán chưa được quy định
rõ ràng
Trong Luật công ti trước đây cũng đ có
sự phân định giữa cổ phiếu kí danh (không
được tự do chuyển nhượng hoặc chuyển
nhượng hạn chế) và cổ phiếu vô danh (được
tự do chuyển nhượng) nhưng lại chưa được
hướng dẫn cụ thể về phạm vi và đối tượng
chuyển nhượng; hoặc các trái phiếu, vì thời
hạn ngắn, cơ chế phát hành bị ràng buộc
nhiều điều kiện, do vậy, chứng khoán do các
doanh nghiệp Việt Nam phát hành bị hạn chế
về khả năng trao đổi, mua bán Từ đó số
lượng chứng khoán được niêm yết tại thị
trường chứng khoán vừa ít về số lượng vừa
không phong phú về chủng loại
d Về các tổ chức hoạt động kinh doanh chứng khoán
Theo Điều 29 Nghị định số
48/1998/NĐ-CP thì “các tổ chức tín dụng, công ti bảo hiểm hoặc các tổng công ti muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công
ti chứng khoán độc lập” Tuy nhiên, Luật các
tổ chức tín dụng năm 1997 lại chưa có các quy định cho phép các tổ chức tín dụng được quyền (gián tiếp) kinh doanh chứng khoán (mặc dù chúng ta đ khắc phục tình trạng này bằng quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cho phép các tổ chức tín dụng được thành lập công ti kinh doanh chứng khoán
độc lập) Sự không đồng bộ này của hệ thống pháp luật đ phần nào gây khó khăn, cản trở hoạt động của các tổ chức muốn tham gia vào lĩnh vực kinh doanh chứng khoán Do vậy, cần có những quy định bổ sung nói trên
để các tổ chức tín dụng, công ti bảo hiểm
có cơ sở pháp lí tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán, tạo thêm sự sôi động của trung tâm giao dịch vừa mới được vận hành ở nước ta
d Về khả năng tham gia của các tổ chức, cá nhân nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam
Nói chung, luật pháp ở hầu hết các nước
đều có những quy định hạn chế nhất định sự tham gia của tổ chức kinh doanh, người đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán của họ cả trên phương diện kinh doanh, cả trên phương diện đầu tư
Trên phương diện kinh doanh, luật pháp nhiều nước không cho phép các công ti chứng khoán nước ngoài trở thành thành viên
sở giao dịch chứng khoán mà chỉ cho phép
họ tham gia dưới hình thức liên doanh với các công ti trong nước hoặc được mở chi nhánh, đặt văn phòng đại diện để làm nhiệm
vụ môi giới gián tiếp
Trang 3Đối với đầu tư, luật pháp hầu hết các
nước trong khu vực đều có những quy định
riêng về các loại cổ phiếu bán cho người
nước ngoài hoặc khống chế tỉ lệ nắm giữ
chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài Ví
dụ, luật pháp của Indonesia, Thái Lan cho
phép nhà đầu tư nước ngoài được quyền nắm
giữ tối đa là 49% số cổ phiếu đăng kí lưu
hành trên sở giao dịch đối với một tổ chức
phát hành; ở Malaysia tỉ lệ này là 30%; ở
Philippine và Trung Quốc thì phân cổ phiếu
làm 2 loại: Loại bán cho các nhà đầu tư trong
nước (loại A), loại bán cho các nhà đầu tư
nước ngoài (loại B)
Theo kinh nghiệm của một số nước trong
khu vực, Việt Nam cũng mở cửa thị trường
chứng khoán với bên ngoài Tuy nhiên, việc
mở cửa này cũng cần có những quy định hạn
chế, từ từ, nhằm tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp kinh doanh chứng khoán trong nước
có cơ hội lớn mạnh và bảo đảm tính an toàn
của thị trường chứng khoán trong nước, hạn
chế những tác động từ bên ngoài đối với nền
kinh tế Luật pháp của ta cũng có những quy
định (hạn chế) tương tự như một số nước nói
trên
Nghị định số 48/1998/NĐ-CP, Quyết
định số 139/1999/QĐ-TTg và Quyết định số
145/1999/QĐ-TTg đều đ ghi nhận quyền
của tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua
bán chứng khoán trên thị trường chứng
khoán Việt Nam Tuy nhiên, các quy định
của Luật đầu tư nước ngoài chưa đồng bộ và
thông thoáng, dẫn đến hạn chế khả năng
tham gia thị trường chứng khoán của các nhà
đầu tư nước ngoài Cụ thể là theo quy định
của Luật đầu tư nước ngoài, các doanh
nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài chỉ có thể được tổ chức dưới
hình thức công ti trách nhiệm hữu hạn và
trong quá trình hoạt động cũng không được
phép chuyển đổi sang hình thức công ti cổ phần Quy định này không chỉ làm hạn chế khả năng huy động vốn đầu tư từ nước ngoài
mà còn hạn chế cả khả năng tham gia thị trường chứng khoán của các nhà đầu tư nước ngoài Do vậy, luật pháp cần phải thay đổi,
điều chỉnh các quy định nói trên
e Các quy định về giải quyết tranh chấp Vấn đề giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực chứng khoán đ được đề cập trong một vài văn bản (Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994; Nghị
định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán) nhưng cũng chỉ mới dừng lại ở những quy định mang tính nguyên tắc chung, chưa đầy đủ
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế xếp "các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu" thuộc loại các tranh chấp kinh tế và thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân (tòa kinh tế); Nghị định số 48/CP quy định trọng tài kinh
tế cũng có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về chứng khoán Tuy nhiên, việc chỉ liệt
kê có hai loại chứng khoán nói trên là chưa
đầy đủ Mặt khác, các tranh chấp về chứng khoán cũng không phải chỉ bao gồm các tranh chấp về mua bán chứng khoán mà còn
có nhiều tranh chấp khác về sở hữu phát hành, kinh doanh chứng khoán Do vậy, cần phải bổ sung, hoàn thiện các quy định về giải quyết tranh chấp Theo chúng tôi, các vấn đề này bao gồm:
+ Nhận diện chính xác và đầy đủ các tranh chấp về chứng khoán, kinh doanh chứng khoán và phân loại chúng;
+ Xác định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp;
+ Xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp;
g Các quy định về giải thể, phá sản công
ti chứng khoán
Trang 4Chúng ta đ có Luật phá sản doanh
nghiệp, tuy nhiên, kinh doanh chứng khoán
là lĩnh vực đặc thù Việc giải thể, phá sản
công ti kinh doanh chứng khoán có ảnh
hưởng nhất định đến thị trường, đến lợi ích
các nhà đầu tư và có thể gây hậu quả mang
tính dây chuyền Do vậy, chúng tôi cho rằng
cần có những quy định cụ thể và rõ ràng hơn
về giải thể, phá sản đối với các công ti chứng
khoán Có thể có những công ti chứng khoán
của Nhà nước (trong điều kiện mới hình
thành thị trường chứng khoán) không được
phá sản hoặc phá sản có điều kiện
Ngoài những hạn chế nói trên của các
quy định thuộc về thể chế thị trường chứng
khoán còn phải kể đến những bất cập trong
các thể chế liên quan mà nếu thiếu chúng thì
thị trường chứng khoán không thể vận hành
đồng bộ và trôi chảy được Đó là các thể chế
về tài chính, hành chính - tư pháp, các quy
định của pháp luật doanh nghiệp, pháp luật
về đầu tư, về lao động hoặc các quy định của
pháp luật hình sự Các thể chế này còn
nhiều quy định lạc hậu, chưa bắt kịp với điều
kiện kinh tế - x hội của đất nước trong đó
có sự tồn tại và hoạt động của thị trường
chứng khoán, phần nào kìm hm hoặc làm
giảm hiệu quả hoạt động của thị trường
chứng khoán trong thực tiễn
Tóm lại, thực trạng pháp luật về chứng
khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
hiện nay có thể đưa ra một số nhận xét sau
(những hạn chế cần khắc phục):
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật về chứng khoán và thị trường chứng
khoán hầu hết là các văn bản dưới luật, có
giá trị pháp lí thấp;
- Các văn bản thiếu tính hệ thống, còn
manh mún, chắp vá, thiếu tính đồng bộ và
còn mâu thuẫn chồng chéo giữa các quy
định;
- Còn bỏ ngỏ nhiều vấn đề thuộc về chứng khoán và thị trường chứng khoán chưa
được quy định, điều chỉnh;
- Hầu hết các quy định được xây dựng trên cơ sở tham khảo, học tập kinh nghiệm luật pháp, kinh nghiệm tổ chức thị trường chứng khoán của nước ngoài mà chưa được hoặc còn ít được kiểm nghiệm qua thực tiễn
ở Việt Nam
2 Những yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Về phương hướng, yêu cầu chung là cần pháp điển hoá các quy định pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho
đầy đủ, hệ thống và đồng bộ, tiến tới xây dựng và ban hành Pháp lệnh chứng khoán và thị trường chứng khoán trong một vài năm tới; hiện đại hoá đội ngũ những người làm chứng khoán (quản lí và kinh doanh), các phương tiện, thiết bị phục vụ cho hoạt động của thị trường chứng khoán, đây là các vấn
đề mang tính kĩ thuật, tạo khả năng mua bán, thanh toán chứng khoán một cách dễ dàng; xây dựng các trung tâm giao dịch đủ mạnh tiến tới thành lập Sở giao dịch chứng khoán phục vụ có hiệu quả cho nền kinh tế Về các giải pháp cụ thể, trước mắt cần hoàn thiện các vấn đề sau:
a Hoàn thiện các quy định về phát hành tư nhân (bán riêng) Phát hành tư nhân là việc phát hành chứng khoán (cổ phiếu) một cách riêng lẻ, tức là nhà phát hành bán cổ phiếu trực tiếp cho nhà đầu tư, không phải là phát hành (chào bán) ra công chúng qua thị trường chứng khoán Tuy phát hành tư nhân không được thực hiện ở thị trường giao dịch tập trung nhưng nó tạo ra các chứng khoán - hàng hoá để có thể giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung sau này
Trang 5Theo chúng tôi, Luật doanh nghiệp cần
phải bổ sung các quy định về điều chỉnh phát
hành tư nhân (phát hành riêng lẻ) nói trên
b Hoàn thiện các quy định pháp luật về
tạo lập các loại chứng khoán và khả năng
giao dịch chúng trên thị trường tập trung
Như đ phân tích trong phần thực trạng,
các quy định pháp luật về chứng khoán của
ta hiện nay còn nhiều hạn chế, đặc biệt là về
cơ chế phát hành, về thời hạn lưu hành chứng
khoán Do vậy, thị trường chứng khoán của
ta còn rất ít các chủng loại chứng khoán Mặt
khác, có nhiều loại chứng khoán (đặc biệt là
chứng khoán có lợi tức cố định) không đủ
điều kiện để niêm yết trên thị trường giao
dịch tập trung, phần nào làm giảm tính hấp
dẫn và sôi động của thị trường chứng khoán
Và do vậy, cũng cần phải có giải pháp trước
mắt là cho phép thành lập các quầy giao dịch
các chứng khoán không đủ điều kiện niêm
yết bên cạnh các quầy giao dịch tập trung
c Hoàn thiện các quy định pháp luật về
các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
- Trước hết là các cơ quan quản lí điều
hành và giám sát thị trường chứng khoán
Các cơ quan này bao gồm Uỷ ban chứng
khoán nhà nước, Bộ tài chính, Ngân hàng
trung ương, Bộ Tư pháp, Sở giao dịch chứng
khoán (Trung tâm giao dịch chứng khoán),
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiện nay ta đ có cơ quan quản lí nhà
nước về chứng khoán là Uỷ ban chứng khoán
nhà nước (được thành lập theo Nghị định số
75/CP ngày 28/11/1996 của Chính phủ) và
các cơ quan giám sát có liên quan Tuy
nhiên, cơ chế luật pháp về sự phối hợp trong
tham gia tổ chức, giám sát thị trường chứng
khoán chưa được hình thành Các cơ quan
liên quan mới chỉ tham gia ở mức độ và
phạm vi rất thấp, dựa trên những quy định
hiện hành về chức năng, nhiệm vụ quản lí
ngành của mình Trung tâm giao dịch chứng khoán, một định chế trung tâm của thị trường chứng khoán mới được hình thành với tính chất là tổ chức điều hành mang tính quá độ (Trung tâm giao dịch chứng khoán đang hoạt
động tại TP Hồ Chí Minh hoặc tại Hà Nội trong thời gian tới) Các trung tâm này thuộc
sở hữu nhà nước, trực thuộc ủy ban chứng khoán nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Trong tương lai, ta cần hoàn thiện các quy định luật pháp đối với định chế tài chính quan trọng này, cần xây dựng
Sở giao dịch chứng khoán như là một thực thể độc lập về tổ chức cũng như tài chính, thực hiện hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải nghiên cứu cho phép ra đời Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán, với tính chất là
tổ chức hỗ trợ các thành viên và cũng là tăng cường khả năng giám sát đối với thị trường
- Các nhà phát hành Theo quy định của pháp luật hiện hành, có các nhà phát hành sau: Chính phủ, chính quyền địa phương, doanh nghiệp nhà nước (trong đó có DNNN
cổ phần hoá), công ti cổ phần, quỹ đầu tư chứng khoán và các ngân hàng thương mại,
tổ chức tín dụng Tuy nhiên, theo các quy
định hiện hành, khả năng phát hành chứng khoán của các chính quyền địa phương, các quỹ đầu tư và các tổ chức tín dụng còn thấp; khả năng có chứng khoán để niêm yết tại thị trường giao dịch tập trung trong thời điểm hiện tại hầu như rất hạn chế, kể cả các doanh nghiệp Cần phải ban hành đầy đủ các quy chế pháp lí cũng như hình thành các yếu tố thói quen, tâm lí kinh doanh có thị trường chứng khoán cho các nhà phát hành tiềm năng
- Các nhà đầu tư Là những người bỏ tiền vào đầu tư chứng khoán nhằm mục tiêu lợi nhuận Họ gồm các doanh nghiệp, các công
Trang 6ti tài chính, các ngân hàng thương mại, các
quỹ bảo hiểm và lực lượng đông đảo là các
tầng lớp dân cư Trong giai đoạn hiện nay
của thị trường chứng khoán nước ta cần phải
có những quy định luật pháp đầy đủ và thống
nhất để bảo đảm quyền lợi của các nhà đầu
tư, tạo cho họ tâm lí an toàn khi bỏ vốn vào
kinh doanh chứng khoán Nhưng trước hết
đối với chúng ta hiện nay có lẽ là cần phải
tuyên truyền sâu rộng những thông tin, kiến
thức về chứng khoán và thị trường chứng
khoán để người dân hiểu biết về chúng và
tham gia vào thị trường này
- Về các công ti chứng khoán Cần phải
mở rộng thêm đối tượng được phép tham gia
cung ứng các dịch vụ chứng khoán và xây
dựng, sửa đổi các quy chế pháp lí của các
loại hình nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán
như các quy chế về tự doanh, môi giới chứng
khoán, tư vấn đầu tư, quản lí danh mục đầu
tư, lưu kí, thanh toán bù trừ
- Về các định chế tài chính trung gian
Cần hoàn thiện các quy định luật pháp có
liên quan như Luật các tổ chức tín dụng,
Luật kinh doanh bảo hiểm để các tổ chức
trung gian tài chính như các ngân hàng
thương mại, các tổ chức tín dụng, công ti bảo
hiểm có thể tham gia trực tiếp hoặc gián
tiếp vào thị trường chứng khoán với cả ba tư
cách: Nhà phát hành, nhà kinh doanh chứng
khoán và nhà đầu tư
d Đồng bộ hoá các thể chế và định chế
liên quan đến chứng khoán và thị trường
chứng khoán, tạo ra khung pháp luật về
chứng khoán và thị trường chứng khoán hoàn
chỉnh để thị trường chứng khoán được hình
thành, vận hành đồng bộ và có hiệu quả
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, các vấn
đề cần phải được hoàn thiện để đồng bộ hoá
với pháp luật về chứng khoán và thị trường
chứng khoán, tạo thêm động lực cho việc
hình thành và hoạt động của thị trường chứng khoán, đó là:
- Pháp luật về doanh nghiệp Thể hiện trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, tạo cơ chế và điều kiện để các doanh nghiệp gặp được người đầu tư bằng phát hành cổ phiếu qua thị trường chứng khoán;
- Pháp luật về đầu tư (trong nước và nước ngoài) phải đảm bảo cho nhà đầu tư có cơ hội lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp bằng góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc bằng mua bán cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường hoặc có thể chuyển đổi hình thức doanh nghiệp, chuyển đổi vốn góp thành chứng khoán một cách dễ dàng, thuận lợi; cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức liên doanh và 100% vốn nước ngoài từ loại hình công ti trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ti cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp,
để các nhà đầu tư nước ngoài có nhiều cơ hội hơn trong việc tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam
- Pháp luật về tài chính cần phải tạo cho thị trường nhiều loại giấy tờ có giá có thể trao đổi, mua bán được trên thị trường chứng khoán; hình thành đồng bộ các quy định về
kế toán, kiểm toán chứng khoán; các quy
định về thuế, đặc biệt là các ưu đi về thuế
đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán trong điều kiện mới hình thành thị trường hiện nay;
- Về pháp luật hình sự Hiện nay, Bộ luật hình sự của ta chưa có quy định về tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán Tuy nhiên, trong chương “Các tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế” có một số tội danh mà các hành vi của các tội này sẽ được thực hiện một cách tương tự trong lĩnh vực chứng khoán như tội
đầu cơ, tội lừa dối khách hàng, tội kinh doanh trái phép Và do vậy, khi có các hành
Trang 7vi phạm tội này xảy ra trong lĩnh vực kinh
doanh chứng khoán thì có thể áp dụng các
điều khoản hiện hành của Bộ luật hình sự để
truy cứu trách nhiệm hình sự và làm căn cứ
xét xử Mặc dù vậy, xét về tính chất và mức
độ nguy hiểm của những hành vi cùng loại
nói trên trong lĩnh vực chứng khoán, chúng
tôi cho rằng chúng nguy hiểm hơn và có thể
để lại hậu quả nặng nề hơn Do vậy, Bộ luật
hình sự cần quy định các tội danh này với
khung hình phạt thích hợp Mặt khác, trong
lĩnh vực kinh doanh chứng khoán còn có
những hành vi nguy hiểm cho x hội mà Bộ
luật hình sự cần phải khái quát, xây dựng cấu
thành tội phạm và quy định bổ sung thành
các tội danh mới trong lĩnh vực chứng khoán như: Tội mua bán nội gián; tội vi phạm các quy định về mua bán, nắm giữ chứng khoán nhằm thanh toán, sáp nhập công ti; tội lạm dụng trong việc phát hành giấy tờ có giá - chứng khoán
- Hoàn thiện đồng bộ các pháp luật khác
có liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán như pháp luật lao động; pháp luật hành chính - tư pháp; giải quyết tranh chấp; giải thể, phá sản doanh nghiệp để thị trường chứng khoán được vận hành trôi chảy
và đồng bộ, có ý nghĩa thiết thực trong việc
đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế./
Về thẩm quyền (Tiếp theo trang 59)
2 Cần nhanh chóng khắc phục sự mâu
thuẫn giữa các quy định của Luật đất đai
năm 1993 với các quy định trong các văn
bản hướng dẫn thi hành Luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam về thẩm quyền giao đất,
cho thuê đất của uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương Giải pháp đưa ra
để khắc phục sự mâu thuẫn này là sửa đổi
các quy định của Luật đất đai năm 1993 về
thẩm quyền giao đất cho thuê đất của uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương cho phù hợp với Luật đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi
hành nhằm giảm các thủ tục hành chính
trong việc thuê đất của các dự án đầu tư đồng
thời tăng cường quyền hạn, trách nhiệm và
tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút các
dự án đầu tư nước ngoài
3 Như phần trên chúng tôi đ phân tích,
thị trấn là cấp đơn vị hành chính tương
đương với x Cả x và thị trấn đều chịu sự
quản lí trực tiếp của uỷ ban nhân dân huyện
Để tăng cường quyền hạn và trách nhiệm cho
uỷ ban nhân dân huyện, theo quan điểm của
chúng tôi, cần sửa quy định hiện nay của Luật đất đai năm 1993 theo hướng cho phép
uỷ ban nhân dân huyện được quyền giao đất cho hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở tại thị trấn Có như vậy mới tạo sự thuận lợi cho uỷ ban nhân dân huyện trong việc phân cấp quản lí nhà nước đối với đất đai
4 Xuất phát từ nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, chống thiên tai hoặc trong tình trạng khẩn cấp, nếu quy định uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị x, thành phố trực thuộc tỉnh trở lên có quyền trưng dụng đất như pháp luật hiện hành thì trên thực tế sẽ có trường hợp không đáp ứng hoặc ứng phó kịp thời, có hiệu quả khi chiến tranh, thiên tai, tình trạng khẩn cấp xảy ra Chính vì vậy, nên quy định uỷ ban nhân dân cấp x có quyền quyết định việc trưng dụng đất khi có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh; chống thiên tai hoặc tình trạng khẩn cấp Sau đó, uỷ ban nhân dân cấp x báo cáo ngay việc quyết
định trưng dụng đất của mình cho uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị x, thành phố thuộc tỉnh biết để xử lí./