Khái niệm chung về cấp dưỡng Theo khoản 11 Điều 8, "Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mì
Trang 1Nguyễn Phương Lan *
ấp dưỡng là quan hệ đặc thù được điều
chỉnh bằng luật HN&GĐ Các quy định
về quan hệ cấp dưỡng đ( được quy định
trong Luật HN&GĐ năm 1986 Tuy nhiên,
các quy định đó mới chỉ dừng lại ở việc quy
định nguyên tắc chung, thiếu cụ thể và chưa
đầy đủ
Để khắc phục hạn chế trên, Luật
HN&GĐ năm 2000 đ( có chương riêng quy
định cụ thể về quan hệ cấp dưỡng Trong
phạm vi bài viết này, chúng tôi xin trình bày
một số nội dung cơ bản của quan hệ cấp
dưỡng trong Luật HN&GĐ năm 2000
1 Khái niệm chung về cấp dưỡng
Theo khoản 11 Điều 8, "Cấp dưỡng là
việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền
hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết
yếu của người không sống chung với mình
mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc
nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là
người chưa thành niên, là người đ2 thành
niên mà không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi mình, là người
gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của
Luật này"
Từ khái niệm này có thể thấy quan hệ
cấp dưỡng có những đặc điểm cơ bản sau:
- Quan hệ cấp dưỡng là loại quan hệ tài
sản đặc biệt, "không thể thay thế bằng nghĩa
vụ khác và không thể chuyển giao cho người
khác"(1) vì nó gắn liền với nhân thân của chủ
thể (người cấp dưỡng và người được cấp
dưỡng) và nghĩa vụ cấp dưỡng là loại nghĩa
vụ không được bù trừ theo quy định của pháp
luật.(2)
- Quan hệ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình trên cơ sở hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng; "nghĩa
vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng ".(3)
- Quan hệ cấp dưỡng là quan hệ tài sản
có đi có lại nhưng không mang tính chất
đồng thời và tuyệt đối.(4) Sự chăm sóc, giúp
đỡ lẫn nhau giữa những người ruột thịt, bên cạnh ý nghĩa vật chất còn là nhu cầu tình cảm cần được thực hiện nhằm bảo đảm sự gắn bó lẫn nhau giữa họ Khi thực hiện nghĩa
vụ cấp dưỡng, người cấp dưỡng thường tiến hành một cách tự giác và không tính toán nhiều đến giá trị tài sản phải bỏ ra, không nghĩ đến việc người được cấp dưỡng sẽ phải cấp dưỡng lại một số tài sản tương ứng Mặt khác, không phải lúc nào nghĩa vụ cấp dưỡng cũng được đặt ra; nghĩa vụ đó chỉ phát sinh trong những trường hợp nhất định và với những điều kiện nhất định Vì vậy, quan hệ cấp dưỡng không mang tính đền bù tương
đương, không có tính chất tuyệt đối và không diễn ra đồng thời
- Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ bổ sung, nó chỉ phát sinh khi nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ; nó chỉ phát sinh trong những điều kiện nhất định, khi người được cấp dưỡng
C
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2không có tài sản để tự nuôi mình
2 Điều kiện phát sinh quan hệ cấp
dưỡng
Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh khi có
các điều kiện sau:
- Người cấp dưỡng và người được cấp
dưỡng phải có quan hệ hôn nhân, huyết
thống hoặc nuôi dưỡng
- Người được cấp dưỡng là người chưa
thành niên, người đ( thành niên nhưng không
có khả năng lao động và không có tài sản để
tự nuôi mình hoặc là người túng thiếu, khó
khăn
- Người cấp dưỡng phải có khả năng cấp
dưỡng
3 Các trường hợp phát sinh nghĩa vụ
cấp dưỡng
Theo Luật HN&GĐ năm 2000, giữa các
thành viên trong gia đình sẽ phát sinh quan
hệ cấp dưỡng như sau:
- Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với
con (Điều 56) Khi cha mẹ vì những lí do
nhất định như đi công tác xa hoặc cha mẹ li
hôn, không trực tiếp nuôi con thì có nghĩa vụ
cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đ(
thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi
dân sự, không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi mình Nghĩa vụ
cấp dưỡng của cha mẹ đối với con phát sinh
trên cơ sở cha mẹ có nghĩa vụ cùng nhau
chăm sóc, nuôi dưỡng con (Điều 36) Trong
trường hợp cha, mẹ bị hạn chế quyền cha, mẹ
đối với con chưa thành niên theo Điều 41 thì
không được thực hiện quyền trông nom,
chăm sóc, giáo dục con, quản lí tài sản của
con nhưng vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng
cho con khi không được trực tiếp nuôi con
(khoản 3 Điều 43)
- Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha
mẹ (Điều 57) Nghĩa vụ này chỉ đặt ra khi
cha mẹ không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi mình Khi cha
mẹ bị ốm đau, già yếu, tàn tật thì con có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ (khoản 2 Điều 36) Khi cha mẹ không có khả năng lao động (do già yếu, ốm đau, tàn tật )
và cũng không có tài sản để nuôi mình mà con không sống chung với cha mẹ do đó không trực tiếp nuôi dưỡng cha mẹ thì có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ, để bảo đảm cuộc sống của cha mẹ Tuy nhiên, nghĩa vụ này chỉ đặt ra khi con có khả năng về kinh tế,
đủ đảm bảo được cuộc sống của chính mình,
do đó về nguyên tắc nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ chỉ đặt ra đối với con đ( thành niên Tuy nhiên, Luật cũng quy định: "Con từ đủ mười lăm tuổi trở lên còn sống chung với cha
mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình nếu có thu nhập thì đóng góp vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình" (khoản 2
Điều 44) Trong thực tế có trường hợp cha
mẹ túng thiếu, khó khăn, không có khả năng lao động và không có đủ tài sản để tự nuôi mình mà người con của họ đ( từ 15 tuổi trở lên, có tài sản riêng nhưng không sống chung cùng cha mẹ Thiết nghĩ pháp luật cũng nên quy định trong trường hợp này con cũng có nghĩa vụ đóng góp vào nhu cầu sống thiết yếu của cha mẹ tức là phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho cha mẹ Quy định như vậy sẽ bảo đảm sự thống nhất, chặt chẽ hơn giữa các điều luật (cụ thể là khoản 2 Điều 44
và Điều 57), tạo nên sự ràng buộc trách nhiệm của con đối với cha mẹ
- Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em
Điều 58 Luật HN&GĐ quy định: "Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đ2 thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đ2 thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản Ngược lại, em đ2 thành
Trang 3niên không sống chung với anh, chị có nghĩa
vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả
năng lao động và không có tài sản để tự nuôi
mình"
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em
với nhau là nghĩa vụ bổ sung, nó chỉ phát
sinh khi nghĩa vụ chính giữa cha mẹ và con
không được thực hiện Nghĩa vụ này cũng
chỉ đặt ra đối với người cấp dưỡng là anh,
chị, em đ( thành niên, có khả năng kinh tế và
có tài sản
- Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội,
ông bà ngoại và cháu (Điều 59) Giữa ông bà
và cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau trên
cơ sở nghĩa vụ nuôi dưỡng Nghĩa vụ cấp
dưỡng giữa ông bà và cháu chỉ phát sinh
trong những điều kiện nhất định Cháu chỉ
được ông bà cấp dưỡng khi cháu chưa thành
niên hoặc cháu đ( thành niên không có khả
năng lao động, không có tài sản để tự nuôi
mình và không có cha mẹ, anh, chị, em nuôi
dưỡng hoặc cấp dưỡng và không sống chung
với ông bà Nghĩa vụ cấp dưỡng của ông bà
đối với cháu chỉ phát sinh sau khi nghĩa vụ
của cha mẹ, anh, chị, em không thực hiện
được Bằng quy định tại Điều 59 thứ tự người
có nghĩa vụ cấp dưỡng đ( được xác định, tạo
điều kiện để thực hiện nghĩa vụ này trong
thực tế
Ông bà được cháu cấp dưỡng khi ông bà
không có khả năng lao động, không có tài
sản để tự nuôi mình và không có người khác
cấp dưỡng mà cháu không sống chung với
ông bà Nghĩa vụ cấp dưỡng của cháu đối với
ông bà chỉ đặt ra đối với cháu đ( thành niên
và khi ông bà không có con cái, anh, chị, em
nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng
- Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng
khi li hôn (Điều 60) Nghĩa vụ này đ( được
quy định từ Luật HN&GĐ năm 1959 (Điều
30) và Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 43)
Xuất phát từ mục đích xây dựng gia đình, Luật HN&GĐ quy định vợ chồng phải có nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau Đây là nghĩa vụ cơ bản và là đạo lí của quan hệ vợ chồng Nghĩa vụ chăm sóc nhau bao hàm cả sự chăm sóc về tinh thần, tình cảm và cả sự giúp
đỡ cần thiết về vật chất
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng có thể phát sinh khi hôn nhân đang tồn tại hoặc khi đ( li hôn
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi hôn nhân đang tồn tại phát sinh khi có những điều kiện sau:
- Khi vợ chồng sống xa nhau Việc sống
xa nhau có thể do nhiều lí do như vì điều kiện công tác, do mâu thuẫn về tình cảm nhưng không muốn li hôn mà chỉ muốn ở riêng (hình thức li thân) do đó xin chia tài sản chung (5)
- Trong điều kiện sống xa nhau mà một bên vợ hoặc chồng lâm vào tình trạng túng thiếu, khó khăn do bị tai nạn, mất sức lao
động, ốm đau, sinh đẻ Sự túng thiếu khó khăn đó phải có lí do chính đáng thì mới có cơ sở buộc người kia phải cấp dưỡng
- Tài sản chung của vợ chồng không có hoặc có nhưng không đủ để bảo đảm cuộc sống bình thường của người túng thiếu, khó khăn Trong khi đó người vợ hoặc người chồng có tài sản riêng Ví dụ, sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000), toàn bộ tài sản chung được chia hết, hai vợ chồng ở riêng Người vợ bị bệnh hiểm nghèo phải sử dụng hết số tiền được chia nhưng vẫn không đủ, do phải điều trị lâu dài Trong trường hợp này, người chồng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng vẫn có thể phát sinh khi đang tồn tại hôn nhân Tuy nhiên, trong Luật HN&GĐ năm 1986 và cả Luật HN&GĐ năm 2000, vấn đề này đều chưa được quy định cụ thể
Trang 4Việc cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi hôn
nhân đang tồn tại tuy ít khi xảy ra vì vợ
chồng đ( trực tiếp chăm sóc nhau bằng tài
sản chung Song, trong những trường hợp đặc
biệt như đ( phân tích, sự cấp dưỡng cho một
bên vợ hoặc chồng ở xa, gặp khó khăn lại là
cần thiết Do đó, cần có những quy định cụ
thể và đầy đủ hơn về vấn đề này
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng
khi đ( li hôn chỉ phát sinh khi có những điều
kiện nhất định, đó là: Bên túng thiếu, khó
khăn có yêu cầu cấp dưỡng có lí do chính
đáng và bên kia có khả năng cấp dưỡng
(Điều 60 Luật HN&GĐ năm 2000) Quy
định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng
khi đ( li hôn là biểu hiện tốt đẹp của truyền
thống đạo đức của dân tộc Vì lẽ đó, trong
pháp luật của nước ta từ trước tới nay đều
quy định về nghĩa vụ này.(6) Pháp luật của
một số nước cũng quy định về cấp dưỡng
giữa vợ và chồng khi đ( li hôn.(7) Việc cấp
dưỡng khi đ( li hôn là để bên có khó khăn,
túng thiếu có thể bảo đảm được cuộc sống
trong một thời gian hợp lí sau khi li khi đ( li
hôn để đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ
này trong thực tế và tránh bị lợi dụng
- Trong các trường hợp cấp dưỡng trên có
thể có trường hợp một người được nhiều
người cấp dưỡng hoặc một người cấp dưỡng
cho nhiều người, nhiều người cùng cấp
dưỡng cho nhiều người (Điều 51, Điều 52)
Trong những trường hợp đó, người cấp
dưỡng và người được cấp dưỡng sẽ thỏa
thuận với nhau về phương thức và mức cấp
dưỡng phù hợp với thu nhập thực tế của
người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của
người được cấp dưỡng Nếu không thỏa
thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết
4 Mức cấp dưỡng
Theo quy định tại Điều 53 Luật HN&GĐ
năm 2000, mức cấp dưỡng do người có nghĩa
vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc
người giám hộ của người đó thỏa thuận căn
cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người
có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng Thu nhập của người cấp dưỡng bao gồm toàn bộ thu nhập của người đó (thu nhập theo lương và các thu nhập khác ngoài lương) Trên cơ sở thu nhập, kết hợp với các điều kiện cụ thể khác có thể
đánh giá khả năng thực tế của người cấp dưỡng
Khi xem xét mức cấp dưỡng, bên cạnh việc căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng còn phải dựa trên nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng là những nhu cầu cần thiết nhất, không thể thiếu để bảo đảm cuộc sống của người được cấp dưỡng Với ý nghĩa đó việc cấp dưỡng là nhằm đáp ứng những nhu cầu cần thiết tối thiểu để bảo đảm cuộc sống của người được cấp dưỡng Nhu cầu thiết yếu bao gồm các nhu cầu về ăn, ở, mặc, học hành, đi lại, chữa bệnh Những chi phí cần thiết cho các nhu cầu trên được xác định theo mức sống trung bình tại địa phương nơi người được cấp dưỡng sinh sống Do điều kiện kinh tế ở mỗi vùng, mỗi miền khác nhau mà mức chi phí cho các nhu cầu thiết yếu đó cũng rất khác nhau Vì vậy, việc ấn định mức cấp dưỡng chung là không phù hợp nên các bên có thể thỏa thuận về mức cấp dưỡng sao cho phù hợp với nhu cầu cần thiết của người được cấp dưỡng Tuy nhiên, để có cơ sở pháp lí thống nhất cho việc giải quyết cấp dưỡng cần có hướng dẫn cụ thể thế nào là nhu cầu thiết yếu, cần có sự phân biệt nhất định về nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng là trẻ chưa thành niên với những người cấp dưỡng khác
5 Phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
Phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 54 rất linh
Trang 5hoạt Theo đó, việc cấp dưỡng có thể được
thực hiện định kì hàng tháng, hàng quý, nửa
năm, hàng năm hoặc cấp dưỡng một lần Các
bên có thể lựa chọn trên cơ sở thỏa thuận
cách thức thực hiện việc cấp dưỡng tùy theo
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mình Trong
trường hợp đặc biệt, nếu người có nghĩa vụ
cấp dưỡng có khả năng kinh tế để thực hiện
nghĩa vụ cấp dưỡng một lần và người được
cấp dưỡng cũng đồng ý thì nghĩa vụ cấp
dưỡng có thể được thực hiện một lần Quy
định này góp phần bảo vệ quyền lợi của
người được cấp dưỡng, ngăn chặn hành vi
trốn tránh, trì ho(n thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng của người có nghĩa vụ đồng thời bảo
đảm được việc thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng
nhanh, gọn, có hiệu quả Đây cũng là phương
thức cấp dưỡng có hiệu quả và phù hợp nhất
trong trường hợp li hôn Tuy nhiên, từ quy
định cấp dưỡng một lần có thể nảy sinh vấn
đề là khi có lí do chính đáng, người được cấp
dưỡng có quyền yêu cầu cấp dưỡng tiếp hay
không? Đây là tình huống phức tạp rất dễ
xảy ra nên pháp luật cần có quy định cụ thể
Theo quan điểm của chúng tôi, trong trường
hợp này chỉ nên chấp nhận yêu cầu cấp
dưỡng tiếp của người được cấp dưỡng là cha,
mẹ, con của người cấp dưỡng
Điều 54 Luật HN&GĐ năm 2000 cũng
quy định: Trong trường hợp người có nghĩa
vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về
kinh tế mà không có khả năng thực hiện
nghĩa vụ cấp dưỡng thì có thể thỏa thuận để
tạm ngừng cấp dưỡng, thay đổi phương thức
cấp dưỡng; nếu các bên không thỏa thuận
được thì yêu cầu tòa án giải quyết Quy định
này bảo đảm tính khả thi của việc cấp dưỡng
Tuy nhiên, việc tạm ngừng cấp dưỡng sẽ ảnh
hưởng trực tiếp tới đời sống của người được
cấp dưỡng nên cần được tòa án xem xét thận
trọng và chỉ nên cho phép tạm ngừng cấp
dưỡng khi sự khó khăn về kinh tế là có lí do chính đáng
Song song với việc quy định về phương thức cấp dưỡng, mức cấp dưỡng, theo chúng tôi, pháp luật cần có quy định cụ thể hơn về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Luật HN&GĐ năm 2000 mới chỉ quy định rất chung về vấn đề này, chẳng hạn,
Điều 50 quy định: "Trong trường hợp người
có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà trốn tránh nghĩa
vụ đó thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Luật này"; Điều
107 có quy định rõ hơn: " Người nào không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường "
Và mặc dù, Điều 152 BLHS 1999 cũng quy định: "Người có nghĩa vụ cấp dưỡng có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng mà cố ý hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đ2 bị
xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" Theo chúng tôi đó chỉ là biện pháp cuối cùng khi đ( có hậu quả nghiêm trọng xảy ra đối với người được cấp dưỡng, chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng Vì vậy, pháp luật nên quy định một số biện pháp cụ thể, có ý nghĩa thiết thực bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng như quyết định khấu trừ vào tiền lương, thu nhập, tiền công lao động của người không chịu tự nguyện thực hiện nghĩa
vụ cấp dưỡng cũng như trách nhiệm của nơi người có nghĩa vụ cấp dưỡng đang làm việc trong việc thực hiện các quyết định của tòa
án và cơ quan thi hành án Các biện pháp này cũng đ( được quy định trong pháp lệnh thi hành án dân sự song để giúp cho việc thực hiện tốt nghĩa vụ cấp dưỡng, cần có văn
Trang 6bản dưới luật hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề
này
6 Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng
Các trường hợp làm chấm dứt nghĩa vụ
cấp dưỡng đ( được quy định cụ thể tại Điều
61 Luật HN&GĐ năm 2000, đó là các trường
hợp sau:
- Người được cấp dưỡng đ( thành niên và
có khả năng lao động Trong thực tế, có
trường hợp người đ( thành niên và có khả
năng lao động song vẫn không có đủ thu
nhập để tự nuôi mình, những người này sẽ
không được cấp dưỡng Việc cấp dưỡng vẫn
được thực hiện trong những trường hợp này
là xuất phát trên cơ sở đạo đức, phong tục tập
quán và tuỳ thuộc vào sự thỏa thuận giữa
người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng
- Người được cấp dưỡng có thu nhập
hoặc tài sản để tự nuôi mình Trong trường
hợp này, việc cấp dưỡng chỉ chấm dứt nếu
người được cấp dưỡng không phải là con của
người cấp dưỡng Nếu người được cấp dưỡng
là con chưa thành niên, con đ( thành niên
không có năng lực hành vi dân sự, không có
khả năng lao động thì mặc dù con có tài sản,
cha mẹ vẫn có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm
sóc con và do đó vẫn phải có nghĩa vụ cấp
dưỡng cho con
- Người được cấp dưỡng được nhận làm
con nuôi Khi được nhận làm con nuôi, giữa
cha mẹ nuôi và người được cấp dưỡng sẽ
phát sinh quan hệ cha mẹ và con, cha mẹ
nuôi có nghĩa vụ nuôi dưỡng con nuôi nên
không cần phải có người khác cấp dưỡng
- Người cấp dưỡng đ( trực tiếp nuôi
dưỡng người được cấp dưỡng Quan hệ cấp
dưỡng chỉ hình thành khi người có nghĩa vụ
nuôi dưỡng không trực tiếp nuôi dưỡng người
mà mình có nghĩa vụ nuôi dưỡng do hai bên
không cùng chung sống Khi đ( trực tiếp
nuôi dưỡng người mà mình có nghĩa vụ nuôi
dưỡng thì nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt
- Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết Quan hệ cấp dưỡng là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân nên không thể chuyển giao cho người khác Do đó, khi một bên (người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết) thì quan hệ cấp dưỡng không thể tiếp tục
- Bên được cấp dưỡng sau khi đ( li hôn
đ( kết hôn với người khác Việc kết hôn làm phát sinh quan hệ vợ chồng mới nên người chồng (hoặc vợ cũ) không cần phải cấp dưỡng nữa
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật Quy định này để dự liệu các trường hợp khác có thể xảy ra mà pháp luật chưa quy định được hết nhằm đáp ứng kịp thời sự biến động đa dạng và sự phát triển của các quan hệ x( hội
Quan hệ cấp dưỡng đ( được điều chỉnh
cụ thể hơn trong Luật HN&GĐ năm 2000 song còn nhiều vấn đề đặt ra như đ( phân tích ở trên Để bảo đảm thực hiện tốt nghĩa
vụ cấp dưỡng trong thực tế, cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những vấn đề trên, góp phần hoàn thiện chế định cấp dưỡng./
(1).Xem: Điều 50 Luật HN&GĐ năm 2000 và Điều
315 BLDS
(2).Xem: Điều 387 BLDS
(3).Xem: Điều 50 Luật HN&GĐ năm 2000
(4).Xem: Giáo trình Luật HN&GĐ Việt Nam , Trường
đại học pháp lí Hà Nội 1983, tr.96 (Bản rômêô) (5) Xem: Điều 18 Luật HN&GĐ 1986, NQ số 01/NQ-HĐTP Tòa án nhân dân tối cao ngày 20/11/1998,
Điều 29 và Điều 30 Luật HN&GĐ năm 2000, Điều 1.462 BLDS và thương mại Thái Lan
(6) Xem: Các điều, Điều 144 BLDS Bắc Kì và Điều
142 Dân luật Trung Kì, Điều 197 Dân luật Sài Gòn 1972
(7).X em: Các điều 1526, 1527, 1528 Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan, Điều 33 Luật hôn nhân của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa