1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Vấn đề đình chỉ điều tra và đình chỉ vụ án trong tố tụng hình sự" pptx

6 1,2K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 96,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trường hợp được quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự thì cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án và có thể chuyển giao hồ sơ cho cơ quan Nhà nước hoặc

Trang 1

vấn đề đình chỉ điều tra và đình chỉ

vụ án trong Tố tụng hình sự

Vũ Gia Lâm *

ình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án là

những quyết định tố tụng mà các cơ

quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án có thể

ra trong quá trình giải quyết vụ án hình

sự Theo chúng tôi, để phân biệt giữa đình

chỉ điều tra và đình chỉ vụ án theo quy

định của pháp luật tố tụng hình sự hiện

hành có thể dựa trên ba phương diện cơ

bản, đó là: Thời điểm ra quyết định; thẩm

quyền ra quyết định và căn cứ ra quyết

định Nếu xét trên ba phương diện này thì

vấn đề đặt ra là các quy định có liên quan

trong luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta

đ@ thật sự rõ ràng, đầy đủ, chặt chẽ và

đảm bảo tính thống nhất giữa các chế

định luật tố tụng hình sự, giữa luật tố tụng

hình sự với luật hình sự và đ@ đáp ứng

được với yêu cầu thực tiễn hay chưa?

Nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố

tụng hình sự (BLTTHS), Bộ luật hình sự

(BLHS) cũng như tham khảo những tình

huống thực tế xuất hiện trong quá trình

điều tra, truy tố, xét xử, chúng tôi thấy

trong quy định của BLTTHS về các quyết

định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vẫn

còn nổi lên một số vấn đề khúc mắc cần

nghiên cứu, xem xét, khắc phục để sớm

hoàn thiện, đảm bảo tính thống nhất của

pháp luật nói chung đồng thời tạo điều

kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật

đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Trong bài

viết này, chúng tôi đề cập quy định của

BLTTHS về các quyết định đình chỉ điều

tra và đình chỉ vụ án trong các giai đoạn

điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án

hình sự và đi sâu vào căn cứ ra các quyết

định đó

1 Quyết định đình chỉ điều tra Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, cơ quan điều tra có thể ra quyết định đình chỉ điều tra để chấm dứt hoạt động điều tra đối với vụ án hoặc đối với từng bị can

Điều 139 BLTTHS quy định căn cứ để ra quyết định đình chỉ điều tra như sau:

“1 Cơ quan điều tra ra quyết định

đình chỉ điều tra trong những trường hợp sau đây:

a) Có một trong những căn cứ quy

định tại Điều 89 Bộ luật này

b) Đ/ hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đ/ thực hiện tội phạm

2

3 Trong trường hợp được quy định tại

đoạn 1 khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự thì cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án và có thể chuyển giao

hồ sơ cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức x/ hội xử lí.”

Theo quy định trên thì cơ quan điều tra có thể ra quyết định đình chỉ điều tra khi có một trong ba căn cứ đ@ nêu Tùy từng trường hợp cụ thể mà có thể ra quyết

định đình chỉ điều tra ở các thời điểm khác nhau Chẳng hạn, nếu đ@ hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được

bị can đ@ thực hiện tội phạm thì cơ quan

điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra; nếu xác định được các căn cứ còn lại thì

có thể ra quyết định đình chỉ điều tra vào chính thời điểm đ@ phát hiện các căn cứ

đó mà không cần xem xét đến vấn đề thời

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

Đ

Đ

Trang 2

hạn điều tra Theo chúng tôi, quy định

trên là tương đối rõ ràng Nhưng nếu đặt

các quy định trên trong mối tương quan

với một số quy định khác tại BLHS và

BLTTHS lại thấy là các quy định đó chưa

đầy đủ, chưa đảm bảo sự thống nhất giữa

hai bộ luật này cũng như chưa có sự

thống nhất với các chế định khác của

BLTTHS Điều này thể hiện cụ thể như

sau:

Tại đoạn 2 khoản 1 Điều 48 BLHS có

quy định: "Nếu trước khi hành vi phạm

tội bị phát giác, người phạm tội đ/ tự thú,

khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào

việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố

gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả

của tội phạm thì cũng có thể được miễn

trách nhiệm hình sự"

Như vậy, nếu vụ án đ@ được khởi tố

để điều tra thì sẽ xảy ra hai trường hợp:

Thứ nhất, người đó có thể phải chịu trách

nhiệm hình sự; thứ hai, người đó có thể

được miễn trách nhiệm hình sự Nhưng

vấn đề đặt ra ở đây là có miễn trách

nhiệm hình sự cho họ hay không lại

không chỉ dựa vào lời tự thú của họ một

cách đơn thuần mà chủ yếu phụ thuộc vào

việc cơ quan điều tra có làm rõ được

những điều kiện mà pháp luật quy định

làm căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự

hay không? Và muốn làm rõ được những

điều kiện đó thì rõ ràng phải bằng cách

tiến hành các hoạt động điều tra Vậy khi

tiến hành điều tra đ@ xác định được các

điều kiện cần thiết để miễn trách nhiệm

hình sự và có cơ sở chắc chắn để khẳng

định họ là đối tượng cần được miễn trách

nhiệm hình sự, cơ quan điều tra có quyền

ra quyết định đình chỉ điều tra hay

không?

Trên thực tế còn tồn tại một số quan

điểm khác nhau về vấn đề này Có người

cho rằng truy cứu trách nhiệm hình sự

hay không là quyền của viện kiểm sát chứ không thuộc quyền của cơ quan điều tra Vì viện kiểm sát là cơ quan duy nhất thực hiện quyền công tố nhà nước và truy cứu trách nhiệm hình sự là hình thức thực hiện quyền công tố nói trên Do vậy, chỉ viện kiểm sát mới có quyền quyết định miễn hay không miễn trách nhiệm hình

sự đối với người phạm tội Quan điểm khác cho rằng hình thức thực hiện quyền công tố nhà nước chính là quyết định truy

tố người phạm tội (bằng bản cáo trạng) khi đ@ kết thúc điều tra Nếu không khởi

tố, điều tra và xác định trước những điều kiện cần và đủ để khẳng định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho x@ hội phải chịu trách nhiệm hình sự thì họ không thể

bị đề nghị truy tố và bị truy tố ra trước tòa

án để xét xử được Do đó, khi tiến hành

điều tra, cơ quan điều tra xác định họ thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự thì có đề nghị truy tố người đó hay không? Theo chúng tôi sẽ vô lí và không cần thiết nếu cơ quan điều tra lại

đề nghị truy tố trong trường hợp này Việc một người có thể được miễn trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà họ

đ@ thực hiện là do luật định, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ xác định trường hợp cụ thể đó mà thôi và nếu việc xác định ở thời

điểm hoạt động của cơ quan nào thì cơ quan đó có quyền quyết định miễn hoặc không miễn trách nhiệm hình sự

Do vậy, nếu xét về khía cạnh phù hợp hay không phù hợp giữa quy định của BLHS với quy định của BLTTHS cũng như hướng dẫn trong Thông tư liên ngành

số 05/TTLN ngày 2/6/1990 của Bộ nội vụ (nay là Bộ công an), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành chính sách

đối với người phạm tội tự thú, chúng tôi nghiêng về ý kiến thứ hai hơn, tức là trong trường hợp đó cơ quan điều tra

Trang 3

cũng có quyền quyết định miễn trách

nhiệm hình sự cho người phạm tội và ra

quyết định đình chỉ điều tra Vì thế, theo

chúng tôi nên sửa đổi khoản 3 Điều 139

BLTTHS bằng cách bỏ hai từ “đoạn 1” và

như vậy, điều luật này sẽ được quy định

như sau:

“3 Trong trường hợp được quy định

tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự thì cơ

quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều

tra vụ án và có thể chuyển giao hồ sơ cho

cơ quan nhà nước hoặc tổ chức x@ hội xử

lí.”

Việc vụ án được khởi tố theo yêu cầu

của người bị hại (Điều 88 BLTTHS)

nhưng khi tiến hành điều tra, người này

lại rút đơn yêu cầu khởi tố đ@ gây lúng

túng cho cơ quan điều tra vì luật không

quy định đây là căn cứ để ra quyết định

đình chỉ điều tra Trường hợp lí do rút

đơn yêu cầu khởi tố của người bị hại là

chính đáng, hoàn toàn tự nguyện và vụ án

cũng không ở vào trường hợp "cần thiết"

tiến hành tố tụng như quy định tại khoản

2 Điều 88 BLTTHS thì việc vẫn tiếp tục

tiến hành điều tra sẽ không đảm bảo được

quyền lợi của người bị hại, làm mất ý

nghĩa của chế định "khởi tố theo yêu cầu"

nhưng nếu ra quyết định đình chỉ điều tra

thì lại không có cơ sở pháp luật Điều này

dẫn đến tình trạng bị động trong hoạt

động của cơ quan điều tra, làm chậm quá

trình giải quyết vụ án vì thường thì cơ

quan điều tra phải báo việc rút đơn yêu

cầu của người bị hại cho viện kiểm sát để

viện kiểm sát quyết định Theo chúng tôi,

nên giải quyết vấn đề này như sau: Đối

với vụ án được khởi tố theo yêu cầu của

người bị hại mà người này rút yêu cầu

khởi tố trong giai đoạn điều tra và việc rút

yêu cầu là chính đáng, hoàn toàn tự

nguyện thì cơ quan điều tra có quyền ra

quyết định đình chỉ điều tra nếu việc ra

quyết định đó phù hợp với mục đích của

quy định về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại và không vi phạm quy

định tại khoản 2 Điều 88 BLTTHS Muốn vậy, Điều 88 BLTTHS phải được sửa đổi,

bổ sung cho thống nhất và xác lập quyền hạn cụ thể cho cơ quan điều tra trong trường hợp này Chúng tôi đề nghị bổ sung khoản 2 Điều 88 BLTTHS với nội dung như sau:

“1

2 Trong trường hợp người bị hại rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên tòa thì vụ án phải được đình chỉ

Trong trường hợp cần thiết, tuy người

bị hại rút yêu cầu khởi tố nhưng cơ quan

điều tra, viện kiểm sát, tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.”

Và để phù hợp với Điều 88 đ@ được

bổ sung thì cần thêm vào Điều 139 BLTTHS một trường hợp nữa làm căn cứ

để cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ

điều tra Theo chúng tôi, nên quy định thêm vào khoản 1 Điều 139 BLTTHS trường hợp người bị hại rút yêu cầu khởi

tố khi đang tiến hành điều tra vụ án Khoản 1 Điều 139 BLTTHS sẽ có nội dung như sau:

“1 Cơ quan điều tra ra quyết định

đình chỉ điều tra trong những trường hợp sau đây:

a) Có một trong các căn cứ quy định tại điều 89 Bộ luật này

b) Đ@ hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đ@ thực hiện tội phạm

c) Người bị hại rút yêu cầu khởi tố trong giai đoạn điều tra.”

2 Quyết định đình chỉ vụ án của viện kiểm sát

Theo quy định tại Điều 142 BLTTHS, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận

hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố bị can, viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định sau đây: Truy tố

Trang 4

bị can trước tòa bằng bản cáo trạng; trả

lại hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ

hoặc tạm đình chỉ vụ án Trong trường

hợp cần thiết, viện trưởng viện kiểm sát

có thể gia hạn thêm nhưng không quá 30

ngày Khoản 1 Điều 143b BLTTHS quy

định căn cứ để ra quyết định đình chỉ vụ

án như sau:

“1 Viện kiểm sát ra quyết định đình

chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy

định tại Điều 89 của Bộ luật này hoặc

Điều 16, khoản 1 Điều 48 và khoản 3

Điều 59 Bộ luật hình sự.”

Theo chúng tôi, quy định trên là cụ

thể, rõ ràng, xác định các căn cứ để viện

kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án

nhưng vẫn chưa tập trung Mặc dù khoản

2 Điều 88 đ@ quy định trường hợp người

bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố trước khi

mở phiên tòa thì vụ án phải bị đình chỉ

nhưng cũng chưa xác định rõ cơ quan nào

ra quyết định đình chỉ Nếu người này rút

yêu cầu khởi tố trong giai đoạn truy tố

của viện kiểm sát và không ở vào "trường

hợp cần thiết" thì đương nhiên viện kiểm

sát có quyền ra quyết định đình chỉ Do

đó, theo chúng tôi, khoản 1 Điều 143b

cần được bổ sung thêm căn cứ đình chỉ vụ

án như sau:

“1 Viện kiểm sát ra quyết định đình

chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy

định tại Điều 89 của Bộ luật này hoặc

Điều 16, khoản 1 Điều 48 và khoản 3

Điều 59 BLHS hay trường hợp người bị

hại rút yêu cầu khởi tố trước khi viện

kiểm sát truy tố.”

3 Quyết định đình chỉ vụ án của

tòa án

Trong phần này, chúng tôi đề cập

quyết định đình chỉ vụ án trong giai đoạn

xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Giai đoạn

xét xử sơ thẩm bắt đầu từ thời điểm tòa

án nhận hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng

từ viện kiểm sát chuyển sang Trong thời

hạn luật định, tòa án thực hiện hai công việc quan trọng là chuẩn bị xét xử và tiến hành mở phiên tòa để xét xử vụ án Theo quy định tại Điều 151 và Điều 173 BLTTHS về thời hạn chuẩn bị xét xử và

về việc ra bản án, quyết định của tòa án thì quyết định đình chỉ vụ án có thể được

đưa ra trong hai thời điểm: Trong giai

đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa Quyền hạn ra quyết định đình chỉ vụ án

được giao cho các chủ thể khác nhau có thể là thẩm phán (trước khi mở phiên tòa), có thể là hội đồng xét xử (tại phiên tòa) Theo chúng tôi, cơ sở khoa học cho quy định của BLTTHS về quyền hạn của các chủ thể có quyền quyết định đình chỉ

vụ án, thời điểm ra quyết định đình chỉ vụ

án còn chưa đầy đủ, rõ ràng khiến cho việc áp dụng còn gặp khó khăn

a Quyết định đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

Giai đoạn chuẩn bị xét xử được tính từ sau khi nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng

đến trước ngày mở phiên tòa xét xử Theo quy định tại Điều 151 BLTTHS, thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ, giải quyết các khiếu nại, yêu cầu của người tham gia

tố tụng, tiến hành những hoạt động cần thiết khác cho việc mở phiên tòa Thời hạn nghiên cứu hồ sơ và ra các quyết định

tố tụng cần thiết được quy định đối với các trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng là khác nhau Trong thời hạn đó, thẩm phán phải nghiên cứu hồ sơ và ra được quyết định cần thiết (Điều 151 BLTTHS), trong đó

có thể là quyết định đình chỉ vụ án Mặc

dù quy định về thẩm quyền nghiên cứu

hồ sơ như trên là chưa chặt chẽ, dễ dẫn

đến sự hiểu lầm là trong mọi trường hợp chỉ có thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa mới có quyền và nghĩa vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi xét xử

Trang 5

còn những thẩm phán khác (trong trường

hợp hội đồng xét xử sơ thẩm gồm nhiều

thẩm phán) không có trách nhiệm nghiên

cứu hồ sơ Thực tế, nếu không nghiên cứu

hồ sơ trước khi xét xử thì không thể xét

xử có hiệu quả được Việc quy định cho

thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền

quyết định đình chỉ vụ án là khẳng định

vị trí của người thẩm phán đó trong thành

phần hội đồng xét xử Vấn đề là thẩm

phán ra quyết định đình chỉ vụ án dựa vào

những căn cứ nào? Theo chúng tôi, quy

định về căn cứ để thẩm phán ra quyết

định đình chỉ vụ án tại Điều 155 BLTTHS

hiện hành chỉ bao gồm các trường hợp

quy định tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7 Điều

89 BLTTHS là chưa đầy đủ vì các lẽ sau:

Thứ nhất: Trong thời hạn nghiên cứu

hồ sơ, thẩm phán phải nghiên cứu, xem

xét tất cả các tài liệu có trong hồ sơ, cân

nhắc, xác định các điều kiện cần thiết để

ra các quyết định sao cho phù hợp Thẩm

phán có thể phát hiện ra những trường

hợp có đủ điều kiện để miễn trách nhiệm

hình sự theo quy định của luật hình sự mà

cơ quan điều tra, viện kiểm sát đ@ không

phát hiện ra hoặc không sử dụng làm căn

cứ đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án trong

các giai đoạn tố tụng trước đó Ví dụ: Do

sự chuyển biến của tình hình mà người

phạm tội và hành vi phạm tội không còn

nguy hiểm cho x@ hội nữa (đoạn 1 khoản

1 Điều 48 BLHS); trước khi tội phạm bị

phát giác, người phạm tội đ@ tự thú, khai

báo thành khẩn về hành vi phạm tội của

mình và đồng bọn (nếu có), đ@ cố gắng

hết sức để hạn chế những hậu quả xấu

cho hành vi phạm tội gây ra (đoạn 2

khoản 1 Điều 48 BLHS) Theo chúng tôi,

trong những trường hợp nói trên, thẩm

phán có quyền ra quyết định đình chỉ vụ

án

Thứ hai: Nếu vụ án được khởi tố theo

yêu cầu của người bị hại mà họ rút yêu

cầu khởi tố trước khi mở phiên tòa thì vụ

án bị đình chỉ trừ trường hợp cần thiết phải khởi tố (khoản 2 Điều 88 BLTTHS)

Do vậy, nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét

xử mà người bị hại rút yêu cầu thì đó là căn cứ để thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án Nhưng thực tiễn lại đặt ra vấn

đề phức tạp là người bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố bao nhiêu lần? Giả sử họ

đ@ rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn truy tố (không được viện kiểm sát chấp nhận),

đến giai đoạn xét xử họ lại rút yêu cầu cầu khởi tố và việc rút yêu cầu đó là chính đáng và hoàn toàn tự nguyện thì tòa

án có chấp nhận để đình chỉ vụ án không? Theo chúng tôi, quy định về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại chủ yếu nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho người này, do vậy họ có thể rút yêu cầu khởi tố bất cứ lúc nào (trong tất cả các giai đoạn tố tụng như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm) Họ rút yêu cầu ở bất kì giai đoạn tố tụng nào thì cơ quan tiến hành tố tụng cũng đều phải xem xét

để quyết định chấp nhận hay bác bỏ việc rút yêu cầu, nếu việc rút yêu cầu của họ không được chấp nhận trong giai đoạn này họ có thể thực hiện quyền đó ở giai

đoạn tiếp sau miễn là việc rút yêu cầu đó thực hiện trước khi mở phiên tòa sơ thẩm Thứ ba: Điều 156 BLTTHS quy định viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị tòa án đình chỉ vụ án khi thấy có căn cứ quy định tại

Điều 89 BLTTHS hoặc khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nhưng vấn đề đặt ra là ai sẽ là người ra quyết định này thì lại không có quy định

cụ thể Theo hướng dẫn tại phần III Thông tư liên ngành số 01/TTLN của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao về vấn đề xem xét việc rút truy tố, tại mục 1 có ghi: "Trước khi

mở phiên tòa, nếu viện kiểm sát rút toàn

Trang 6

bộ quyết định truy tố thì hội đồng xét xử

ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu rút một

phần thì hội đồng xét xử chỉ xét xử phần

không bị rút truy tố " Theo chúng tôi,

hướng dẫn như trên là chưa thực tế vì thời

điểm trước khi mở phiên tòa là thời điểm

chuẩn bị xét xử, công việc chủ yếu do

thẩm phán thực hiện Trong trường hợp

chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì

không có cơ sở để triệu tập hội đồng xét

xử được Giả sử đ@ có quyết định đưa vụ

án ra xét xử thì việc triệu tập hội đồng xét

xử để chỉ giải quyết vấn đề đó là không

cần thiết Hơn nữa, luật tố tụng hình sự

không cấm việc gặp gỡ và trao đổi giữa

thẩm phán nghiên cứu hồ sơ với kiểm sát

viên sẽ giữ quyền công tố tại phiên tòa

Thiết nghĩ, nếu cần đình chỉ vụ án theo

quyết định rút truy tố của viện kiểm sát

thì chỉ cần có sự nhất trí giữa thẩm phán

và kiểm sát viên là đủ, do vậy nên quy

định thẩm phán có quyền ra quyết định

đình chỉ vụ án trong trường hợp này

Ngoài ra, có sự bất hợp lí trong quy

định tại Điều 155 BLTTHS Sự bất hợp lí

này không rơi vào quy định về đình chỉ

vụ án mà ở trong quy định về căn cứ ra

quyết định tạm đình chỉ vụ án trong giai

đoạn chuẩn bị xét xử Chúng tôi muốn đề

cập vấn đề này vì nội dung của Điều 155

lại quy định về hai quyết định đình chỉ và

tạm đình chỉ vụ án mà thẩm phán có thể

đưa ra

Về quyết định tạm đình chỉ vụ án,

Điều 155 BLTTHS quy định: "Thẩm phán

ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có

căn cứ quy định tại Điều 135 " Điều

135 BLTTHS quy định 3 căn cứ để cơ

quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ

điều tra, đó là:

a) Bị can mắc bệnh tâm thần hoặc

bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của

hội đồng giám định pháp y;

b) Chưa xác định được bị can;

c) Không biết rõ bị can đang ở đâu Nếu đưa cả 3 trường hợp nói trên làm căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì không chính xác, trường hợp b không thể có trong giai đoạn xét xử được vì nếu chưa xác định được bị can thì sẽ không có vấn

đề truy tố đối với bị can đó Theo chúng tôi, chỉ có thể sử dụng căn cứ quy định tại

Điều 135 BLTTHS làm căn cứ ra quyết

định tạm đình chỉ vụ án ở hai trường hợp

a và c mà thôi

Vì những lẽ trên, chúng tôi đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 155 BLTTHS như sau:

“Điều 155: Quyết định đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án:

Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ

vụ án khi có căn cứ:

- Bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của hội

đồng giám định pháp y;

- Không biết rõ bị can đang ở đâu Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ

án khi có một trong những căn cứ quy

định tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7 Điều 89 Bộ luật này hoặc trường hợp người bị hại rút yêu cầu khởi tố; viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa hay xác định trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật này”

b Quyết định đình chỉ vụ án tại phiên tòa Theo quy định tại Điều 173 BLTTHS về việc ra bản án và quyết định của tòa án thì hội đồng xét xử có quyền ra quyết

định đình chỉ vụ án thành văn bản sau khi thảo luận và thông qua tại phòng nghị án

(Xem tiếp trang 54)

Ngày đăng: 21/02/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w