Để phát huy vai trò của hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng kinh tế, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng cần
Trang 130 - tạp chí luật học
Một số ý kiến về sửa đổi pháp lệnh hợp đồng kinh tế
ThS Nguyễn Thị Khế *
1 Trong nền kinh tế thị trường, sản
phẩm làm ra là để trao đổi, mua bán, do
đó hợp đồng kinh tế có vai trò hết sức
quan trọng Nó là hình thức pháp lí của
mối quan hệ kinh tế, quan hệ hàng hóa-
tiền tệ giữa các chủ thể kinh doanh Hợp
đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trường
không còn là công cụ của Nhà nước trong
việc xây dựng và thực hiện kế hoạch như
trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
và bao cấp nữa mà là công cụ của chính
các chủ thể kinh doanh để họ trao đổi
hàng hóa, thực hiện dịch vụ nhằm mục
đích kinh doanh Hợp đồng kinh tế trở về
với bản chất của hợp đồng - sự thỏa thuận
của các bên trong việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trên cơ
sở tự nguyện, bình đẳng và không trái
pháp luật
2 Để phát huy vai trò của hợp đồng
kinh tế trong nền kinh tế thị trường, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
trong quan hệ hợp đồng kinh tế, bảo vệ
lợi ích của người tiêu dùng cần phải có sự
can thiệp đúng mức của Nhà nước vào
các quan hệ hợp đồng kinh tế thông qua
hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ,
đặc biệt là pháp luật kinh tế phù hợp với
quy luật phát triển và đòi hỏi khách quan
của nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN ở nước ta
Trước mắt, cần phải sửa đổi ngay
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và những văn
bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh này
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được ban
hành vào thời kì đầu của công cuộc đổi mới (25/9/1989) khi mà cơ cấu của nền kinh hàng hóa của chúng ta còn chưa
định hình, tri thức của chúng ta về nền kinh tế thị trường còn thiếu, tư duy pháp
lí về nền kinh tế thị trường còn bị hạn chế Do đó, trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế còn có những quy định mang "dấu ấn" của cơ chế cũ và đến nay đ^ bộc lộ những điểm yếu, nhiều quy định không còn phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn sống động của nền kinh
tế thị trường Nhiều vấn đề quy định còn quá sơ sài, mâu thuẫn Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu một cách nghiêm túc nhằm tìm ra giải pháp tốt nhất cho việc sửa đổi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế Pháp lệnh hợp đồng kinh tế mới phải là văn bản
kế thừa được những quy định thích hợp của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hiện hành cũng như của những văn bản pháp luật khác về hợp đồng kinh tế như tiếp tục khẳng định nguyên tắc tự do hợp đồng,
đảm bảo quyền chủ động của các chủ thể kinh doanh trong việc thỏa thuận nội dung của hợp đồng nhưng không được trái với pháp luật Bên cạnh đó, cần sửa
đổi các quy định không còn phù hợp với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần của nước ta hiện nay như quy định về chủ thể hợp đồng kinh tế, quy định về hình thức của hợp đồng và cần bổ sung những quy định mới như các quy định về sự hình
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2thành của hợp đồng, thời điểm hình thành
của hợp đồng, quy định về chuyển quyền
sở hữu và về việc gánh chịu rủi ro đối với
hàng hóa trong quan hệ hợp đồng kinh tế
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế mới phải
phản ánh được cơ chế quản lí kinh tế mới
của Nhà nước Đó là cơ chế quản lí của
Nhà nước bằng pháp luật, chính sách và
các công cụ khác đối với nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo định hướng
XHCN Có như vậy mới điều chỉnh được
một cách tốt nhất quan hệ hợp đồng kinh
tế trong cơ chế kinh tế mới, tăng cường
vai trò của hợp đồng kinh tế trong nền
kinh tế thị trường
3 Bộ luật dân sự nước ta đ^ được ban
hành và có hiệu lực pháp luật Đây là điều
kiện thuận lợi đối với việc sửa đổi bổ
sung Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hiện
nay Việc sửa đổi bổ sung Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế cần dựa trên những quy định
về hợp đồng dân sự trong Bộ luật dân sự
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế chỉ cần quy
định những vấn đề đặc trưng của quan hệ
hợp đồng kinh tế Còn những vấn đề
chung về hợp đồng mà Bộ luật dân sự đ^
quy định thì không phải quy định lại mà
chỉ cần có điều khoản chỉ dẫn sang Bộ
luật dân sự
4 Trước hết phải xác định rõ phạm vi
điều chỉnh của Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế Những hợp đồng nào là hợp đồng kinh
tế và thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp
lệnh hợp đồng kinh tế Hiện nay, chúng ta
đ^ có Bộ luật dân sự điều chỉnh quan hệ
tài sản trong giao lưu dân sự, Luật thương
mại điều chỉnh quan hệ tài sản trong hoạt
động thương mại giữa các thương gia
hoặc một bên là thương gia Vậy còn
quan hệ tài sản nào Pháp lệnh hợp đồng
kinh tế cần phải điều chỉnh Vấn đề này
cần làm sáng tỏ để khỏi có những quy
định chồng chéo với các quy định của Bộ luật dân sự và Luật thương mại hoặc bỏ sót những quan hệ tài sản cần phải được
điều chỉnh Để xác định được phạm vi
điều chỉnh của Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế cần xác định được đối tượng điều chỉnh của nó Đó là quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh nào? Các nhà khoa học pháp
lí nước ta hiện nay đều cho rằng hợp đồng kinh tế là hợp đồng được kí kết giữa các chủ thể kinh doanh nhằm mục đích kinh doanh Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế cũng đ^ định nghĩa hợp đồng kinh tế thể hiện được quan điểm này nhưng định nghĩa còn dài dòng mà vẫn không đủ, chưa mang tính khái quát Thực ra, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế không nhất thiết phải định nghĩa hợp đồng kinh tế Điều quan trọng là phải xác định rõ nó điều chỉnh quan hệ nào và giữa các chủ thể nào Theo chúng tôi, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế mới sẽ phải điều chỉnh tất cả các quan hệ hợp đồng có mục đích kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh trừ quan hệ hợp đồng giữa các thương gia đ^
được Luật thương mại điều chỉnh Chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp và cá nhân có đăng kí kinh doanh
Hợp đồng được kí kết giữa các chủ thể kinh doanh nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh đều phải coi là hợp đồng kinh
tế không phụ thuộc vào yếu tố một trong các bên có tư cách pháp nhân hay không Vì dù không có tư cách pháp nhân thì doanh nghiệp tư nhân và cá nhân kinh doanh vẫn là chủ thể kinh doanh Đ^ là chủ thể kinh doanh thì họ phải là chủ thể
kí kết hợp đồng kinh tế và là chủ thể của hợp đồng kinh tế
Thật là không logic khi hợp đồng
được kí kết giữa 2 cá nhân có đăng kí kinh doanh hay giữa 2 doanh nghiệp tư
Trang 332 - tạp chí luật học
nhân lại không được coi là hợp đồng kinh
tế (theo Điều 2 Pháp lệnh hiện hành)
trong khi chúng ta vẫn cho rằng hợp đồng
kinh tế là hợp đồng có mục đích kinh
doanh để phân biệt với hợp đồng dân sự
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hiện hành chỉ
công nhận một hợp đồng là hợp đồng
kinh tế nếu hợp đồng đó có mục đích
kinh doanh và có ít nhất một bên tham
gia là pháp nhân Điều này đ^ làm cho
phạm vi của hợp đồng kinh tế bị thu hẹp
lại Một số hợp đồng kinh tế bị loại ra
khỏi phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế kéo theo đó là những
tranh chấp từ những hợp đồng ấy cũng bị
loại ra ngoài thẩm quyền giải quyết của
tòa kinh tế
Quy định như vậy về chủ thể của hợp
đồng kinh tế là không phù hợp với nền
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Trong nền kinh tế thị trường, mọi thành
phần kinh tế, mọi chủ thể kinh doanh đều
bình đẳng trước pháp luật không phụ
thuộc vào quy mô và hình thức tổ chức,
do đó mà mọi quan hệ kinh doanh đều
phải chịu sự điều chỉnh của một chế độ
pháp lí thống nhất
Một vấn đề liên quan đến chủ thể kí
kết hợp đồng kinh tế là đại diện kí kết
hợp đồng kinh tế ở đây muốn nói ai là
người có thẩm quyền kí kết hợp đồng
kinh tế cho pháp nhân
Theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và
Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/1/1990
quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế thì người kí kết hợp đồng
kinh tế cho pháp nhân là đại diện hợp
pháp của pháp nhân (Điều 9 Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế) Đại diện hợp pháp của
pháp nhân là người được bổ nhiệm hay
được bầu vào chức vụ đứng đầu pháp
nhân đó và đương giữ chức vụ đó (khoản
2 Điều 5 Nghị định số 17/HĐBT)
Đại diện hợp pháp của pháp nhân có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác thay mình kí kết hợp đồng kinh tế Như vậy, chỉ có đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người được đại diện hợp pháp của pháp nhân ủy quyền mới có thẩm quyền kí kết hợp đồng kinh tế cho pháp nhân Quy định như vậy là hoàn toàn đúng Vấn đề cần bàn ở đây là khái niệm "đại diện hợp pháp của pháp nhân" Theo Điều 5 Nghị định số 17/HĐBT nếu chỉ có người đứng đầu của pháp nhân mới
được xem là đại diện hợp pháp của pháp nhân thì người được người đứng đầu của pháp nhân đó ủy quyền kí kết hợp đồng kinh tế cho pháp nhân không phải là đại diện hợp pháp hay sao? Nếu không phải
là đại diện hợp pháp của pháp nhân thì làm sao có thể kí kết hợp đồng cho pháp nhân được
Chúng tôi đồng ý với quan điểm của một số tác giả cho rằng khái niệm "đại diện hợp pháp" ở đây dùng chưa chính xác(1) Cụ thể hơn theo chúng tôi là chưa
đủ Đại diện hợp pháp của pháp nhân chính là người có quyền thực hiện hành vi nhân danh pháp nhân Hợp đồng kinh tế
do người được ủy quyền kí kết đúng với nội dung ủy quyền làm phát sinh quyền
và nghĩa vụ cho pháp nhân Trong quan
hệ này người được ủy quyền là đại diện hợp pháp của pháp nhân Do vậy, nên quy
định là: Người có thẩm quyền kí kết hợp
đồng kinh tế cho pháp nhân là đại diện theo pháp luật của pháp nhân hay đại diện theo sự ủy quyền Đại diện theo pháp luật của pháp nhân chính là người đứng đầu của pháp nhân (hay còn gọi là đại diện
đương nhiên, đại diện chính thức) Đại
Trang 4tạp chí luật học - 33
diện theo sự ủy quyền là người được
người đại diện theo pháp luật ủy quyền
Đại diện hợp pháp sẽ bao gồm cả đại diện
theo pháp luật và đại diện theo sự ủy
quyền Nhưng đại diện theo pháp luật
khác đại diện theo sự ủy quyền ở chỗ đại
diện theo pháp luật của pháp nhân có
quyền đại diện cho pháp nhân trong mọi
quan hệ liên quan đến pháp nhân còn đại
diện theo sự ủy quyền thì chỉ được đại
diện cho pháp nhân trong những việc
được ủy quyền Hiểu như vậy theo chúng
tôi sẽ chính xác và đầy đủ hơn Do vậy,
không nên quy định đại diện hợp pháp chỉ
là người đứng đầu của pháp nhân như
hiện nay
Vấn đề tiếp theo cần bàn là các
nguyên tắc kí kết hợp đồng kinh tế Điều
3 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hiện hành
quy định: "Hợp đồng kinh tế được kí kết
theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi,
bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, trực tiếp
chịu trách nhiệm tài sản và không trái
pháp luật" Nguyên tắc tự nguyện bình
đẳng không trái pháp luật thì không cần
phải bàn Còn nguyên tắc trực tiếp chịu
trách nhiệm tài sản và nguyên tắc cùng có
lợi theo chúng tôi cần phải xem xét lại
Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm
tài sản được hiểu là các bên tham gia
quan hệ hợp đồng phải tự mình gánh vác
trách nhiệm về tài sản gồm phạt hợp đồng
và bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi
phạm hợp đồng(2) Như vậy, trách nhiệm
về tài sản của các bên chỉ xảy ra khi đ^ có
hợp đồng và khi hợp đồng bị vi phạm
Vậy thì đây có phải là nguyên tắc kí kết
hợp đồng nữa hay không? Kí kết hợp
đồng là quá trình đàm phán giữa các bên
để thống nhất với nhau về các điều khoản
của hợp đồng, thiết lập quan hệ hợp đồng
Sau khi kí kết hợp đồng, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồng Nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ thì sẽ phải chịu trách nhiệm tài sản Do
đó, trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản không phải là nguyên tắc kí kết hợp đồng
mà là hậu quả pháp lí của việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ hợp đồng Có lẽ không có luật pháp nước nào quy định trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản là nguyên tắc kí kết hợp đồng dù đó là hợp đồng gì đi nữa
Còn một nguyên tắc nữa mà Pháp lệnh hợp đồng kinh tế cũng ghi nhận cần phải bàn đến là nguyên tắc "cùng có lợi" Đ^
gọi là nguyên tắc kí kết hợp đồng thì nếu các bên không tuân thủ hợp đồng do các bên kí kết sẽ bị vô hiệu Chẳng hạn, một bên không phải là tự nguyện mà là bị ép buộc, bị lừa dối nên đ^ kí hợp đồng hoặc những điều khoản do các bên thỏa thuận trái với pháp luật, trái với đạo đức x^ hội thì hợp đồng sẽ bị vô hiệu Còn trường hợp hai bên tự nguyện thỏa thuận với nhau, những điều khoản đó cũng không trái pháp luật nhưng một bên có lợi, một bên không có lợi thì hợp đồng có bị vô
hiệu không? Liệu bên không có lợi có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu không? Rõ ràng là không Do vậy, không nên quy định "cùng có lợi" là nguyên tắc kí kết hợp đồng kinh tế Có lợi hay không là do họ tự quyết định, không
ai bắt buộc họ kí kết hợp đồng khi họ thấy không có lợi Còn trong trường hợp
họ thiếu kiến thức mà không có lợi trong việc kí kết hợp đồng nào đó thì đây không phải là lỗi của bên cùng kí kết
Bên không có lợi không thể yêu cầu tòa
án tuyên bố hợp đồng vô hiệu được
Bộ luật dân sự nước ta cũng chỉ quy
Mấy vấn đề về…
vậy, việc ban hành luật cạnh tranh là chưa cần thiết Hai là, cho rằng cần sớm ban hành luật v
chờ đợi khi các hậu quả của nó xảy ra mới tìm cách giải quyết Mặt khác, cần phải có luật cạnh tranh thì mới bảo vệ
được quyền tự do cạnh tranh
Đúng là nền kinh tế thị trường ở nước ta mới hình thành nhưng điều đó không có nghĩa là
và chưa có cạnh tranh không lành
Trang 534 - tạp chí luật học
định 2 nguyên tắc kí kết hợp đồng tại
Điều 395 là:
"1 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức x6 hội
2 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng" Việc kí kết hợp đồng kinh tế cũng phải triệt để tuân theo những nguyên tắc
đó
Chúng tôi cho rằng có thể xác định lại các nguyên tắc kí kết hợp đồng kinh tế theo hướng đó hoặc có thể không cần thiết phải quy định nữa mà áp dụng các nguyên tắc kí kết hợp đồng dân sự Pháp luật về hợp đồng kinh tế không nhất thiết phải có những quy định về các nguyên tắc
kí kết hợp đồng khi Bộ luật dân sự đ^ quy
định và các nhà làm luật không tìm ra nguyên tắc nào đặc trưng cho việc kí kết hợp đồng kinh tế theo yêu cầu của việc kí kết hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trường Không nên quy định các nguyên tắc kí kết hợp đồng kinh tế khác với các nguyên tắc kí kết hợp đồng dân sự một cách miễn cưỡng, gượng ép, không cần thiết làm cho các quy định đó trở thành hình thức, giáo điều./
(1).Xem: Hoàng Thế Liên, Phạm Hữu Nghị, Trần Hữu Huỳnh - Hợp đồng kinh tế và vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế của nước ta hiện nay Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.25
(2).Xem: Khoa luật - Trường đại học khoa học x^ hội
và nhân văn, Giáo trình luật kinh tế Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, tr.428