Tuy nhiên, xét trên bình diện tổng quát và theo phương pháp tiếp cận hệ thống, chúng ta có thể hiểu khái niệm văn hóa pháp luật như sau: Nói một cách tổng quát, văn hóa pháp luật là tổ
Trang 1NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
"VẤN ĐỀ VĂN HÓA PHÁP LUẬT
Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Ce thời đạ! ngày nay, văn hóa có
vai tro va ý nghĩa đặc biệt, nó
"xuyên suốt cơ thể xã hội", "thấm sâu
vào tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của
con người", Cách đặt vấn đề của
UNESCO: "Văn hóa là chìa khóa của sự
phát triển" đã cho thấy rõ quan điểm về
ưu thế của văn hóa trong xu hướng vận
động và phát triển của xã hội đương đại
và tương lai, khẳng định tính tất yếu phải
đưa yếu tố văn hóa vào sự phát triển
Ở nước ta, cùng với quá trình dựng
nước và giữ nước, bằng lao động sáng tạo
và ý chí đấu tranh bên bi, kiên cường,
nhân dân ta đã xây đắp nên nền văn hóa
kết tinh sức mạnh và in đậm bản sắc của
đân tộc Việt Nam Nhờ nền tẳng và sức
mạnh văn hóa đó mà nhân dân ta đã vững
vàng vượt qua mọi khó khăn để giành và
giữ vững độc lập dân tộc, tự mình giải
phóng cho mình và phấn đấu vươn lên
xây dựng xã hội mới Nhận thức rõ điều
đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn
coi trọng việc g1ữ gìn và phát huy toàn bộ
di sản văn hóa của ông cha để lại, coi đó
là những giá trị thiêng liêng, trường tồn
Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung
ương Đảng (khóa VIII) đã ra Nghị quyết
"Về xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc”, trong đó đã khẳng định: "Văn hóa
là nên tảng tỉnh thân của xã hội, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội"? đồng thời
chỉ rõ: "Các nhân tố văn hóa phải gắn kết
PGS.PTS LÊ MINH TÂM *
chặt chế với đời sống và hoạt động xã hội
trên mọi phương diện chính trị, kinh tế,
xã hội, pháp luật, kỉ cương biến thành
nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của
sự phát triển") Như vậy, Nghị quyết V
Ban chấp hành Trung ương Đảng một mặt đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt của
văn hóa nói chung, chỉ rõ tính xuyên
suốt, thấm sâu của văn hóa trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mặt khác đã
dé ra phương châm phải gắn kết những vấn đề văn hóa với những vấn đề kinh tế -
xã hội
Pháp luật là một trong những yếu tố của văn hóa và văn hóa pháp luật là lĩnh
vực văn hóa chuyên ngành Vì vậy, để xây dựng được nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì tất yếu phải chú trọng phát triển văn hóa
pháp luật Nhìn rộng ra thế giới, chúng ta
thấy rõ xu hướng hiện nay là bên cạnh sự phát triển văn hóa phổ thông, văn hóa sản xuất, văn hóa nghề nghiệp, văn hóa giao tiếp thì các quốc gia đều rất chú trọng đến việc phát triển văn hóa chính trị và
văn hóa pháp luật Ở nước ta, xu hướng
này cũng đã hình thành Và ngày càng
- được thừa nhận rộng rãi Phát triển văn hóa pháp luật đã trở thành nhu cầu khách quan, phổ biến và cấp thiết Có thể khẳng
định rằng, trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, nếu không có trình độ văn hóa
chính trị, văn hóa pháp luật cao của công dân thì không thể xây dựng được xã hội
* Trường Đại học luật Hà Nội
Trang 2NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
thực sự dân chủ, kỉ cương, nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
Cũng như khái niệm văn hóa nói
chung, hiện nay trong khoa học pháp lí
vẫn chưa có định nghĩa kiệt về văn hóa
pháp luật Tuy nhiên, xét trên bình diện
tổng quát và theo phương pháp tiếp cận
hệ thống, chúng ta có thể hiểu khái niệm
văn hóa pháp luật như sau:
Nói một cách tổng quát, văn hóa pháp
luật là tổng thể những giá trị vật chất và -
tinh thần mà con người đã sáng tạo ra
trong lính vực pháp luật bao gồm hệ
thống quy phạm pháp luật được ban hành
trong các thời kì lịch sử, những tư tưởng,
quan điểm, luận điểm, nguyên lí, nguyên
tắc, những tác phẩm văn hóa pháp luật,
những kinh nghiệm và thói quen tích lũy
được trong quá trình xây dựng và thực thi
pháp luật Xét theo quan điểm cấu trúc :
hệ thống, văn hóa pháp luật được cấu
thành từ ba bộ phận là: Ý thức pháp luật,
hệ thống pháp luật và các phương tiện
pháp luật và khả năng, trình độ sử dụng
pháp luật để xử lí các quan hệ xã hội
nhằm thỏa mãn các nhu cầu của cá nhân
phù hợp với yêu cầu chung của xã hội
_Ý thức pháp luật là yếu tố hết sức
quan trọng của văn hóa pháp luật Ý thức
pháp luật là tiền đề tư tưởng trực tiếp để
xây dựng và hoàn thiện pháp luật, là cơ
sở bảo đảm cho việc áp dụng và thực hiện
pháp luật một cách đúng đắn trong thực
tiễn đời sống“) Trên thực tế, trước khi
xây dựng một đạo luật (văn bản pháp luật
nói chung) thì cần phải xác định rõ tư
tưởng chỉ đạo, những quan điểm và
nguyên tắc cơ bản thể hiện trong đạo luật
đó cũng như phải suy nghĩ về nội dung và
những quy phạm cụ thể sẽ ban hành Các
nhà chức trách và mọi công dân khi có sự
18 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
hiểu biết và nhận thức đúng, đầy đủ nội
dung và yêu cầu của các quy phạm pháp
luật sẽ có ý thức tôn trọng và chủ động tuân thủ, chấp hành, sử dụng và áp dụng pháp luật một cách có hiệu quả hơn trong thực tế
Ý thức pháp luật bao gồm hệ tư tưởng pháp luật (toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, quan niệm khoa học về pháp luật)
và tâm lí pháp luật (phản ánh những tâm trạng, cảm xúc, thái độ, tình cảm đối với
pháp luật và các hiện tượng pháp luật cụ
_ thể khác) Ý thức pháp luật còn thể hiện ở
động cơ hành vi, tính thần sắn sàng thực hiện những hành vi theo yêu cầu của
pháp luật
Ý thức pháp luật thể hiện ở những cấp
độ khác nhau tùy thuộc vào những điều
kiện khách quan và năng lực nhận thức
chủ quan của chủ thể nhận thức Có ý
thức pháp luật thông thường, ý thức pháp
luật lí luận và ý thức pháp luật nghề
nghiệp
- Ý thức pháp luật thông thường thể
hiện mức độ nhận thức còn hạn chế,
thông qua sự phản ánh trực tiếp, giản đơn
về các hiện tượng pháp luật Ý thức pháp
luật thông thường được hình thành dưới
sự tác động trực tiếp của những điều kiện khách quan và kinh nghiệm của cuộc sống cá nhân, trong đó yếu tố tâm lí xã hội chiếm vị trí quan trọng Ở cấp độ
nhận thức này, ý thức pháp luật nhìn
chung mới chỉ biểu hiện ở sự thừa nhận,
tiếp thu và xử sự theo sự thừa nhận và
tiếp thu đó Ví dụ, dưới sự tác động của các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật hoặc sự tự học tập, mỗi cá nhân
có thể có được sự hiểu biết và nắm được
những kiến thức pháp luật nhất định; thông qua việc tham gia vào các hoạt
Trang 3| NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI |
động như bầu cử, góp ý kiến vào các dự
án luật và trực tiếp tham gia vào các quan
hệ pháp luật cụ thể, mỗi người cũng sẽ có
được những hiểu biết và kinh nghiệm
nhất định Nhưng đó mới chỉ là sự hiểu
biết thông thường, chưa toàn diện và sâu
sắc
- Ý thức pháp luật lí luận thể hiện
trình độ nhận thức cao, có hệ thống và
sâu sắc về các vấn đề có tính bản chất
của pháp luật và các hiện tượng pháp luật
Nói cách khác, đó là sự nhận thức có căn
cứ khoa học, được hình thành trong quá
trình đào tạo, học tập, nghiên cứu một
cách có hệ thống và được kiểm nghiệm
trong thực tiễn đời sống Ý thức pháp luật
lí luận có ưu thế đặc biệt, nó là cơ sở cho
hoạt động sáng tạo pháp luật, truyền bá
tư tưởng, quan điểm pháp lí, cũng như
những hoạt động pháp luật thực tiễn
- Ý thức pháp luật nghề nghiệp là ý
thức của các luật gia và của các nhà chức
trách mà nghề nghiệp có liên quan đến
việc hoạch định chính sách pháp luật,
nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực
hiện pháp luật Ý thức pháp luật nghề
nghiệp là sự kết hợp hài hòa của những
yếu tố tư tưởng pháp luật và tâm lí pháp
luật Nó không những chỉ biểu hiện ở
trình độ hiểu biết cao về pháp luật mà
còn phản ánh trình độ nghiệp vụ, kĩ năng
sử dụng và áp dụng pháp luật vào việc
giải quyết các công việc của thực tế đời
sống
Như vậy, ý thức pháp luật thông
thường có tính phổ quát, phong phú được
đặc trưng bằng yếu tố tâm lí xã hội; ý
thức pháp luật lí luận thể hiện tính tư
tưởng và khoa học sâu sắc, toàn điện còn
ý thức pháp luật nghề nghiệp là sự kết
hợp hài hòa của hai hình thái ý thức đó
Có thể coi ý thức pháp luật nghề nghiệp
là cầu nối giữa ý thức pháp luật lí luận và
ý thức pháp luật thông thường Xét ở góc
độ văn hóa, ý thức pháp luật thông
thường góp phần tạo ra sự phong phú và
đa dạng của văn hóa pháp luật, ý thức
pháp luật lí luận quy tụ, soi sáng và định
hướng cho sự phát triển của văn hóa pháp luật, còn ý thức pháp luật nghề nghiệp
góp phần tạo ra sự-phát triển hài hòa của
văn hóa pháp luật Vì vậy, trong phát
triển văn hóa pháp luật cần chú trọng toàn diện cả ba mặt: Nâng cao ý thức
pháp luật thông thường, tăng cường ý
thức pháp luật lí luận và đề cao ý thức pháp luật nghề nghiệp
Khi xem xét vấn đề ý thức pháp luật trong mối quan hệ với văn hóa pháp luật còn cần tính đến khía cạnh chủ thể ý thức
pháp luật
Ở phương diện này ý thức pháp luật
bao gồm: Ý thức pháp luật của cá nhân, ý
thức pháp luật nhóm và ý thức pháp luật
xã hội
- Ý thức pháp luật của cá nhân phản ánh những quan điểm, tư tưởng, tâm lí, tình cảm, thái độ của mỗi người về pháp luật và đối với pháp luật Ý thức pháp luật
của cá nhân được hình thành và phát triển
do sự tác động của các yếu tố xã hội,
hoàn cảnh và điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nói chung và những điều kiện, tư chất bẩm sinh riêng của từng người như môi trường công tác, học vấn,
sức khỏe, tố chất thông minh Mỗi
người là một thực thể xã hội, vì vậy ý thức pháp luật của cá nhân hết sức phong
phú và nhiều vẻ: Nó có thể cao hoặc thấp,
tiến bộ hoặc lạc hậu, tích cực hoặc tiêu
cực, mức độ ảnh hưởng sâu rộng hoặc
hạn hẹp Ý thức pháp luật của'cá nhân là
Trang 4| NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI )
cơ sở để hình thành và phát triển văn hóa
pháp luật của cá nhân và tạo ra sự phong
phú, đa dạng của văn hóa pháp luật Vì
vậy, để phát triển văn hóa pháp luật cần
chú trọng tính đại chúng trong giáo dục
nâng cao ý thức pháp luật
- Ý thức pháp luật nhóm phản ánh
những quan điểm, tư tưởng, tình cảm,
thái độ của những nhóm xã hội nhất định
về pháp luật và đối với pháp luật Nhóm -
xã hội là tập hợp người có những nét
tương đồng về điều kiện làm việc và sinh
hoạt, mục đích, nhu cầu và lợi ích cơ
bản nên về ý chí, nhận thức cũng có
những đặc điểm chung tương đối thống
nhất với nhau và hình thành ý thức nhóm
Ý thức pháp luật nhóm gạt ra ngoài
những khác biệt cá nhân và chỉ giữ lại
những nét chung điền hình, đặc trưng cho
tư tưởng, quan điểm, tâm lí và thái độ của
cộng đồng nhóm, vì vậy nó thể hiện tính
khái quát cao hơn, sâu sắc hơn và có ảnh
hưởng rộng hơn ý thức pháp luật của cá
nhân Trong phát triển văn hóa pháp luật,
việc giáo dục nâng cao ý thức pháp luật
nhóm có ý nghĩa rất lớn, vì nó giữ vai trò
trung gian giữa ý thức pháp luật của cá
nhân và ý thức pháp luật xã hội
- Ý thức pháp luật xã hội là ý thức đã
được kết tinh chứa đựng những tư tưởng,
quan điểm khoa học được thừa nhận và
thịnh hành trong xã hội về pháp luật và
những vấn đề cơ bản nhất của đời sống
pháp luật xã hội Khác với ý thức pháp
luật của cá nhân và ý thức pháp luật
nhóm, ý thức pháp luật xã hội thể hiện
tính khái quát ở trình độ cao và tính hệ
thống chặt chẽ Trong ý thức pháp luật xã
hội có hàm chứa những yếu tố của ý thức
pháp luật cá nhân và ý thức pháp luật của
nhóm xã hội nhưng đó là những yếu tố cơ
bản được dung hợp trong hệ thống và góp
20 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
phần tạo ra tính toàn diện của hệ thống
đó chứ không phải là tất cả Hệ thống quan điểm, tư tưởng của ý thức pháp luật
xã hội giữ vai trò định hướng và quyết định đối với ý thức pháp luật của cá nhân
và của nhóm Vì vậy, bên cạnh việc tôn trọng và chú ý tới sự phát triển ý thức pháp luật của cá nhân và của nhóm, phải đặc biệt chú trọng phát triển và nâng cao
ý thức pháp luật xã hội, đặt chúng trong
chỉnh thể và giải quyết tốt các mối liên
hệ và quan hệ giữa chúng
Pháp luật và các phương tiện pháp luật được sáng tạo ra qua các thời kì lịch
sử bao gồm: Hệ thống pháp luật, các nguyên tắc và kĩ thuật pháp lí, các thiết
chế để thực hiện và bảo vệ pháp luật là
những yếu tố quan trọng cấu thành văn
hóa pháp luật
Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại
thống nhất với nhau, được phân định
thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản
do nhà nước ban hành theo trình tự, thủ
tục và hình thức nhất định”) Hệ thống pháp luật giữ vai trò quyết định đối với quá trình hình thành và phát triển của văn
hóa pháp luật Ở mức độ nhất định có thể
nói, hệ thống pháp luật là sự biểu hiện cụ
thể của văn hóa pháp lí Thông qua hệ
thống pháp luật người ta có thể có được những thông tin cơ bản nhất về tình hình
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất
nước trong từng thời kì nhất định
Xét trong mối quan hệ với ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật vừa là đối tượng nhận thức để hình thành và phát
triển ý thức pháp luật vừa là sự hiện thực
hóa của ý thức pháp luật Vì vậy, nếu ý thức pháp luật là tiên để tư tưởng của
pháp luật, là cơ sở cho việc thực hiện và
Trang 5áp dụng pháp luật thì đến lượt mình, pháp
luật lại có tác động mạnh mẽ tới quá trình
hình thành và phát triển của ý thức pháp
luật Không có sự hiểu biết, nhận thức
sâu sắc về pháp luật thì cũng không thể
có ý thức pháp luật đúng đắn và đây đủ
Tuy nhiên, để làm cơ sở cho sự phát triển
cao của ý thức pháp luật thì hệ thống
pháp luật phải đạt tới mức độ hoàn thiện
cao với các tiêu chí cơ bản là phải bảo
đảm tính toàn diện, tính đồng bộ, tính
phù hợp và trình độ kĩ thuật pháp lí cao
của hệ thống pháp luật
Tính toàn diện của hệ thống pháp luật
thể hiện khả năng bao quát của hệ thống
pháp luật Yêu cầu chung của tính toàn
diện của hệ thống pháp luật thể hiện ở sự
đầy đủ các ngành luật, các chế định pháp
luật và quy phạm pháp luật để điều chỉnh
các quan hệ xã hội cơ bản trên tất cả các
linh vực của đời sống xã hội Tính đồng
bộ của hệ thống pháp luật thể hiện ở sự
thống nhất giữa các ngành luật, giữa các
chế định trong ngành luật và giữa các quy
phạm trong chế định, trong một ngành
luật và của cả hệ thống, loại ra ngoài
những mâu thuẫn, trùng lặp hay chồng
chéo trong bản thân hệ thống pháp luật
Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể
hiện ở chỗ, pháp luật phải phản ánh đúng
trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, nó
không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ
phát triển đó” Những quy phạm, văn
bản pháp luật lạc hậu không còn phù hợp
(quá thấp) cũng như những quy phạm,
văn bản pháp luật được ban hành đo sai
lầm, chủ quan nóng Vội, vay mượn, sao
chép, xa lạ và quá cao so với trình độ
phát triển kinh tế trong thời điểm chúng
đang tồn tại cần được loại bỏ để thay thế
bằng những quy phạm, văn bản phù hợp
Ki thuật pháp lí là tổng thể những
phương pháp, phương tiện được sử dụng
trong quá trình soạn thảo và hệ thống hóa pháp luật, chứa đựng các nguyên tắc, quy tắc khoa học nhằm tạo cho pháp luật có
đủ khả năng để điều chỉnh các quan hệ xã
hội có hiệu quả Kĩ thuật pháp lí được sử
dụng như thế nào luôn để lại dấu ấn trong
hệ thống pháp luật: Ở mức độ rõ ràng hay không rõ ràng, chính xác hay không chính xác, một nghĩa hay đa nghĩa Vì
vậy, nó cũng là tiêu chí quan trọng để
đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật và góp phần làm nên những khía cạnh của văn hóa pháp luật
Hệ thống pháp luật hoàn thiện là cơ
sở để hình thành ý thức pháp luật và tạo
ra khả năng cho chủ thể sử dụng có hiệu
quả trong thực tiễn pháp luật
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật luôn
vận động và đổi mới không ngừng Trong
quá trình vận động đó, nó sẽ loại bỏ những quy phạm, văn bản pháp luật lạc
hậu, không phù hợp và sẽ bổ sung những
hệ quy phạm và văn bản mới Xét về phương diện lí thuyết cũng như thực tiễn,
hệ thống pháp luật không có những biến
đổi toàn phần mà sự thay đổi thường chỉ
diễn ra trong giới hạn nhất định, ở một số
bộ phận của toàn bộ hệ thống Vì vậy, sự
hoàn thiện của hệ thống pháp luật chỉ có
ý nghĩa tương đối và do đó nó luôn giữ
được tính ổn định tương đối Mức độ
hoàn thiện của hệ thống pháp luật cao
hay thấp và tính ồn định của nó nhiều hay
ít luôn phụ thuộc vào các hoạt động nhận thức, đánh giá, tổng kết, hệ thống hóa và sáng tạo pháp luật trong từng thời kì,
từng thời điểm cụ thể Nếu có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tình hình kinh tế
xã hội, xác định đúng những quan hệ xã
hội cơ bản cần có sự điều chỉnh của pháp
luật và có phương pháp, biện pháp kịp
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 21
Trang 6NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI `
thời để hệ thống hóa pháp luật, đổi mới
và hoàn thiện pháp luật thì hệ thống pháp
luật sẽ đạt được mức độ hoàn thiện cao
và ngược lại
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật là
hoạt động hết sức phức tạp và khó khăn
cần có những điều kiện và yếu tố tương
ứng, trong đó những nguyên tắc pháp lí
g1ữ vali trò rất quan trọng Những nguyên
tắc pháp lí như nguyên tắc công bằng,
dan chu, nhân đạo, vì con người, tôn
trọng tính tối cao của hiến pháp và luật -
là những nguyên lí, những tư tưởng chỉ
đạo được đặt ra làm cơ sở và định hửớng
cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp
luật Vì vậy, nếu xác định và quán triệt
được những nguyên tắc đó thì công tác
xây dựng và hoàn thiện pháp luật sẽ đạt
được kết quả, chất lượng và hiệu quả cao
Mặt khác, các nguyên tắc pháp lí còn có
ý nghĩa đối với quá trình hình thành động
cơ hành vi, làm cơ sở cho công tác giáo
dục nâng cao ý thức pháp luật, tổ chức
thực hiện và áp dụng pháp luật có hiệu
quả Thực tiễn pháp luật đã cho thấy, các
nguyên tắc pháp lí luôn là cơ sở quan
trọng cho các chủ thể pháp luật và chủ
thể hành vi pháp luật xử lí đúng những
vấn đề, những mối quan hệ khi hệ thống
pháp luật còn có những khoảng trống
(thiếu pháp luật) những mâu thuẫn chồng
chéo (không đồng bộ, chấp vá) hoặc
không phù hợp với đặc điểm và tính chất
của các quan hệ xã hội cần có sự điều
chỉnh của pháp luật Vì vậy, bên cạnh
việc phải chú trọng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật nói chung thì việc nghiên
cứu để xác định và xây dựng một hệ
thống nguyên tắc pháp lí cũng cần được
quan tâm đúng mức, coi đó là trong
những dấu hiệu cơ bản của văn hóa và
văn minh pháp luật
22 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
Cùng với hệ thống pháp luật, các
nguyên tắc pháp lí, hệ thống thiết chế với
tư cách là công cụ để thực hiện và bảo vệ
pháp luật cũng giữ vai trò rất quan trọng
trong việc xây dựng và phát triển ý thức
pháp luật nói riêng và văn hóa pháp luật nói chung Những thiết chế này được xây
dựng dựa trên cơ sở các quy định của
pháp luật, luôn chịu sự chi phối của pháp luật nhưng đến lượt mình nó lại trở thành
phương tiện để cho các chủ thể sử dụng nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình (bảo vệ lợi ích, thể hiện ý chí, thực hiện các quyền và nghĩa vụ ) Nhà lập pháp dựa vào các nguyên tắc, quy định của pháp luật và các thiết chế tương ứng để sáng tạo pháp luật; nhà quản lí sử dụng pháp luật, các nguyên tắc, phương tiện pháp luật và quyền lực được trao để quản
lí xã hội; nhà chức trách làm việc trong các cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) sử
dụng chúng để kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, bảo đảm cho pháp
luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm
chỉnh, chính xác, xử lí nghiêm những
hành vi vi phạm pháp luật; cá nhân sử
dụng pháp luật để chủ động tham gia vào các quan hệ cụ thể như kí hợp đồng, đề nghị cơ quan hữu trách giải quyết các yêu cầu của cá nhân, thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát các cơ quan, tổ chức trong khuôn khổ pháp luật
Trình độ, năng lực thực hiện các hành
vi phù hợp với mục đích và yêu cầu của pháp luật là yếu tố có ý nghĩa và giá trị
xã hội rất lớn Có thể nói yếu tố này vừa
là hệ quả vừa là thước đo đối với ý thức pháp luật, tính hiện thực và tính hiệu quả của các công cụ, phương tiện pháp luật Bởi vì, hành vi pháp luật là hành vi đã
- được pháp luật điều chỉnh, quy định cả về mặt khách quan, những yếu tố liên quan
Trang 7
tới biểu hiện bên ngoài của hành vi và
mặt chủ quan đó là trạng thái tâm lí, biểu
hiện ở động cơ, ý chí và lí trí của chủ thể
C Mác cho rằng, ngoài hành vi của mình
ra tôi hoàn toàn không tồn tại với pháp
luật, hoàn toàn không phải là đối tượng
của nó Thông qua hành vi của chủ thể
pháp luật còn cho thấy khả năng đích
thực của pháp luật và việc sử dụng pháp
luật trên cơ sở của nhận thức và có mục
đích cụ thể Nói cách khác, trình độ,
năng lực thực hiện các hành vi phù hợp
với mục đích và yêu cầu của pháp luật thể
hiện trình độ văn hóa pháp luật của chủ
thể pháp luật một cách cụ thể
Hành vi của con người là hành vi có ý
thức, thể hiện năng lực cá nhân đặt ra
trước những mục đích, lựa chọn phương
thức thực hiện và dự liệu được kết quả và
hậu quả của hành vi đó Pháp luật có
chức năng điều chỉnh hành vi, nghĩa là
tác động vào các yếu tố chủ quan của con
người và đến lượt mình hành vi của chủ
thể làm cho pháp luật trở thành hiện thực
Ý nghĩa xã hội của hành vi hợp pháp
biểu hiện ở chỗ, một mặt nó nói lên động
cơ hành vi của chủ thể, mặt khác nó phản
ánh nhu cầu tiến bộ của xã hội, nói lên sự
hài hòa ở những mức độ khác nhau giữa
lợi ích xã hội mà pháp luật phản ánh với
lợi ích cá nhân, giữa nhu cầu của nhà
nước và nhu cầu của cá nhân công đân,
có tác dụng làm ổn định xã hội và tăng
cường ý thức tôn trọng pháp luật Vì vậy,
hành vi hợp pháp thể hiện trình độ văn
hóa pháp luật cao và được pháp luật bảo
Vệ
Khả năng và trình độ thực hiện hành
vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật
phản ánh trình độ văn hóa pháp luật,
trong việc xử lí hài hòa giữa hai mặt -
thỏa mãn những nhu cầu, lợi ích và thực
hiện những nghĩa vụ pháp lí ˆtương ứng
Cũng chính ở đây, văn hóa pháp luật được thể hiện một cách rõ nét ở sự tác động tương hỗ của cả ba yếu tố hợp thành
nó
Như vậy, văn hóa pháp luật được hình
thành từ ba yếu tố: Ý thức pháp luật, hệ
thống và các phương tiện pháp luật và
trình độ, khả năng sử dụng pháp luật để
thực hiện các hành vi hợp pháp Các khía
cạnh của văn hóa pháp luật được phản ánh thông qua từng yếu tố nhưng sự biểu hiện toàn thể của nó chỉ có được thông qua sự hợp nhất hài hòa và tương tác của
cả ba yếu tố đó Để đánh giá về tính chất
và trình độ văn hóa pháp luật thì một mặt phải xem xét tính chất và trình độ của
mỗi yếu tố hợp thành nó, mặt khác lại phải đặt chúng trong thể thống nhất và xem xét cụ thể những mối liên hệ và sự
tương hợp giữa chúng
Những năm vừa qua, việc xây dựng và
phát triển văn hóa pháp luật ở nước ta đã
được Đảng và Nhà nước quan tâm và ngày càng thu hút sự chú ý của đông đảo
các tầng lớp nhân dân Trình độ văn hóa
pháp luật của cán bộ và nhân dân đã được
nâng lên đáng kể, nhất là trong giai đoạn
12 năm đổi mới vừa qua Tuy nhiên, so
với nhu cầu củng cố và mở rộng dân chủ,
xây dựng nhà nước pháp quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì sự phát triển đó còn
chưa tương xứng
Trong giai đoạn hiện nay và những
năm tới, để tạo ra bước chuyển biến
mạnh mẽ trong việc xây dựng và phát
triển văn hóa pháp luật, theo chúng tôi cần triển khai nhiều biện pháp đồng bộ
trên những hướng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, tạo ra sự nhận thức sâu sắc
vỀ vai trò và những giá trị xã hội của
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 23
Trang 8NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI |
pháp luật, tăng cường công tác giáo dục,
nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và ý
thức tôn trọng pháp luật trong cán bộ và
nhân dân
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế sáng tạo
pháp luật theo hướng nâng cao năng lực
của các cơ quan có chức năng xây dựng
pháp luật, nâng cao trình độ luật học và
kĩ năng lập pháp, lập quy của các cán bộ
làm công tác xây dựng pháp luật, mở
rộng dân chủ, thu hút đông đảo đội ngũ
chuyên gia tham gia vào quá trình xây
dựng pháp luật và phát huy vai trò của
nhân dân vào quá trình sáng tạo pháp
luật
Thứ ba, đẩy mạnh công tác đào tạo và
nghiên cứu luật học, kế thừa và phát huy
truyền thống và thành quả pháp luật của
nước ta qua các thời kì đồng thời học hỏi,
tiếp thu kinh nghiệm và thành tựu pháp
luật của các nước để vận dụng vào quá
trình xây dựng và thực hiện pháp luật của
Việt Nam
Thứ tư, củng cố các cơ quan bảo vệ
pháp luật, tăng cường công tác kiểm tra,
' giám sát việc thực hiện pháp luật
Thứ năm, kết hợp giáo dục pháp luật
với giáo dục đạo đức và nhân cách, nâng
cao trình độ văn hóa pháp luật và văn hóa
chung, tạo cho mỗi người có sự phát triển
toàn diện, chủ động tham gia vào đời
sống pháp luật với động cơ đúng đắn, với
nang lực và trình độ văn hóa cao./
(I) Xem: Vũ Khiêu, Bàn về văn hiến Việt Nam,
Tuyển 3, Nxb KHXH, H.1996, tr.480
(2).3) Xem: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban
chấp hành Trung ương khóa VIII Nxb Chính trị
quốc gia, H.1998, tr.55
(4) Xem: Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình lí
luận nhà nước và pháp luật Nxb Công an nhân dân,
H.1988, tr.118 - 120
(5) Xem: Trường Đại học luật Hà Nội, sđd, tr 383
(6) Xem: V.I Lênin, Toàn ráp, Tập 33 Nxb Tiến
bộ, M.1976, tr.115
24 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
Ý CHÍ TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
(Tiếp trang 9)
—— Một bên (tự mình hoặc thông qua người thứ ba) cố ý làm cho bên đối tác
hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối
tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó (giao dịch dân sự xác lập do bị lừa dối) Ví d„: A bán cho B
một bức tranh sao lại nhưng đã cố ý làm cho B hiểu đó là bản gốc
- Một bên (tự mình hoặc thông qua người thứ ba) tác động vào bên kia làm cho họ sợ hãi mà phải xác lập giao dịch
nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản
của mình hoặc của những người thân
thích (giao dịch dân sự xác lập do bị đe
doa) Vi du: A phải bán cho B xe máy vì
B dọa sẽ tiết lộ bí mật đời tư của A
- Một bên gây thiệt hại (tự mình hoặc
thông qua người thứ ba) cho bên kia (về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
với họ, người thân thích với họ) do đó họ
phải xác lập giao dịch (giao dịch dân sự
xác lập do bạo luc) Vi du: A buộc phải
cho B tiền vì B đã phá cơ sở kinh doanh
của A hoặc B đã quấy rối, ngăn cản
khách hàng đến cơ sở của A để làm ăn
Tóm lại, giao dịch dân sự là kết quả
của tự do ý chí và thể hiện ý chí của chủ
thể tham gia Ý chí của chủ thể và ý chí của Nhà nước là thể thống nhất được thể
hiện dưới hình thức nhất định trong đó ý
chí của chủ thể phải phù hợp với ý chí
của nhà nước./
(1) Xem: Những nội dung cơ bản của Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bộ tư pháp, tài liệu nghiên cứu
(2) Xem: Hoàng Phê, 7 điển tiếng Việt Nxb Đà
Nang, 1996, tr.1127