1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Tư tưởng Lê Quý Đôn về quan chế Việt Nam truyền thống" docx

7 467 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng Lê Quý Đôn về quan chế Việt Nam truyền thống
Trường học University of Social Sciences and Humanities
Thể loại Báo cáo
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 14,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Lê Quý Đôn thì triều đình nhà Lý xếp đặt quan chức đại lược phỏng theo nhà Tống, có sử dụng lẫn chế độ quan chức nước ta từ trước, sự đổi tha này không nhất định.. Còn chức trách,

Trang 1

Reino

`

TƯ TƯỞNG LÊ QUÝ ĐÔN VỀ

QUAN CHE VIET NAM TRUYEN THONG

nghiên cứu về chế độ quan chức

Việt Nam truyền thống Ngay từ thời Lê

sơ (1428 - 1527), vị vua uyên bác của

nhà Lê là Lê Thánh Tông đã cho biên

soan bộ Thiên Nam dư hạ tập với các tác

giả là những nhà nho danh tiếng như:

Thân Nhân Trung, Quách Đình Bảo, Đỗ

Nhuận, Đào Cử, Đàm Văn Lễ do đích

thân Lê Thánh Tông chủ biên Nội dung

sách ghi chép toàn bộ các điều lệ, chế độ

của nhà nước về chính trị - xã hội, kinh tế

- văn hóa, trong đó có chế độ quan chức

Cuối thế kỉ XVIHI, chúng ta thấy có

cuốn Lê triều quan chế, cuốn sách nghiên

cứu về chế độ quan chức của triều Lê,

sách này đến nay chưa xác định được ai

là tác giả

Sang thế kỉ XIX, có hàng loạt các

công trình được biên soạn, trong đó có đề

cập chế độ quan chức Việt Nam truyền

thống Có thể kể đến Quan chức chí trong

bộ Lịch triều hiến chương loại chí của

Phan Huy Chú, Quan chế khảo trong bộ

Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bảng Đó

là những công trình khảo cứu có giá tri

cho ai muốn nghiên cứu về chế độ quan

chức Việt Nam truyền thống

Nghiên cứu chế độ quan chức Việt

Nam truyền thống, chúng ta không thể bỏ

qua tác phẩm rất có giá trị của nhà bác

học Lê Quý Đôn ở thế kỉ XVIII Dé

chính là công trình khảo cứu sâu, rộng và

phong phú của ông - tác phẩm Kiến văn

tiểu lục

Kiến văn tiểu lục là tập hợp một cách

có hệ thống của Lê Quý Đôn về những

suy nghĩ, đánh giá cùng những ghi chép

10 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

PTS DANG KIM NGOC * của ông trên một số lĩnh vực khác nhau như chính ông tự nói trong lời tựa của sách: "Tỏi, lúc còn bé thích chứa sách,

lác trưởng thành ra làm quan, xem lại

sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy lúc qua san”, lai duoc giao du nhiều với bậc hiển sĩ đại phu, thêm vào đấy, phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi đi đến đâu cũng để ý tìm tòi, phầm việc gì mắt thấy tai nghe, đề dùng bút ghi

chép, lại phụ thêm lời bình luận sơ qua, giao tiểu đông đựng vào túi sách, lâu ngày tích tập, sau mới chép thành từng

thiên, chia thành 9 muục, l2 quyén " Bài viết này trình bày những nét chính trong tư tưởng của Lê Quý Đôn về chế độ

quan chức Việt Nam được ông thể hiện ở tác phẩm Kiến văn tiểu lục

Muốn nghiên cứu tư tưởng Lê Quý

Đôn về quan chức Việt Nam, trước hết và chủ yếu phải m hiểu những suy nghĩ,

đánh giá của ông về quan chế Việt Nam

được ghi chép trong Kiến văn tiểu lục

Đời xưa đã có câu: "Công việc trị dân

đều có thể lệ" Theo Lê Quý Đôn thì câu nói đó nên hiểu như là nguyên tắc bắt buộc Theo ông, "ứriều đình có thể lệ của

triểu đình, châu huyện có thể lệ châu

huyện, đều có cách cục định sẵn Thể lệ

do người đời trước sáng lập ra, mà người đời sau tuân giữ, đều tùy thời nghỉ, xưa

nay không có cách cục nhất định"©)

Lê Quý Đôn đọc nhiều, tham bác

nhiều tài liệu và ông thấy rằng mỗi thời

có một loại chế độ, thể lệ khác nhau Ông

* Viện sử học Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia

Trang 2

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỐI

nhận định: "Nước Nam ta, triéu nha Lý

có một loại chế độ, triêu nhà Trần có một

loại chế độ, từ đời Hồng Đức trở về sau

lại có một loại chế độ, lúc bắt đầu Trung

Hưng có một loại chế độ, từ năm Cảnh

Hưng trở về sau lại có một loại chế độ,

đều ty theo thời nghỉ, hợp với trị đạo, có

bao giờ giống nhau đâu"

Như vậy, trong xã hội Việt Nam

truyền thống, chế độ quan chức ở mỗi

thời mỗi khác Dưới đây sẽ tìm hiểu chế

độ quan chức thời Lý, thời Trần, thời Lê

theo cách nhìn của Lê Quý Đôn

l Theo Lê Quý Đôn thì triều đình

nhà Lý xếp đặt quan chức đại lược phỏng

theo nhà Tống, có sử dụng lẫn chế độ

quan chức nước ta từ trước, sự đổi tha

này không nhất định | da re

Khi Lý Thái Tổ lên ngôi có bổ nhiệm

các chức: Thái úy, tổng quản, xu suất xứ,

thái bảo, thái phó, tả hữu kim ngô, tả hữu

võ vệ, thiếu sư, ngự sử đại phu, đô thống

thượng tướng quân, viên ngoại lang

Đến khi vua Lý Thái Tông lên ngôi,

có bổ sung thêm các chức tam thái, tử

hữu gián nghị đại phu, thái úy, đô thống,

uy vệ thượng tướng, định thắng đại

tướng, hữu phúc tâm, tả phúc tâm, nội thị

điện tiền chỉ huy sứ, tả kiên vệ quân và

đô hộ phủ sĩ sư Ngoài ra còn có các chức

yên quốc thượng tướng quân, phụ quốc

thượng tướng quân và khuông quốc

thượng tướng quân dùng để phong cho

người cha của hoàng hậu Đó là các chức

quan bên trong (trong triều); còn các

chức quan bên ngoài (địa phương) thì có:

Châu mục, quận thú, tri châu sự và tri

quận sự

Vua Lý Thái Tông còn ban áo gấm

cho các quan chức từ hàng ngũ phẩm trở

lên và ban áo hoa cho các quan chức từ

hàng cửu phẩm trở lên

Ngoài những quan chức kể trên, Lê

Quý Đôn còn nhận thấy thời Lý có thêm

các chức: Văn minh điện học sĩ, hàn lâm học sĩ, thiếu úy, đô đốc tướng, bình

chương quân quốc trọng sự, binh bộ thị lang, hộ bộ thị lang, tả tí thị lang, hữu tỉ thị lang, trung cáp môn sứ, phụng nghị lang trung, trung thư xá nhân và đình uy Còn chức trách, nhiệm vụ của các

chức quan, Lê Quý Đôn nêu lên một số

thí dụ như: Thiếu úy, thái phó, thái sư đều có trách nhiệm giúp việc chính sự;

điện tiền chỉ huy sứ thì giữ việc cấm

binh Còn như gọi là thư gia tức là ti lai (viên lại giúp việc ở ti) gọi là hỏa đầu tức

độ trưởng Một số danh tự như đại liên

ban, thân vương ban, minh tự, trí tự đều

là tước phong không có thực quyền

Thời Lý, các quan văn, quan võ ở trong hay ở ngoài nhiệm kì phong trật quy định là 9 năm

2 Khi bàn về quan chế nhà Trần; Lê

Quý Đôn có tham khảo sách Sứ giao châu tập của tác giả Trần Cương Trung nhà

Nguyên Sách đó chép rằng: "Hai người -

giữ việc nước là thái sư và thái úy, đều dùng người trong họ tôn thất và họ ngoại,

từ chức đô úy trở xuống có kiểm pháp và

minh tự, đều là quan giữ chính quyền

Sau đến thượng thư, á khanh, hàn lâm,

phụng chỉ, phán chỉ và tam tỉ lại có chức duyệt điển tắc, chưởng pháp hình ngục,

có chức ngự sử trung tán tức là trung thừa Ở châu đặt chức yên phủ và thông

phán, ở huyện có chức đại hiêu `”),

Lê Quý Đôn đã xem xét trong sử sách

nước nhà và đi đến nhận xét rằng Trần Thái Tông đặt quan chức phần nhiều theo

chế độ của nhà Lý Còn tên gọi các chức

quan ở triều nhà Trần thì giống như chế

độ nhà Tống Cụ thể như sau: Đặt trung

thư sảnh có lệnh thị lang: đặt thượng thư

Ti TC: 7Ô §S 1T TẾ “CỔ

sảnh có tả hữu bộc xạ, tả hữu gián nghị

đại phu, lục bộ thượng thư, tả ti, hữu ti

lang trung; đặt nội mật viện, có chức phó

ti viện và đồng ti viện; đặt hành khiển ti,

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 11

Trang 3

có đại hành khiển, thượng thư tả phụ và

thượng thư hữu bật Những chức trên đây

đều là chức nhiệm then chốt Nhưng các

việc quân và việc nước thì quyền bính về

tay tôn thất vương hầu, phàm người tôn

thất vào triều giữ việc chính phủ hoặc là

thái sư, thái phó, thái bảo, thái úy, tư đồ

hoặc là tả hữu tướng quốc đều kiêm giữ

chức kiểm hiệu đặc tiến nghỉ đồng tam tư

bình chương sự Lại có ngự sử đài đại

phu và trung tán để nắm lấy phép tắc nhà

nước và kiêm giữ viện tam ti để chuyển

đệ tờ tâu và tờ phúc; có hàm lâm học sĩ

phụng chỉ để thảo thiện văn từ; có quốc

tử giám tư nghiệp để chầu chực kinh

điên; có thượng thư giữ công việc ở Quốc

tử viện; có hà đê sứ để trông coi về thủy

lợi; có đại tướng quân các vệ để giữ việc

quân ngũ

Trên đây là những quan chức ở kinh

đô Ở bên ngoài có các lộ, phủ, huyện,

châu và trấn Lộ có chức thông phán, phủ

có chức yên phủ, châu huyện có chức

chuyển vận và tuần sát, trấn có chức

phiêu kị đại tướng quân

Về sau, Trần Anh Tông đặt quan chức

khá nhiều, đến nỗi thượng hoàng Nhân

Tông phải phê vào sổ quan tịch rằng “cớ

bao giờ một nước to bằng bàn tay mà lại

dat triéu ban nhiều đến thế này?” Đến

các triểu đại Minh Tông, Dụ Tông,

Nguyễn Trung Ngạn được tin dùng, có

châm chước đổi thay, thêm bớt nhiều tên

quan cũ Nghệ Tông không bằng lòng lại

đổi lại như trước

Thể lệ của nhà Trần, dùng người

trong họ tôn thất làm tể tướng, dẫu nắm

công việc trong nước mà không cai quản

binh mã, quyền bính trong nước do quan

hành khiển giữ

3 Từ thời Lê sơ trở đi, chế độ quan

chức tương đối rõ ràng, đầy đủ Lê Quý

Đôn khảo cứu khá kĩ các tài liệu, đã trình

bày có hệ thống và kĩ lưỡng chế độ quan

12 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

chức trong từng giai đoạn của nhà Lê

Ngay từ hồi đầu, lúc mới dấy quân,

khi còn xưng là Bình Định Vương, vua

Lê Thái Tổ có đặt các chức: Thái ÚY,

thiếu úy, thiếu bảo, tư đồ, tư không, tư

mã, bình chương sự, thượng tướng quân,

tả hữu bộc xạ, lục bộ thượng thư, hàn lâm

thừa chỉ, nhập nội hành khiến, xu mật đại

sứ và thái giám

Khi Thái Tổ vào đóng ở miền phụ cận

Đông đô, chia các lộ, trấn làm 4 đạo, đặt liêu thuộc hàng văn, hàng võ ở trong và ở ngoài Đặt chức tướng quân, các thị VỆ Và

chức tuần kiểm ở cửa biển Còn vệ quân

ở các lộ, các phủ thì đều bổ quan đại thần làm kiêm trị, tổng tri và đồng tri để thống

lãnh và thi hành mệnh lệnh quân ngũ ở

các đạo đều thuộc về các quan này Nơi

trấn thủ thì có chức quan sát và phòng ngự Động sách thì có chức thủ ngữ và đoàn luyện, lộ có chức yên phủ

Sau chia trong nước làm 5 đạo Ở đạo

đặt vệ quân, trong vệ quân đặt chức tổng quản, các đạo đặt chức hành khiển, giữ số

sách quân và dân Đầu nguồn và cửa biển

đều đặt chức trấn thủ Quân cấm lữ thì có chức thiết đội ngũ quân tổng quản, ngự tiền lục quân tri quân sự: điện tiền đô hiệu điểm và đô chỉ huy, lại định chức phẩm quan văn, quan võ Dưới lộ phủ và

huyện thì đặt chức xã quan Theo Lê Quý Đôn, chế độ quan chức này là phỏng theo chế độ nhà Trần, cốt làm cho các đơn VỊ:

to nhỏ gìn giữ lẫn nhau, cấp bậc trên dưới ràng buộc lẫn nhau

Ngoài ra, Thái Tổ còn đặt ngự sử đài trung thừa và phó trung thừa, bổ chức yên

phủ ở lộ sung vào; điện trung thị ngự sử

bổ chuyển vận sứ ở huyện và giáo thụ ở

lộ sung vào giám sát ngự sử bổ thuộc

quan ở Trung thư sảnh Ngự tiền học sinh

và giáo thụ các lộ sung vào Ngự sử chủ

bạ bổ học sinh sung vào

Như vậy, nhà Lê theo chế độ của nhà

Trang 4

| NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI |

Trần, đặt ngự sử đài giữ việc xem xét

chấn chỉnh ki cương trong triều, gọi là

“ngôn quan” Nếu có việc kiện tụng lớn

thì đặc chỉ giao cho xét hỏi, còn VIỆC

ngục tụng nào cần phải xét lại thì không

giao qua ngự sử đài Vua Thái Tông hạ

chiếu rằng: “Phần quân hoặc dân có việc

kiện nhỏ thì trước hết xã quan trong ban

xã xét xứ, xá quan không xử xong mới

theo thứ tự đến lộ, đến phủ, quan phủ

không xử xong mới đến bản đạo quan đạo

không xứ xong thi sau cùng tâu lên triêu

đình Như thế đủ tỏ ra rằng việc kiện

phải xét lại không giao qua ngự sử, các

việc kiện tâu lên triểu đình thì giao viện

thẩm hình bàn xét xử đoán Trong viện

lại đặt chức quan chuyên giữ về việc kiện

tụng”

Để đề phòng những ,rường hợp

chuyên quyền, xử oan có thể xảy ra, nhà

vua lại hạ chiếu cho đại thần thái giám và

hình quan giữ về việc xét kiện phải căn

cứ vào điều chính trong luật cùng voi tdi

danh trình viên đại thần, thái giám, ngự

sử đài và các quan 5 đạo công đồng xem

qua, các quan đều nhận là đúng, bấy giờ

mới được kết án

Nhà vua còn ha lénh rang: “Néu thdy

tram có thi hành pháp lệnh hà khốc, thuế

khóa nặng nề, ngược đãi nhân dân,

thưởng phạt không công mình, không theo

phép tắc đời cổ, hoặc đại thần quan lại,

tướng hiệu quan chức trong kinh sự ngoài

các đạo có người nào không giữ phép

luật, ăn của đút, những nhiễu làm hại

lương dân, theo lòng riêng làm sự phi

pháp thì phải dâng tờ tâu đàn hặc

ngay” 6), Nhà vua lại hạ thêm: "Các quan

bàn luận công việc nên lấy việc quân,

việc dân làm cần kíp không nên theo tình

riêng"®),

Trong khoảng những năm Thiệu Bình

(1434 - 1442), Thái Hòa (1443 - 1459),

các đại thần như Đinh Cảnh An, Bùi Cảm

Hồ, Phan Thiên Tước, Nguyễn Vĩnh

Tính bàn luận công việc một cách chính đáng, trung thực, phong độ rất đẹp

dé, không những giúp vua tiến lên con đường đạo đức mà bọn công thần, võ

tướng cũng đều nể sợ không dám làm

càn Lê Quý Đôn đã ghi chép những sự

việc này một cách chi tiết và cụ thể để

cuối cùng ông đặt câu đánh giá rất xác

đáng: Đây chả phải là pháp độ đứng đắn

mà việc cốt yếu được nghiêm mật đấy ư?

Lê Quý Đôn dẫn lời Đồng Hanh phát

tâu với vua Nhân Tông mà cho rằng triều

Lê trọng dụng nhất ở ngôi té tướng và

hành khiển Thời Lê, chức tế tướng giữ cả trách nhiệm hữu nạp ngôn trong Môn hạ sảnh và đồng tham nghị trong Chính sự viện Theo Lê Quý Đôn, về cơ cấu, các

cơ quan nhà Trần phỏng theo chế độ nhà

Tống, đặt ra ba sảnh: Thượng thư sảnh

giữ công việc về quan chức, Trung thư

sảnh bàn luận việc lớn, Môn hạ sảnh xét

kí lại rồi giao cho Trung thư sảnh thi

hành, viên chức sung vào trưởng quan

trong ba sảnh đều là phụ tướng

Đến thời Lê Thánh Tông, khoảng

mên hiệu Quang thuận, đổi đô sảnh

đường làm khâm hình thượng thư, đổi tri

ngục tụng sự làm tả hữu thị lang; đổi

trung thư khoa, hải khoa, đông khoa, tây khoa, nam khoa và bắc khoa làm lại, lễ,

hộ, binh, hình và công Sáu bộ đều có đặt

chức cấp sự trung Đổi biên khoa làm thượng thư, đổi hành khiển các đạo làm

tuyên chính sứ ty, đặt các chức tham chính, tham nghị chủ sự và suy quan Sau

đặt chức thượng thư sáu bộ, đổi Khâm

hình viện làm hình bộ, đổi ngự sử trung

thừa làm đô ngự sử, đổi phó trung thừa

làm phó đô thiêm sự, đặt giám sát ngự sử

13 đạo Đặt tự khanh và thiếu khanh ở đại

lí tự, thái thường tự, quang lộc tự, thái lộc

tự, hồng lô tự và thượng bảo tự Lại đổi

tuyên chính làm thừa tuyên Đặt 13 ti, đổi

lộ làm phủ, đổi trấn làm châu, đổi chức

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 13

Trang 5

NGHIÊN CỨU - TRAO DO!

yên phủ ở lộ làm tri phủ, chuyển vận làm

tri huyện, tuần sát làm huyện thừa, xã

quan làm xã trưởng; làm số kê quán chỉ

của quân lính; đổi đặt ngự tiền ngũ quân,

thiết đột ngũ quân Quan chức ở các vệ,

các phủ và trấn thuộc ngũ đạo, nhất luật

theo thể lệ mới

Lại đặt đô đốc phủ trong ngũ quân

trung, nam, bắc, đông, tây, mỗi phủ đều

đặt chức tả hữu đô đốc, đồng tri và thiêm

sự; trong kinh đặt hai vệ cẩm y và kim

ngô, lại có 4 thần vũ, 4 vệ hiệu lực và 6

vệ điện tiền gọi là “tam tỉ” đều có các

chức đề đốc, tham đốc, chỉ huy, đô chỉ

huy, đồng tri và thiêm sự Bên ngoài đặt -

vệ sở ở các trấn đều có các chức tổng tr,

đồng tri va thiêm sự Các xứ ở sông, ở

biển đều đặt chức tuần phủ-giang quan

Trên đây là sự đổi thay về quan chế ở

thời Lê Thánh Tông mà Lê Quý Đôn ghi

chép lại Theo Lê Quý Đôn, chế độ quan

chức thời Thánh Tông đã phát triển tới

mức hoàn thiện Lê Quý Đôn đã chép lại

lời sắc dụ của nhà vua ban ra trong nước

về quan chế vào năm Hồng Đức thứ hai

(1471) đó chính là bản Hoàng triều Quan

chế nổi tiếng: “Ngày nay đất đai và dân

số so với ngày trước khác nhau rất nhiều,

tất phải tự mình giữ quyền xây dựng,

dùng hết đường lối biến thông Vậy ở

trong kinh, số quân vệ nhiều thì ngũ phủ

chia nhau cai quản Việc xu mật bận thì

lục bộ nắm lấy đại cương, cấm bình

phòng thủ tam tỉ để cô đủ người sắc như

vuốt nanh, thân như ruột thịt, lục khoa

xem xét trăm quan, lục tự thừa hành mọi

việc T¡ thông chính để tuyên dương đức ý

người trên, thấu suốt tình hình người

dưới; ngự sử, án sát để đàn hặc sự gian tà

của quan, xét rõ sự u ẩn của dân Mười

ba đạo bên ngoài, thừa t¡ và tổng binh, có

trách nhiệm đứng đầu địa phương Đô ti

thì chống giữ không chế nơi xung yếu,

các quan ở phủ, huyện, châu để gần gũi

14 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

với dân Dén bảo và cửa ải để phòng bị

ngăn ngừa bọn cướp ”), Lời sắc dụ trong Hoàng triều Quan

chế còn nêu rõ chức trách và nhiệm vụ của từng chức quan: ““Tózn lại, công việc các bộ phận phải thường liên lạc với

nhau, gìn giácho nhau cho nên bắt lính,

xuất quân là việc ở phủ đô đốc mà thể thống tất quan hệ với bộ binh Xuất kho, nhập kho là chức trách bộ hộ, mà thu chỉ tất can thiệp đến hộ khoa Bộ lại nếu cất

nhắc người bất tài, lại khoa có quyền bác

bẻ cải chính Bộ lễ bàn nghỉ lễ sai trình

tự, lễ khoa được phép hạc tâu Hình khoa kết luận những việc mà bộ hình xét hỏi

kiện sai hay đúng Công khoa xét công

việc bộ công chăm hay lười, đến như ngũ

phủ sổ sách về quân nhu để chông chất

quá nhiều, tướng súy và thiên H lựa chọn

hoặc thay đổi có phân biệt thì kinh lệnh

và thủ lĩnh đêu được phép xem xét và đàn

hặc”®),

Lê Quý Đôn bằng vào trí thức uyên

bác của mình đã đưa ra lời bình luận và

đánh giá rất xác đáng chế độ quan chức

thời Hồng Đức như sau: “XZ/ ra chế độ đặt quan ngày trước, phần nhiều tước trọng trật cao, chế độ đặt quan ngày đều

là rút bớt bổng lộc, hạ thấp phẩm trật,

chức quan có đặt nhiều hơn trước mà chỉ bổng lộc so với trước vẫn ngang nhau Như thế đã không có người ăn bám mà

cô người chịu trách nhiệm rõ ràng, làm cho chức lớn, chức nhỏ ràng buộc với

nhau, việc nặng, việc nhẹ gánh vác lẫn

nhan Ý nghĩa về chế độ đặt quan lúc bấy giờ, tỏ rõ ở đây một cách đầy đủ”? Và

Lê Quý Đôn cho rằng cách thức đặt quan

chức như vậy đại khái phỏng theo chế độ nhà Minh

4 Lê Quý Đôn cũng ghi chép khá chi

tiết và đầy đủ chế độ quan chức ở thời Lê

Trung Hưng Theo ông cho biết thì ngũ

Trang 6

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

phủ từ chức đô đốc trở xuống, chỉ dùng

làm quan hàm để viên chức theo thứ tự

tăng lên, không bổ dụng đủ số nhân viên,

không cai quản công việc nhất định; tổng

tri, đồng tri và thiêm tri ở các vệ là quan

hàm chưa được dự vào triều ban, chỉ để

thưởng cho người có công: tổng binh,

đồng tri, thiêm tri có tên quan mà không

có nhiệm vụ; đề lãnh, trấn thủ có nhiệm

vụ mà không phải là chức danh Viên

quan quản lãnh binh lính ở các cơ, các

đội, các thuyền chỉ gọi là trưởng doanh

hoặc gọi là chánh phó cai quản hoặc gọi

là chấp hiệu chánh đội trưởng Ở 13 đạo

 vợà Yn IN Ant AY

thi chi Thanh Nghệ và tứ trấn là đặt đủ

tam ti, còn các xứ Thái Nguyên, Tuyên

Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, và Yên

Quảng chỉ đạt chức trấn thủ, còn hai tỉ

thừa chính hiếm sát và phủ, huyện, châu

đều bỏ bớt đi, những chức quan ấy dùng

làm hư hàm để cho chức dưới thăng lên

mà thôi Các chức kinh lệch ở ngũ phủ,

đoán sự ở hai vệ, điển bạ, tri bạ ở các vệ,

chánh sứ, phó sứ ở các sở đồn điền, quần

mục, tàm tang đều bớt đi hết Những

chức ấy dùng làm hư hàm thưởng cho

những người trúng trường và tạp lưu; các

chức thuế vụ sứ, trạm dịch thừa, phó

chính, thị bình cũng bỏ đi cả

Như vậy là theo Lê Quý Đôn, chế độ

quan chức thời Trung Hưng so với thời

trước đã giản lược đi rất nhiều Cũng theo

Lê Quý Đôn vào thời Hồng Đức tổng

cộng các quan chức lớn nhỏ ở trong kinh

và ngoài các đạo là 5398 viên chức thì ở

thời Trung Hưng về sau chỉ vào khoảng

một phần mười Theo ông, như thế trong

nước không phí tốn về bổng lộc, nhân

dân không phiền phí về cung đốn, đều là

chính sách hay theo thời mà bỏ bớt

những việc tệ hại

5 Trong tác phẩm của mình, Lê Quý

Đôn cũng trình bày về chế độ trọng thần

và thăng chức cho quan chức nhà nước

Lê Quý Đôn chép: "Thời Hồng Đức định quan chế lấy thái sư, thái úy, thái bảo, thiếu sư, thiếu úy, thiếu bảo làm trọng

chức trong hàng đại thần; về văn giai từ cửu phẩm đến chánh nhất phẩm, vô giai

tứ tòng lục phẩm đến chánh nhất phẩm,

cứ theo thứ tự từ bậc thấp thăng dần lên

bậc cao Từ Trung Hưng trở về sau, lấy đại tư mã, đại tư đồ, đại tư không và tam

thái, tam thiếu làm quan hàm để gia

phong cho các chức trọng yếu trong hàng đại thân Còn các chức và thứ tự tăng

trật, phần nhiều thay đổi: Đem phó đô ngự sử đứng cuối hàng tả thị lang, thừa chỉ, đại học sĩ, tế tửu, thiếu đô ngự sử và

thị độc đứng cuối hàng hữu thị lang giám

sát ngự sử ở ngoại trấn thăng lên giám sát ngự sử ở nội học trấn, giám sát ngự sử

ở nội lục trấn thăng lên cấp sự trung

Hiến sát sứ thăng lên độ cấp sự trung

trong lục khoa; đô cấp sự trung trong lục

khoa thăng lên tham chính, tham chính

thăng lên lục tự khanh Lục tự khanh tăng lên hữu thị lang bộ công, hữu thị lang

thăng lên tả thị lang Người trúng trường thì do trì huyện, hoặc viên ngoại lang thăng lên hiến sát phó sử hoặc do tri huyện thăng lên chiếu khám”

Nhưng đến năm Bao Thái thứ 1

(1720) việc quy định phẩm trật và bổ dụng quan chức lại đối lại như thời Hồng

Đức Lê Quý Đôn chép: " phung mệnh

khôi phục lại chế độ cũ phẩm trật giải cấp và việc bổ dụng nhất luật theo như thể lệ đời Hồng Đức, duy quan ham ding

để gia phong cho quan chức trọng yếu

trong hàng đại thần thì theo thể lệ đời

Trung hưng"99)

6 Lê Quý Đôn còn ghi chép khá kĩ

cách thức tuyển dụng quan chức Theo ông, nhà Đường, nhà Ngu tuyển dụng

quan chức phải hỏi ý kiến mọi người Nhà Thành Chu dạy bảo trăm quan, đều

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 15

Trang 7

bảo phải suy cử Như thế, người đời xưa

chưa từng không căn cứ vào công luận

Đời Hồng Đức, định thứ tự bàn việc ở

triều đường trước hết do lục khoa và ngự

sử đài Thể lệ cũ đời Trung Hưng thăng

thụ các chức cho hoàng thân, vương thân

và các quan văn võ từ tam phẩm trở lên

đều kính dâng chỉ chuẩn ban hành, không

do bảo cử Quan văn từ tứ phẩm trở

xuống có dự triều ban đáng được thăng

thụ sung bổ các chức trong kinh ngoài

trấn; hoặc tham nghị hiến phó, nếu có

khuyết thì người trúng trường được theo

thứ tự sung bổ vào các chức này Việc

sung bổ do phủ liêu kê danh sách dâng

lên xin giao ra triều đường, bấy giờ đề

hình giám sát và lục khoa bắt đầu bàn

luận Lại khoa tuyên bố lời bàn, rồi đến

các quan khanh trong lục tự bàn luận một

lần, tả hữu thị lang bàn luận một lần, đô

ngự sử và phó đô ngự sử trong ngự sử đài

triết trung, thượng thư sáu bộ và chưởng

phủ, thự phủ trong ngũ phủ quyết đoán

Công luận đều thỏa thuận rồi thì kê tên

và khải lên phủ đường, vâng lệnh chuẩn y

ban xuống, đưa ra triều đường viết bản

tâu dâng nộp, vâng chử ngự phê, lúc ấy

lại khoa sao ra, rồi đưa sang bộ lại làm

sắc lệnh ban cho Đối với các quan trong

hàn lâm viện và đông các không dự vào

việc bảo cử nhưng nếu thấy có sự chưa

thoả đáng cũng được làm tờ khải tâu lên

Trên đây là những ghi chép của Lê

Quý Đôn về chế độ tuyển dụng quan

chức và phép bảo cử Nhưng từ năm Vĩnh

Khánh trở đi nhà nước bãi bỏ phép bảo

cử

Đối với những người mới đỗ tiến sĩ,

Lê Quý Đôn cũng ghi chép lại những quy

định của nhà nước về việc ban thưởng tư

cách và bổ dụng quan chức như $au:

Trạng nguyên được thưởng 8 tư; bảng

nhãn thưởng 7 tư; thám hoa thưởng 6 tư,

hoàng giáp 5 tư, đồng tiến sĩ 4 tư Về việc

16 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

bổ dụng thì mỗi khoa thi xong, sau khi đã

yết bảng vàng thì viên thị lang bộ lại căn

cứ vào đấy mà tư giao t¡ thuyên khảo, ti

này viết đủ quan hàm để tâu, do t¡ thông

chính dâng nộp, phụng mệnh ban hành

"khám hợp" đóng ấn của bản bộ, cử hành

lễ khâm ban ở ngoài cửa đoan môn, các viên tiến sĩ mới lại đến phủ đường đợi

lệnh, cử hành lễ phụng ban Tiến sĩ vinh quy rồi trở lại vào kinh, lúc ấy, triều đình

mới bảo cử ban cho quan chức Trao chức lần đầu: Trạng nguyên được trao chức thị giảng, bảng nhấn trao chức thị thư, thám hoa chức thị chế, hoàng giáp chức hiệu lí

Còn tiến sĩ thì từ sau khi Trung Hưng bắt

đầu trao cho chức giám sát, đến viên hiệu Bảo Thái lại theo chế độ cũ, trao cho

chức cấp sự trung, một người ít tuổi nhất

thì được trao chức hiệu thảo Người nào ứng thí chế khoa (khoa thi do vua ban ra)

mà trúng cách cũng được trao cho chức

hiệu thảo -

Trên đây, chúng tôi đã trình bày toàn

bộ những ý tưởng của Lê Quý Đôn và

những tri thức của ông về quan chế Việt Nam truyền thống Tuy không phải là

toàn bộ chế độ quan chức Việt Nam thời

cổ nhưng nó rất có giá trị đối với giới - nghiên cứu hôm nay muốn tìm về quá

khứ, có nhiều tri thức được trình bày ở

đây mà không thấy có trong các tác phẩm

khác viết về quan chế Có thể nói những

tư tưởng và những tri thức của Lê Quý Đôn về quan chế chính là một trong những đi sản quý báu của ông còn để lại

đến hôm nay./

(1) Ý nói được cha dạy bảo

(2) Xem: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II Kiến văn tiểu

lục Nxb KHXH, H.1977, tr 14 : (3) Xem: Sdd, tr 54

(4) Xem: Sdd, tr.111

(5),(6) Xem: Sđd, tr.116

(7),(8).(9) Xem: Sdd, tr.118

(10) Xem: Sđd, tr.126.

Ngày đăng: 21/02/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w