H: thống pháp luật Việt Nam và Thụy Điển có những nét tương đồng vì cả hai đều là những hệ thống luật pháp nhỏ nếu so sánh với những hệ thống pháp luật lớn trên thế giới và ngôn ngữ của
Trang 1
H: thống pháp luật Việt Nam và Thụy
Điển có những nét tương đồng vì cả
hai đều là những hệ thống luật pháp nhỏ
nếu so sánh với những hệ thống pháp luật
lớn trên thế giới và ngôn ngữ của cả hai
hệ thống pháp luật này đều không phải là
ngôn ngữ thông dụng đối với người nước
ngoài Xu hướng quốc tế hóa khiến các
luật gia Việt Nam và Thụy Điển không
thể không tiếp xúc với các hệ thống pháp
luật và các đồng nghiệp nước ngoài
Trong phần lớn các trường hợp, hệ thống
pháp luật nước ngoài của các quốc gia mà
luật gia hai nước Việt Nam và Thụy Điển
cần tiếp xúc đều thuộc các nền văn hóa
pháp luật lớn như Anh, MI, Pháp, Đức,
Nga, Trung Quốc, Hồi giáo Các nhà làm
luật thuộc các nền văn hóa pháp luật lớn
như vậy thông thường không có khái
niệm về luật pháp Việt Nam và luật pháp
Thụy Điển mà họ luôn cho rằng ngôn
ngữ của họ, các khái niệm luật pháp của
họ là có tính toàn cầu (điều này đặc biệt
đúng với các nhà làm luật thuộc hệ thống
Trường Đại học tổng hợp Lund -
Thụy Điển chấp nhận thực tế này và đưa
ra chính sách đồi hỏi tất cả các luật sư trẻ
khi ra trường phải có những hiểu biết cơ
bản về những hệ thống luật pháp lớn vừa
nêu trên Để đạt được mục tiêu này,
chương trình học của sinh viên đại học
khoa luật có một khóa học bắt buộc về
luật so sánh Do thời gian của khóa học
có hạn nên khóa học không cho phép
nghiên cứu luật nội dung mà chỉ tập trung
nghiên cứu những đặc điểm chung về cấu
VÀI SUV NGHI Vé LUAT SO SANH
GS MICHAEL BOGDAN *
trúc, nguồn luật, những khái niệm pháp
luật cơ bản, các thuật ngữ, một số nghề
luật chính, phương pháp tư duy pháp luật,
phương pháp giải thích luật, đặc điểm địa
li cua các nền văn hóa pháp luật lớn
Khóa học cũng cung cấp những tri thức
cơ bản như phương pháp nghiên cứu và
thực hành luật nước ngoài kèm theo các bài tập thực hành trong thử viện của
trường
— Tri thức về pháp luật nước ngoài có thể được khai thác cho nhiều mục đích
Luật gia Việt Nam có khách hàng là người nước ngoài hoặc có liên quan tới những hợp đồng giữa khách hàng Việt Nam và đối tác nước ngoài cần phải nghiên cứu luật nước ngoài Nhà nghiên
cứu công pháp quốc tế có thể tham khảo
hệ thống luật pháp nước ngoài khi giải thích Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế
Điều 38 đã liệt kê “các nguyên tắc pháp luật cơ bản đã được.các quốc gia văn
minh công nhận” là một trong những
nguồn luật mà tòa án quốc tế có thể viện dẫn Các nhà làm luật cũng cần nghiên cứu pháp luật nước ngoài để học hỏi kinh
nghiệm Khác với các nhà khoa học trong lính vực y học, các nhà làm luật không có
phòng thí nghiệm để thử nghiệm các ý tưởng pháp luật mới như người ta thể
nghiệm các nghiên cứu sinh học trên loài vật Tuy nhiên, hoạt động của các hệ
thống pháp luật đang tồn tại là một kho
kinh nghiệm quý báu và to lớn Tất nhiên, phải hết sức thận trọng khi “cấy
Đại học tổng hợp Lund - Thụy Điển
TẠP CHÍ LUẬT HOC - 55
Trang 2ghép” các giải & giải hấu của hệ thống pháp
luật nước ngoài vào hệ thống pháp luật
nước mình bởi lẽ một quy phạm pháp luật
có thể rất có hiệu quả trong xã hội này
nhưng không nhất thiết sẽ có hiệu quả ở
xã hội khác
Mục đích tiếp theo của việc nghiên
cứu pháp luật nước ngoài, tuy không rõ
ràng như những mục đích trước, là củng
cố và tăng cường tri thức, sự hiểu biết
chính hệ thống pháp luật nước mình 'Tôi
còn nhớ khi còn là sinh viên, rất nhiều
giáo trình và nhiều bài giảng về pháp luật
Thụy Điển nhấn mạnh tầm quan trọng
của quy phạm cụ thể nào đó, chỉ rõ rằng
quy phạm đó là hết sức cần thiết trong xã
hội văn minh và miêu tả những hậu quả
tồi tệ có thể xảy ra nếu những quy phạm
đó không tồn tại Những nghiên cứu sau
này về các hệ thống pháp luật nước ngoài
chỉ ra rằng các hệ thống pháp luật nước
ngoài đó không hề có những quy phạm
pháp luật tương tự như của chúng tôi và
diéu nay không hề gây ra khó khan
nghiêm trọng nào ở những nước không có
quy phạm đó Như vậy, việc nghiên cứu
pháp luật nước ngoài đã cho tôi cơ hội để
xem xét hệ thống pháp luật của chúng tôi
từ góc độ khác
Việc nghiên cứu pháp luật nước ngoài
cần phải hết sức thận trọng bởi vì công
việc này rất dễ phạm sai lầm cho đù
nguồn thông tin là đáng tin cậy và đã
được cập nhật Xin nêu ra ở đây một vài
điểm cần chú ý:
Sai lầm pho bién
nghiên cứu quá tin vao tu fi
quy phạm pháp luật nước ngoài Vài năm
trước đây, tôi có nói chuyện với một luật
sư nước ngoài, luật sư này hết sức lúng
túng khi đọc bản án của tòa án Thụy
Điển đăng trên báo Theo bản án này,
56 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
một công dân nước ngoài phạm trọng tội tại Thụy Điển bị kết án tù chung thân và
bị trục xuất khỏi Thụy Điển Vị luật sư này xuất phát từ một nước mà ở đó án tù chung thân nghĩa là ở tù suốt phần đời
còn lại, vì vậy anh ta đã hỏi tôi làm thế
nào có thể thực hiện lệnh trục xuất sau khi người phạm tội đã chết Tôi đã phải
giải thích cho vị luật sư đó rằng án chung
thân ở Thuy Điển trên thực tế chỉ có nghĩa là ở tù khoảng 10 năm vì Nhà nước -Thụy Điển thường tiến hành ân xá cho các tù nhân sau một khoảng thời gian nhất định Các luật sư nước ngoài nếu chỉ
dựa vào từ ngữ của Bộ luật hình sự Thụy
Điển và từ ngữ của bản án có thể hiểu sai
thực tế pháp luật Thụy Điền
Sai lầm phổ biến khác là sự hạn chế
việc nghiên cứu pháp luật nước ngoài chỉ
trong phạm vi của hệ thống pháp luật
nước đó Trên thực tế, hệ thống pháp luật nước ngoài thường có sự tương phản với
hệ thống pháp luật quốc gia của chính người nghiên cứu Cấu trúc của hệ thống
luật pháp nước ngoài, phương pháp mà các nhà lập pháp của họ sử dụng có thể khác với những gì mà nhà nghiên cứu
quen thuộc Một vấn đề ở nước này do
luật dan su (luật tư) điều chỉnh nhưng ở
nước khác lại thuộc phạm vi điều chỉnh của luật tố tụng Ví dự: Một chuyên gia
Thụy Điển về luật phúc lợi (bảo hiểm xã hội) nghiên cứu vấn đề trợ cấp tài chính của nhà nước đối với các gia đình đông con có thể dễ phạm sai lầm do tự giới hạn
việc nghiên cứu chỉ trong lĩnh vực luật phúc lợi khi xem xét các khoản trợ cấp tài chính tương tự theo luật Thụy Điển Trong luật một số nước, do một sự thận trọng nào đó, các gia đình đông con có
thể không được hưởng các nguồn trợ cấp nhưng bù lại họ có thể được giảm thuế
Trang 3LUẬT SO SÁNH -:
Luật sư Thụy Điển có thể bỏ qua việc cắt
giảm này bởi vì luật thuế Thụy Điển về
nguyên tắc không tính đến số người phụ
thuộc của người phải đóng thuế Nghĩa
là, trên thực tế, dường như sự khác biệt
giữa hai hệ thống luật pháp trong một
lĩnh vực (như luật phúc lợi) lại được bù
lại toàn bộ hoặc một phần ở ngành luật
khác (như luật thuế) Xin đưa thêm một
dẫn chứng để minh họa: Ở MI, luật tố
tụng hình sự cho phép “thỏa thuận luận
trạng”, tức là thỏa thuận giữa công tố
viên và người bị buộc tội (thường do luật
sư đại diện) Theo thỏa thuận này, công
tố viên đồng ý giảm việc truy cứu tới mức
vi phạm ít nghiêm trọng hơn, miễn là
người bị buộc tội phải nhận tội (tự thú)
Người ta ước tính rằng việc “mặc cả với
công lí” diễn ra với trên 90% trong số tất:
cả các vụ hình sự nghiêm trọng tại Mi
Điều đó dường như khiến cho nước Mĩ
trở thành thiên đường cho bọn tội phạm
vì bọn chúng thường bị trừng phạt với
một tội danh nhẹ hơn tội danh mà chúng
Đầy ra trên thực tế Sư khác biệt với luật
tố tụng hình sự châu Âu ở điều này là đo
có sự khác biệt trong luật hình sự thực
định Hình phạt theo luật hình sự của Mĩ
nặng hơn sự trừng phạt cho một tội tương
tự theo luật hình sự châu Âu Vì thế,
không phải là vô lí khi dự đoán rằng các
hình phạt theo luật Hoa Kì bao gồm một
cách có chủ định một khoảng “xoay xở”
nhất định cho mục đích “thỏa thuận luận
trạng” Một luật sư nước ngoài nếu chỉ
xem xét luật tố tụng hình sự (luật hình
thức) hoặc chỉ xem xét luật hình sự (luật
nội dung) sẽ đễ dàng phạm sai lầm
Thiếu hiểu biết về thể chế chính trị,
kinh tế, về truyền thống văn hóa và tôn
giáo của một nước mà nhà nghiên cứu,
cần tìm hiểu luật pháp cũng dễ dẫn đến những sai lầm Các luật sư nước ngoài khi thảo luận về các biện pháp chế tài tại các nước có nền kinh tế tập trung trong giai đoạn tiền đổi mới thường có xu
hướng chỉ tập trung vào luật hình sự Họ
đã bỏ qua một thực tế là tại các nước này, nhà nước là người sử dụng lao động duy
nhất, là người duy nhất có quyền sở hữu
đất đai và là người duy nhất cung cấp việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và giáo dục cho nhân dân nên nhà nước có rất
nhiều công cụ có hiệu quả hơn luật hình
sự để cưỡng chế Một ví dụ khác là luật pháp Thụy Điển bắt buộc các cơ quan sử
dụng lao động chỉ trả học phí học tiếng
Thụy Điển cho những người lao động nước ngoài mới được tuyển dụng Đạo
luật này được thông qua năm 1970, lúc
đó có rất ít người thất nghiệp tại Thụy
Điển và đạo luật này rõ ràng là nhằm
giúp đỡ những người nhập cư Nhưng tôi
biết rằng các nhà bình luận ở những nước
có tỉ lệ thất nghiệp cao sẽ cho rằng chính sách này nhằm hạn chế nhập cư bằng cách không khuyến khích các cơ quan sử dụng lao động Thụy Điển thuê nhân công
là người nước ngoài
Những gì tôi vừa trình bày về nguy cơ
hiểu sai luật nước ngoài chắc chắn không |
phải để làm nản lòng các luật gia mong muốn tìm hiểu các hệ thống pháp luật nước ngoài Tìm hiểu luật pháp nước ngoài là công việc nên làm Lợi ích của
công việc này là vô cùng to lớn và vì thế
nó xứng đáng với mọi cố gắng Điều tiếp theo nhưng không phải là điều cuối cùng cần khẳng định là nghiên cứu luật nước ngoài là hoạt động trí tuệ đáng khích lệ
và là nguồn cảm hứng vô tận./
+
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 57