Nói cách khác, hình thức chính thể là phương pháp thành lập và mối quan hệ giữa người đứng đầu nhà nước, nghị viện và chính phủ.. Nhà nước Marốc cũng mang chính thể quân chủ nhị nguyê
Trang 1
VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI |
HỈÌNH THỨC CHÍNH THỂ CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
He thức chính thể là phương thức tổ
chức và mối quan hệ giữa các cơ
quan nhà nước trung ương Nói cách
khác, hình thức chính thể là phương pháp
thành lập và mối quan hệ giữa người
đứng đầu nhà nước, nghị viện và chính
phủ
Việc xác định hình thức chính thể có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc
nghiên cứu sự điều chính của luật hiến
pháp về tổ chức và hoạt động của nhà
nước Ngược lại, việc nghiên cứu sự điều
chỉnh của luật hiến pháp về tổ chức và
hoạt động của các cơ quan nhà nước
trung ương giúp chúng ta xác định được
hình thức chính thể của mỗi nước cụ thể
Hình thức chính thể của mỗi nước thường
được ghi nhận trong hiến pháp của nước
đó Ví dụ: Điều 245, 248 Hiến pháp An
Độ năm 1950 xác định hình thức chính
thể của nhà nước Ấn Độ là cộng hòa với
nghị viện gồm hai viện; Điều | Hién
pháp Cộng hòa liên bang Nga năm 1993
quy định: "Nước liên bang Nga - nước
Nga là nhà nước pháp quyển dân chủ,
liên bang với hình thức chính thể cộng
hòa"; đoạn 3 Điều I Hiến pháp Tây Ban
Nha 1978 quy định: "Hình thức chính thể
của Nhà nước Tây Bun Nha là nhà nước
quân chủ đại nghị"; đoạn 1 Điều 2 Hiến
pháp Cộng hòa Pháp 1958 quy định:
"Nước Pháp là nhà nước cộng hòa, dân
chủ và xã hội không phân biệt tôn giáo"
40 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
PTS VŨ HỒNG ANH * Các nước trên thế giới ngày nay theo
hai loại hình thức chính thể cơ bản là quân chủ và cộng hòa Cơ sở để phân
chia là cách thức thành lập người đứng
đầu nhà nước Những nước mà người đứng đầu nhà nước do kế thừa được gọi là
nhà nước quân chủ Những nước mà
người đứng đầu nhà nước do bầu ra (nghị
viện hoặc nhân dân hoặc nghị viện cùng
với các chủ thể khác bầu) được gọi là nhà
nước cộng hòa Căn cứ vào mối quan hệ
giữa người đứng đầu nhà nước, nghị viện
và chính phủ, mỗi loại hình chính thể cơ bản nói trên lại được chia thành các loại
hình chính thể biến dạng khác Hình thức
chính thể quân chủ có quân chủ tuyệt đối, quân chủ hạn chế Quân chủ hạn chế lại được chia thành quân chủ nhị nguyên và
quân chủ đại nghị Hình thức chính thể cộng hòa có cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị, cộng hòa hỗn hợp, cộng hòa xô viết và các loại khác
Khi phân tích mối quan hệ giữa các
cơ quan nhà nước nói trên, ngoài quy
phạm luật hiến pháp, chúng ta phải xem
xét cả những quy định bất thành văn và
mối quan hệ thực tế giữa các cơ quan nhà
nước đó Ví dự: Mối quan hệ giữa nhà vua (Nữ hoàng) Anh với Nghị viện và
Chính phủ được điều chỉnh bởi luật, tập
quán pháp và án lệ; Hiến pháp Ân Độ trao
* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nước
Trường Đại học luật Hà Nội
Trang 2
mm Wires VA PHAP RT Ary NGOAI
ghơ Tổng thống Ấn Độ quyền hạn rất lớn
nhưng trong thực tế những quyền hạn này
chủ yếu do Chính phủ thực hiện Đối với
Nhật Bản và một số nước có chính thể
quân chủ đại nghị, tình hình cũng tương
tự như vậy
Có những nước mà để xác định chính
thể cộng hòa hay quân chủ lại không đơn
giản chút nào Ví d: Ở Malaysia, người
đứng đầu Nhà nước là nhà vua Ông vua
này được bầu ra bởi 9 ông vua của 9 tiểu
bang ở Malaysia với nhiệm kì 5 năm
Đứng đầu 4 bang còn lại của Malaysia là
thống đốc bang do nhân dân bầu ra, các
thống đốc bang không có quyền tham gia
vào việc bầu người đứng đầu của Nhà
nước Malaysia Do đó, có thể xác định
hình thức chính thể của Nhà nước
Malaysia là hình thức quân chủ Các tiểu
vương quốc A Rập cũng có đặc điểm
tương tự
I HÌNH THỨC CHÍNH THỂ QUÂN
CHỦ
Thuật ngữ “quán chứ" tiếng Anh là
mmonarch có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp
với nghĩa là quyền lực thuộc một người
Ngày nay, quân chủ còn được hiểu là
quyền lực do kế thừa mà có Có những
nước như Nhật Bản trước 1945, quyền lực
của nhà vua còn được thần thánh hóa,
Nhật hoàng được coi là con trời Tuy
nhiên, ngày nay vị thế của nhà vua không
phải là do ý chí của trời mà được thiết lập
bởi nhân dân và nhà vua là biểu tượng
của nhà nước và sự thống nhất của đân
tộc (Điều I Hiến pháp Nhật Bản 1946,
Điều 56 Hiến pháp Tây Ban Nha) Như
trên đã đề cập, căn cứ vào thẩm quyền và
mối quan hệ giữa nhà vua, nghị viện với
chính phủ, hình thức chính thể quân chủ
có các biến dạng sau:
1 Quân chủ tuyệt đối
Là hình thức chính thể đặc trưng của
giai đoạn cuối cùng của chế độ phong
kiến Ở hình thức chính thể này, mọi quyền lực nhà nước tập trung vào tay cá
nhân nhà vua Nhà vua tự ban hành luật, trực tiếp lãnh đạo bộ máy hành chính và
là cấp xét xử cao nhất Ở các nước Ả Rập
Xé Ut, Oman không có hiến pháp Thay thế cho đạo luật cơ bản của nhà nước là
bộ kinh thánh đạo Hồi (kinh CôRan);
không có nghị viện Quyền lực của nhà vua không những không bị hạn chế mà
còn được tăng cường bởi nhà vua còn
được coi là người cha tinh thần của dan
tộc Ở những nước này, gia đình vua
đóng vai trò quyết định các vấn để hệ trọng của nhà nước, kể cả việc quyết định
người kế thừa ngôi vua Cuộc họp gia
đình vua có thể đưa ra quyết định buộc vua đương quyền phải từ chức (điều này
đã xảy ra ở Á Rập Xé Ut) va chi định
người kế thừa ngôi vua Người này có thể
không phải là con vua mà là người trong dòng họ của nhà vua
Ngày nay, trên thế giới, ngoài hai nước nói trên còn một số nước ở Trung cận Đông, châu Phi và châu Á thiết lập hình thức chính thể này
2 Quân chủ nhị nguyên Hình thức quân chủ nhị nguyên còn
được gọi là hình thức chính thể quân chủ
hạn chế hay quân chủ lập hiến đầu tiên
Dưới hình thức chính thể này, nguyên tắc phân chia quyền lực được áp dụng ở mức
độ nhất định, tức là có sự phân chia giữa quyển lập pháp và quyền hành pháp
Quyền lập pháp (trên danh nghĩa) thuộc
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 41
Trang 3
về nghị viện Quyền hành pháp thuộc nhà
vua, nhà vua có thể thực hiện trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua chính phủ do
nhà vua thành lập Quyền tư pháp chịu
ảnh hưởng của nhà vua Mặc dù trên
danh nghĩa nhà vua không có quyền lập
pháp nhưng nhà vua có thể tác động trực
tiếp đến quá trình lập pháp thông qua
_ quyền phủ quyết tuyệt đối của mình (nha
vua không kí, luật không có hiệu lực)
Ngoài ra, nhà vua còn có quyền giải thể
nghị viện Ví d„: Đầu năm 1960, Nghị
viện Giodcdani trao cho nhà vua
Gioócđam! toàn quyền lãnh đạo đất nước
Năm 1974, Nghị viện Gioócđam bị giải
thể cho đến năm 1989 mới tổ chức tiến
hành bầu nghị viện mới" Như vậy, trong
gần 30 năm, nước Gioócđani gần như
không có nghị viện và trong những năm
đó Gioócđani mang hình thức chính thể
quân chủ tuyệt đối
Nhà nước Marốc cũng mang chính
thể quân chủ nhị nguyên, quyền lực thực
tế tập trung vào tay nhà vua Marốc nhưng
khác với Gioócđani, Nghị viện Marốc có
quyền biểu quyết không tín nhiệm Chính
phủ mà không cần sự phê chuẩn của nhà
vua (Điều 76 Hiến pháp 1972).- Ngoài ra,
Chính phủ Marốc còn phải chịu trách
nhiệm trước nhà vua
Các nước khác như Butan, Brunây,
Côoét, Kata, Các tiểu vương quốc A Rap
thong nhat vé hinh thức mang chính thé
quân chủ nhị nguyên có hiến pháp (Các
tiểu vương quốc A Rap thống nhất, Kata
có hiến pháp tạm thời do nhà vua ban
hành), có nghị viện, chính phủ phải chịu
trách nhiệm trước nghị viện Nhưng trong
thực tế, vai trò của nghị viện ở các nước
này không lớn lam Theo hiến pháp cua
Các tiểu vương quốc A Rap thong nhat va
42 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
Kata, nghị viện của các nước này chỉ đóng vai trò là cơ quan tư vấn Ngoài ra,
nghị viện thường xuyên bị giải thể Ví dự:
Ở Côoét, trong những năm 1962-1976 và
981-1986 không tồn tại nghị viện) Nhà vua gần như nắm toàn quyền điều hành
công việc nhà nước Nhà vua thành lập
một số cơ quan trực thuộc mình làm
nhiệm vụ tư vấn Thành viên của các cơ quan này chủ yếu là người thuộc dòng họ vua Như vậy, thực tế các nước nói trên
mang hình thức chính thể quân chủ tuyệt đối |
3 Quan chu dai nghi
Hình thức chính thể quân chủ đại nghị còn được gọi là hình thức chính thể quân chủ lập hiến, ngày nay được thành lập ở các nước tư bản phát triển như Anh,
Bi, Dan Mach, Ha Lan, Tay Ban Nha,
Nhật Bản, Thụy Điển và ở một số nước đang phát triển như Malaysia, Nêpan,
Campuchia, Thái Lan v.v Loại hình thức
chính thể này được hình thành trong giai đoạn chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, là kết quả của
cuộc cách mạng không triệt để của giai cấp tư sản Giai cấp tư sản không đủ
mạnh để xóa bỏ hoàn toàn những thiết
chế nhà nước của chế độ phong kiến mà
buộc phải nhượng bộ, duy trì một số thiết
chế cơ bản đặc trưng của chế độ cũ, trong
số đó có thiết chế người đứng đầu nhà nước (quốc vương)
Ở loại hình chính thể này, phát triển
nguyên tắc phân chia quyền lực, trong đó nguyên tắc quyền tối cao của nghị viện
- trước quyền hành pháp được thừa nhận Nguyên tắc này đòi bỏi chính phủ do quốc vương thành lập phải nhận được sự
tín nhiệm của nghị viện Bởi vậy, quốc
vương phải chỉ định người đứng đầu đẳng
Trang 4
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI
chiếm được đa số tuyệt đối số ghế ở nghị
-vién (ha nghị viện) làm người đứng đầu
chính phủ (thủ tướng) Người này sẽ lựa
chọn các thành viên còn lại của chính
phủ sau đó toàn bộ thành viên của chính
phủ được đưa ra để nghị viện biểu quyết
tín nhiệm Trên cơ sở sự tín nhiệm của
nghị viện, quốc vương bổ nhiệm toàn bộ
thành viên của chính phủ Trường hợp
không đảng chính trị nào chiếm được đa
số ghế nói trên, quốc vương phải chỉ định
người đứng đầu liên minh các dang
chiếm được đa số ghế làm người đứng
Dưới hình thức chính thể quân chủ lập
hiến, quyền hạn rộng lớn của quốc Vương
do chính phủ thực hiện Vì Vậy, có câu
ngạn ngữ “Nhà vua trị vì chứ không cai
tr’ (the sovereign reigns but does not ‘
govern) Quéc vuong cé quyén phii quyét
đối với những luật do nghị viện thông
qua, tuy nhiên trong thực tế quốc vương
không sử dụng quyền này bao giờ Lí do
của việc này được giải thích như sau:
Quốc vương dùng quyền phủ quyết trên
cơ sở đề nghị của chính phủ mà chính
phủ lại được thành lập bởi đẳng chính trị
(hoặc liên minh các đảng) chiếm đa số
tuyệt đối số ghế nghị viện (ha nghị viện),
do đó đường lối của chính phủ thường
phản ánh quan điểm của nghị viện Nghị
viện thông qua luật, luật này thường do
chính phủ đệ trình hoặc nếu do sáng kiến
của chính nghị viện thì nội dung của luật
đã được đưa ra th.m khảo ý kiến của
chính phủ Vì vậy, chính phủ sẽ không
bao giờ để nghị quóc vương dùng quyền
phủ quyết đối với những luật đã được
nghị viện thông cua Các văn bản do
quốc vương ban hành đều được soan thảo
bởi chính phủ và văn bản chỉ có hiệu lực
khi có chữ kí của thủ tướng hoặc của bộ
trưởng được thủ tướng ủy quyền Khi kí, thủ tướng hoặc bộ trưởng phải chịu trách nhiệm về nội dung của văn bản, bởi vì bản thân quốc vương không phải chịu bất
cứ trách nhiệm nào Ở Anh có quy định '
bất thành văn "hà vướ không thể không
dung"
Dưới hình thức chính thể này, chính
phủ phải chịu trách nhiệm trước nghị viện (ha nghị viện) về hoạt động của mình
Trường hợp nghị viện (hạ nghị viện) biểu
quyết không tín nhiệm chính phủ thì chính phủ phải từ chức hoặc quốc vương cách chức toàn bộ thành viên của chính
phủ Tuy nhiên, quyền hạn này của nghị viện (hạ nghị viện) được cân bằng bởi quyền của chính phủ (người đứng đầu chính phủ có quyền yêu cầu quốc Vương giải thể nghị viện (hạ nghị viện) và ấn
định: cuộc bầu cử mới) Như Vậy, cuối
cùng thì mâu thuẫn (tranh chấp) giữa cơ
quan lập pháp và hành pháp được dàn xếp
bởi nhân dân Trong cuộc bầu cử trước
thời hạn, nếu nhân dân ủng hộ nghị viện thì các đảng đối lập sẽ chiếm đa số ghế trong nghị viện mới, khi đó chính phủ cũ phải từ chức; nếu nhân dân ủng hộ chính
phủ thì đẳng cầm quyền (hoặc liên minh các đẳng cầm quyền) sẽ tiếp tục chiếm đa
số ghế ở nghị viện
Mô hình về mối quan hệ giữa các cơ
quan nhà nước trung ương của hình thức
chính thể quân chủ đại nghị được các
nước có chính thể cộng hòa đại nghị áp
II HÌNH THỨC CHÍNH THỂ CỘNG HOA -
Thuật ngữ "cộng hòa" tiếng Anh là
republic có nguồn gốc từ tiếng Latin là
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 43
Trang 5
Ngày nay, chính thể cộng hòa được thiết
lập ở đa số các nước trên thế giới Nước
Mi thành lập nhà nước cộng hòa ngay sau
thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng
dan tộc chống thực dân đô hộ (1787)
Nước Pháp thiết lập chế độ cộng hòa vào
năm I875 sau hai lần phục hồi chế độ
quân chủ Đa số các nước đang phát triển
ở châu Á, châu Phi, châu Mĩ đều thiết lập
chế độ cộng hòa ngay sau khi thoát khỏi
ách đô hộ của chế độ thực dân Nếu xét
về cách thức thành lập cơ quan nhà nước
trung ương thì hình thức chính thể cộng
hòa dân chủ hơn so với hình thức chính
thể quân chủ Bởi vì, dưới hình thức
chính thể cộng hòa người đứng đầu nhà
nước và nghị viện đều được thành lập
_ bằng con đường bầu cử Căn cứ vào mối
quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trung
ương, hình thức chính thể cộng hòa có
các biến dạng sau: |
1 Cộng hòa tổng thống
Hình thức chính thể cộng hòa tổng
thống lần đầu tiên trong lịch sử được thiết
lập ở Mĩ vào cuối thế kỉ XVII Tuy
nhiên, hình thức chính thể này có nhiều
nét đặc trưng riêng
Dưới hình thức chính thể cộng hòa
tổng thống, nguyên tắc phân chia quyền
lực được áp dụng triệt để Các nhánh
quyền lập pháp và hành pháp đều trực
tiếp nhận được quyền lực từ nhân dân
Đứng đầu bộ máy hành pháp là tổng
thống do nhân dân bầu ra Chế độ bầu
als cas 3h aS (Oecd nanan
dụng Øơ ostarica,
trực tiếp được áp
Mehicô, Philippin, Vênêxuela ; chế độ
bầu gián tiếp được áp dụng ở Achentina,
MI Các nước này không có chính phủ
theo đúng nghĩa (là cơ quan tập thể) mà
44 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
chỉ có các bộ trưởng chịu trách nhiệm trước tổng thống, do tổng thống bổ
nhiệm
Một trong những đặc điểm quan trọng
của hình thức chính thể này là cơ quan hành pháp không phải chịu trách nhiệm
về hoạt động của mình trước cơ quan lập
pháp Điều này có nghĩa là nghị viện không có quyền đặt vấn đề không tín nhiệm tổng thống hoặc một bộ trưởng nào đó và tổng thống không phải đặt vấn
dé tín nhiệm bản thân hay tín nhiệm bộ
máy hành pháp ra trước nghị viện, tổng
thống có quyền cách chức các bộ trưởng
theo chính kiến của mình Ngược lại,
tổng thống không có quyền giải thể nghị
viện Đây cũng là một trong những nội
dung cơ bản của hệ thống kìm chế và đối trọng Nguyên tắc phân chia quyền lực được bổ sung bởi hệ thống kìm chế và đối trọng chính là sự cải tiến theo kiểu
Mi Các nhà sáng lập Hiến pháp Mĩ 1787
xây dựng mô hình của mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực theo cơ chế giám sát
"lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau và mỗi
nhánh quyền lực có thẩm quyền liên quan với nhánh quyền lực khác Tổng thống không có quyển lập pháp nhưng có thể
tác động đến quá trình lập pháp thông
qua quyền phủ quyết của mình Bằng quyền phủ quyết, tổng thống có thể ngăn
cần quá trình lập pháp hoặc làm kéo dài
quá trình lập pháp của nghị viện Để vượt qua quyền phủ quyết của tổng thống đòi hỏi nghị viện phải có sự đoàn kết cao (2/3
- tổng số thành viên của mỗi viện của nghị viện) Trong cuộc chiến tay đôi này (giữa tổng thống và nghị viện), nghị viện
thường là kẻ chiến bại Từ năm 1789 đến năm 1989 các tổng thống Mí sử dụng
“quyển phủ quyết 1421 lần và chỉ trong
Trang 6
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI
I03 trường hợp Quốc hội MI vượt qua
được quyền phủ quyét nay” Tổng thống
chịu trách nhiệm về việc thi hành luật
Nghị viện không có quyền can thiệp vào
lĩnh vực hành pháp của tổng thống nhưng
có thể tác động đến hoạt động này thông
qua quyền biểu quyết ngân sách để cấp
kinh phí cho mọi hoạt động của bộ máy
hành pháp Nghị viện có quyền truất
quyền tổng thống, phó tổng thống, các
quan chức cao cấp trong bộ máy' hành
pháp và thẩm phán tòa án liên bang theo
thủ tục impeachment®' Thượng nghị viện
có quyền không phê chuẩn việc bổ nhiệm
các nhân viên trong bộ máy hành pháp,
thấm phán tòa án liên bang của tổng
thống Bởi vậy, trước khi bổ nhiệm một
chức danh nào đó, đặc biệt là các chức
danh hàm bộ trưởng, thẩm phán tòa án
liên bang, đại sứ, tổng thống phải thăm
dò ý kiến của thượng nghị viện về ứng cử
viên cho chức danh đó Tổng thống thay
mặt nhà nước kí kết các điều ước quốc tế
nhưng các điều ước này chỉ có hiệu lực
khi được nghị viện phê chuẩn Đây cũng
là một lĩnh vực đòi hỏi sự phối hợp hoạt
động giữa hai cơ quan lập pháp và hành
pháp Tòa án đóng vai trò là cơ quan
giám sát tính hợp hiến của các văn bản đo
nghị viện, tổng thống thông qua Tòa án
tối cao liên bang có quyền phán quyết về
tính hợp hiến của các văn bản này Quyết
định của tòa án là quyết định cuối cùng
Một học giả người Nga khi nghiên
cứu hệ thống kìm chế và đối trọng cho
rảng, hệ thống này, một mặt khuyến
khích sự hợp tác và khả năng thích ứng
với nhau của các cơ quan quyền lực nhà
nước, mặt khác lại tạo ra tiềm năng cho
các cuộc xung đột giữa chính các cơ quan
đó Tuy nhiên, để giải quyết xung đột các
~ /—
cơ quan này buộc phải dùng các biện pháp như thương lượng, thỏa thuận,
nhượng bộ?” Chính hệ thống này làm
cho các cơ quan quyền lực thường xuyên
cọ sát lẫn nhau, các mâu thuẫn sớm bộc
lộ và được giải quyết ngay ở thời kì tiềm ẩn-chưa phát ra thành xung đột chính trị Đây là một trong những cơ sở để biện giải cho sự bền vững của mô hình bộ máy
nhà nước Mĩ trong suốt hai thế kỉ qua
2 Cộng hòa đại nghị
Như đã đề cập ở trên, hình thức chính
thể cộng hòa đại nghị giống hình thức
chính thể quân chủ đại nghị ngoại trừ
phương pháp thành lập người đứng đầu
nhà nước Ở các nước có chính thể cộng hòa đại nghị, tổng thống do nghị viện hoặc nghị viện cùng với chủ thể khác bầu
ra Vi du: © Italia, Hunggari, Cộng hòa
Séc, Xlôvakia, tổng thống do nghị viện
bầu ra; ở Cộng hòa liên bang Đức, tổng thống được bầu ra bởi Bunđextác (quốc
hội) cùng với đại điện của các bang trong
liên bang Chính phương pháp thành lập người đứng đầu nhà nước này tạo ra vị
thế yếu của tổng thống ở tất cả các nước
có chính thể này Quyền lực rộng lớn của tổng thống được thực hiện bởi chính phủ, đứng đầu là thủ tướng chính phủ Đôi khi
thực tế này duoc’ quy định ngay trong
hiến phap Vi du: Phan 1 Diéu 1 (sửa đổi thứ 42, 44) Hiến pháp Ấn Độ 1950 quy định Tổng thống Ấn Độ phải hành động
theo sự cố vấn của chính phủ
Chính phủ hoạt động dựa vào sự tín nhiệm của đa số thành viên của nghị
viện Khi sự tín nhiệm này không còn
nữa thì hoặc chính phủ đặt vấn đề tín nhiệm ra trước nghị viện hoặc nghị viện
đặt vấn đề bất tín nhiệm chính phủ Khác
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 45
Trang 7
| NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI
Quốc hội, ấn định cuộc bầu cử trước thời
hạn nhưng đẳng đối lập - Đảng xã hội
vẫn chiếm ưu thế tại Quốc hội Ở nước
Nga, trước sức ép của Duma quốc gia,
trước những ảnh hưởng tiêu cực của tình
hình kinh tế - xã hội đã buộc Tổng thống
B Enxin phải tuyên bố giải thể chính phủ
vào ngày 23/3/1998
4 Cộng hòa xô viết
Hình thức chính thể cộng hòa xô viết
được thiết lập ở Liên Xô cũ, các nước xã
hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây; ở
Trung Quốc, Cu Ba, Cộng hòa dan chi
nhân dân Triều Tiên và Việt Nam hiện
nay Thuật ngữ "xô viếf” có nguồn gốc từ
tiếng Nga với nghĩa là hội đồng Cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất của Liên Xô
cũ là Xô viết tối cao; ở Trung Quốc là
Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc; ở :
Cu Ba, Việt Nam là Quốc hội
Hình thức chính thể cộng hòa xô viết
có những đặc điểm cơ bản sau: Mô hình
bộ máy nhà nước được xây dựng theo
nguyên tắc tập quyền, tập trung dân chủ
Quốc hội (đại hội đại biểu nhân dân toàn
quốc) là cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất Quốc hội không những có quyền
thông qua luật mà còn thực hiện quyền
giám sát tối cao đối với mọi hoạt động
của các cơ quan nhà nước khác, quyết
định các chính sách cơ bản về đối nội và
đối ngoại; quốc hội thành lập ra nguoi
đứng đầu nhà nước (chủ tịch nước)
Người đứng đầu nhà nước phải chịu trách
nhiệm trước quốc hội, tức là quốc hội có
quyền phế truất người đứng đầu nhà nước
theo thủ tục thông thường Người đứng
đầu nhà nước không có quyền giải thể
quốc hội; quốc hội thành lập ra chính phủ
trên cơ sở đề nghị của chủ tịch nước
Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước
quốc hội về hoạt động của mình Tuy nhiên, mô hình chính thể cộng hòa xô viết không biết đến chế định bất tín nhiệm chính phủ Các đại biểu quốc hội không có quyền đặt vain dé phế truất chính phủ mà chỉ biểu quyết trên cơ sở đề
nghị của chủ tịch nước đối với thủ tướng
chính phủ, trên cơ sở để nghị của thủ
tướng chính phủ đối với các thành viên khác của chính phủ Dưới hình thức chính
thể cộng hòa xô viết, chính phủ là cơ quan chấp hành của quốc hội Điều này
làm tăng cường vị thế của quốc hội trước chính phủ Chính phủ phải thực hiện
những quyết định của quốc hội, phải thị
hành những luật đã được quốc hội thông
qua Quốc hội có quyền trực tiếp bãi bỏ
các văn bản do chính phủ ben hành khi xét thấy những văn bản này trái với hiến pháp, luật mà không cần phải thông qua
cơ quan thứ ba (tòa án hiến pháp) Chính phủ không có quyền đề nghị xem xét tính hợp hiến của các văn bản do quốc hội thông qua Quốc hội của các nước có
chính thể cộng hòa xô viết hoạt động theo kì họp Thông thường, mỗi năm quốc hội họp 2 kì Mỗi kì họp kéo dài I |
tháng Bởi vậy, quốc hội thành lập ra một
cơ quan thường trực có tên gọi là ủy ban
thường vụ quốc hội hoặc hội đồng nhà nước để thực hiện một số quyền hạn của
quốc hội trong thời gian giữa hai kì họp
Cũng vì lí do này mà đa số các đại biểu quốc hội là đại biểu không chuyên trách,
tức là ngoài thời gian làm nhiệm vụ đại
biểu, các đại biểu quốc hội còn tham gia
các hoạt động quản lí nhà nước, quản lí kinh tế, hoạt động xã hội và các hoạt
động chuyên nghiệp khác Một đặc điểm
quan trọng của hình thức chính thể này thể hiện ở vai trò lãnh đạo của đẳng cộng
sản đối với nhà nước và xã hội nói chung,
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 47
Trang 8Eee
đốt với bộ máy nhà nước nói riêng
Ngoài bốn hình thức chính thể cộng
hòa nêu trên, chính thể cộng hòa còn có
những biến dạng khác Các biến dạng này
thường gặp ở những nước có chế độ độc
tài và chế độ này được dựng nên bởi cuộc
đảo chính quân sự Ví dụ: Ở Đức năm
1933, bang cuéc đảo chính Hítle lên nam
quyền, ở Chilê năm 1973, tướng Pinôchê
làm cuộc đảo chính quân sự lật đổ Tổng
thống Xanvado Aghendé, nam 1960 ở
Cộng hòa Cônggô, tướng Môbutu làm
cuộc đảo chính chiếm quyền và đổi tên
nước thành Cộng hòa Daia Đến năm
I997, tướng Cabila làm đảo chính lật đổ
Môbutu và đổi tên nước thành Cộng hòa
dân chủ Côngøgô j những nước này, mọi
quyền lực tập trung vào tay người đứng
đầu nhà nước Người đứng đầu nhà nước
- ban hành các sắc lệnh thay thế luật, bởi lẽ
ở các nước đó nghị viện bị giải tấn ngay
sau cuộc đảo chính quân sự (nước Đức từ
933 đến 1945, nước Cộng hòa dân chủ
Cônggô hiện nay) Trường hợp thành lập
nghị viện thì mọi hoạt động của nghị viện
đều nằm dưới sự kiểm soát của người
đứng đầu nhà nước (Chilê từ cuối năm
¡970 đến cuối năm I980) Người đứng
đầu nhà nước có thể giải tán nghị viện bất
cứ lúc nào./
(1) Xem: Luật hiến pháp của các nước dang phát
triển, tiếng Nga, Nxb Khoa học, M.1992, tr 19
(2) Xem: Chính phủ, bộ và cơ quan ngang bộ ở các
nước, tiếng Nga, Nxb Pháp lí, M 1994, tr 40
(3) Đây là thủ tục đặc biệt được áp dụng đỂ truất
quyền các quan chức nói trên trong trường hợp các
quan chức đó vi phạm luật (có học giả dịch là thủ tục
đàn hạch) Xem: Nguyên Đang Dung, Bui Xuan Dttc, |
Sdd, tr 95
(4) Xem: V.A.Xavelép, Tổng thống và nguyên tắc
phán chia quyền lực, lịch sử và hiện tại Tạp chí
nước Mi - lịch sử kinh tế - chính trị, tiếng Nga số I,
nam 1992, tr 39
- (5) Xem: Nhan dan ngay 17/6/1998
48 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
BẢN THÊM VỀ GIỚI HẠN
(Tiếp trang 39)
Từ những phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng, trong BLTTHS, vẫn cần phải có quy định về giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự với nội dung thể hiện đầy đủ quan hệ chế ước giữa viện kiểm
sát và tòa án nhưng không đi ngược lại
nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; và không mâu thuẫn với chức
năng nhiệm vụ của từng cơ quan đã được
Hiến pháp ghi nhận Mô hình của quy định này có thể là: Điều “Giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự”
1 Trước khi có quyết định đưa vụ án
ra xét xử, viện kiểm sát có thể rút một
phần hoặc toàn bộ truy tố Nếu viện kiểm
sát rút một phần truy tố, tòa án chỉ xét xử phần truy tố còn lại Nếu viện kiểm sát
rút toàn bộ truy tố, tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án
2 Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, hội đồng xét xử chỉ xét xử những bị cáo và
những hành vi đã được nêu trong quyết định đưa vụ án ra xét xử Nếu có căn cứ,
tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát có
quyền rút một phần hay toàn bộ truy tố
Trong mọi trường hợp, hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử và ra các quyết định
trên cơ sở kết quả đánh giá chứng cứ tại phiên tò Lí do của việc chấp nhận hay không chĩp nhận việc rút truy tố của đại diện viện xiểm sát phải được nêu rõ trong bản án./
(1) Về vấn c à này có thể tham khảo thêm bài “Mội
xố ý kiến về, tới hạn xét xử của tòa án” của tác giả
Giang Sơn - Tạp chí nhà nước và pháp luật số 6/1997, tr.27 - 30; bài '*Wguyên tắc độc lập xét xử và
vấn đề giới hạ,t:xét + ứ trong tố tụng hinh su‘ của tác gia Dang Quang Phuong - Ki yếu đề tài khoa học cấp
bộ, VKSNDTC 1995, tr.45 - 48
(2) Xem: Dang Quang Phuong, Sdd, tr.43.