BÀN THÊM VỀ GIỚI HẠN CỦA VIỆC XÉT XỬ SƠ THẤM VỤ ÁN HÌNH SỰ Š BLTTHS hiện hành của Nhà nước ta, Điều 170 với tên gọi "Giới hạn của việc xét xử" đã quy định: "Tòa án chỉ xét xử những b
Trang 1
BÀN THÊM VỀ GIỚI HẠN CỦA VIỆC
XÉT XỬ SƠ THẤM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Š (BLTTHS) hiện hành của Nhà nước
ta, Điều 170 với tên gọi "Giới hạn của
việc xét xử" đã quy định: "Tòa án chỉ xét
xử những bị cáo và những hành vi ‘theo
tội danh mà viện kiểm sát truy tố và tòa
án đã quyết định đưa ra xét xi" Trong
thực tế hiện nay có người gọi giới han
của việc xét xử là nguyên tắc của tố tụng
hình sự mặc dù nó không được quy định
tại chương “Những nguyên tắc cơ bản”
của BLTTH§S; và cũng có người cho rằng
đây chỉ là chế định của pháp luật tố tụng
hình sự” Theo suy nghĩ của chúng tôi,
cho dù giới hạn của việc xét xử là nguyên
tắc hay chỉ là chế định thì với sự hiện
diện của nó trong BLTTHS, nó cần được
hiểu đúng về nội dung để làm căn cứ cho
việc thực hiện (áp dụng) trong thực tiễn
Trước hết, giới hạn của việc xét xử
nêu trong Điều 170 BLTTHS là giới hạn
của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bởi
nội dung của điều luật không liên quan
tới thủ tục xét xử phúc thẩm, giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm Trong luật tố tụng
hình sự nước.ta, lần đầu tiên vấn đề giới
hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
được quy định trong BLTTHS năm 1988
Sự hiện diện của quy định về giới hạn của
việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
trọng BLTTHS có ý nghĩa lớn cả về lí
luận và kĩ thuật lập pháp luật tố tụng hình
sự Vào thời kì trước khi BLTTHS 1988
có hiệu lực, quan hệ tố tụng giữa viện
kiểm sát và tòa án trong phiên tòa xét xử
36 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
PTS PHAM HONG HAI * không được điều chỉnh bang các văn bản pháp luật có giá trị pháp lí cao như luật, pháp lệnh và đặc biệt khi giữa hai cơ quan tiến hành tố tụng nêu trên xảy ra những bất đồng ý kiến về vấn đề nào đó thuộc vụ án hình sự đang xét xử thì về cơ bản chúng được giải quyết thông qua sự thương lượng giữa lãnh đạo của hai cơ quan đang thụ lí vụ án hoặc lãnh đạo của hai cơ quan cấp trên Sự lẫn lộn giữa quan
hệ hành chính và quan hệ tố tụng trong trường hợp này thường dẫn tới việc quyết định vấn đề nào đó của vụ án không trên
cơ sở pháp luật và điều này ảnh hưởng tới hiệu quả của tố tụng hình sự Giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được quy định trong BLTTHS là sự khẳng định một trong những nội dung của quan hệ chế ước giữa viện kiểm sát
và tòa án trong tố tụng hình sự Mặc dù
nó có quan hệ với nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật nhưng giới hạn của việc xét xử sơ thấm vụ án hình sự không phải là sự thể hiện nội dung của vấn đề nguyên tắc độc lập xét xử như lo
giả Đặng Quang Phuong quan niệm“
Giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có thể hiểu là phạm vi những người, những hành vi mà hội đồng xét xử
sơ thẩm được xét xử tại phiên tòa Phạm
vi đó không phải là vô hạn mà ngược lại
nó được hạn chế bởi phạm vi những
* Viện nhà nước và pháp luật
Trung tam KITXH và nhân văn quốc gia
Trang 2
XÂY DỰNG PHÁP LUẬT |
người và những hành vi mà viện kiểm sát
đã truy tố lược cáo es va trong quyét
định đưa vụ án ra xét xử Trong tố tụng
hình sự, việc tổ chức các cơ quan tiến
hành tố tụng thành cơ quan điều tra, cơ
quan truy tố (viện kiểm sat), co quan xét
xử (tòa án) và quy định mỗi loại cơ quan
nói trên thực hiện một loại chức năng
nhất định là phù hợp với yêu cầu, nhiệm
vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm
Xuất phát từ mục đích của tố tụng hình
sự là giải quyết vụ án hình sự một cách
nhanh chóng, công minh, dung pháp luật,
bảo vệ có hiệu quả lợi ích của xã hội, các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án
có trách nhiệm phối hợp với nhau trong
quá trình tố tụng hình sự Tuy nhiên, để
tránh sự lạm quyền, bảo đảm cho tố tụng
đạt hiệu quả, không để lọt tội phạm và
không làm oan người vô tội, ngoài các
quy định thể chế hóa quan hệ phối hợp
giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, luật
tố tụng hình sự còn có những quy định
thể chế hóa quan hệ chế ước giữa chúng,
Quy định giới hạn của việc xét xử sơ
thẩm thể hiện quan hệ chế ước giữa viện
kiểm sát và tòa án ở giai đoạn tố tụng
này Việc xét xử của tòa án chỉ được tiến
hành khi có cáo trạng Tuy nhiên, điều
này hoàn toàn không có nghĩa rằng cứ có
cáo trạng của viện kiểm sát thì tòa án
phải mở phiên tòa xét xử và phải xét xử
như nội dung được nêu trong cáo trạng Ở
giai đoạn truy tố, pháp luật tố tụng hình
sự quy định viện kiểm sát sau khi nhận
(thụ l0 hồ sơ cùng bản kết luận điều tra
của cơ quan điều tra; sau khi nghiên cứu,
viện kiểm sát có thể đồng ý hoặc không
đồng ý với quan điểm của cơ quan điều
tra Trong trường hợp đồng ý, viện kiểm
sát quyết định truy tố bị can ra tòa bằng bản cáo trạng (mục a khoản I Điều 142 BLTTHS) Tuong tự như trên, ở giai đoạn xét xử, tòa án sau khi nghiên cứu hồ sơ
vụ án cùng bản cáo trạng của viện kiểm sát, nếu đồng ý với quan điểm của VIỆN |
kiểm sát nêu trong bản cáo trang, tòa an
ra quyết định đưa vụ án ra xét xử (mục a
khoản 2 Điều 151 BLTTHS) Nếu tòa án
không đồng ý, tòa án có thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay quyết định tạm đình
chỉ hoặc đình chỉ vụ án (Điều 154, 155
BLTTHS) Bằng các quy phạm pháp luật nêu trên, BLTTHS pháp lí hóa quan hệ chế ước của tòa án đối với viện kiểm sát (và của viện kiểm sát đối với cơ quan điều tra ở giai đoạn trước) Song song với việc đó, BLTTHS cũng pháp lí hóa quan
hệ chế ước của viện kiểm sát đối với tòa
án và một trong những nội dung như đã nói trên thể hiện trong quy định về gIớI hạn việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Một vấn đề cần bàn nữa là nội dung của Điều 170 có phù hợp với các nguyên tắc khác của tố tụng hình sự ‘Khong ? Như chúng ta đã biết, các nguyên tắc
tố tụng hình sự là những quan điểm, tư tưởng chủ đạo mà các hoạt động tố tụng
và hành vi tố tụng phải tuân thio Trong
tố tụng hình sự, các nguyên tắc được hợp thành thể thống nhất (hệ thống), việc thực hiện nguyên tắc này luôn là cơ sở, là tiền
dé thực hiện nguyên tắc kia Chính vì vậy, sẽ là bất hợp lí khi một thủ tục, trình
tự nào đó được thể chế hóa trong BLTTHS lại mâu thuẫn với một hay nhiều nguyên tắc của tố tụng hình sự Xét cụ thể trường hợp BLTTHS quy định về giới hạn của việc xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự tại Điều 170, chúng tôi thấy nó không phù hợp với nguyên tắc khi xét xử thấm phán và hội thẩm nhân
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 37
Trang 3
đân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Quy định tòa án chỉ xét xử những bị cáo
và những hành vi theo tội danh mà viện
kiểm sát truy tố và tòa án đã quyết định
đưa ra xét xử là bất tòa án phụ thuộc
hoàn toàn vào sự đánh giá vụ án của viện
kiểm sát, làm mất đi tính độc lập của tòa
án - tiền đề để tòa án chỉ tuân theo pháp
luật khi xét xử Trong tố tụng hình sự,
quá trình chứng minh vụ án hình sự là
một quá trình nhận thức của các chủ thể
hoạt động tố tụng (các cơ quan tiến hành
tố tụng và người tiến hành tố tụng) Chủ
thể của hoạt động tố tụng từ chỗ chưa
hiểu tới hiểu, từ hiểu ít tới hiểu nhiều và
hiểu toàn bộ bản chất của vụ án hình sự
Việc ràng buộc tòa án chỉ được xét xử
những người và những hành vi theo tội
danh mà viện kiểm sát truy tố cổ nghĩa là
khẳng định việc định tội danh của viện
kiểm sát là hoàn toàn đúng đắn và lúc
này, hội đồng xét xử chỉ có một việc giản
đơn là lựa chọn một biện pháp hình phạt
hay mức hình phạt được quy định trong
điều luật Điều này rõ ràng là vô lí vì vô
hình trung điều luật đã để viện kiểm sát
thực hiện mét phần chức năng của tòa án
là xét xử vụ án Định tội danh là hành vi
tố tụng của các cơ quan điều tra, viện
kiểm sát và tòa án nhưng quyền khẳng
định một người có tội và áp dụng hình
phạt với người đó chỉ thuộc về tòa án
Muốn áp dụng hình phạt đúng phải định
tội đanh đúng, vì vậy có thể nói việc định
tội danh của hội đồng xét xử được xem là
có giá trị pháp lí cao nhất Thứ nhất, bởi
vì nó được ghi nhận wa ban 4 an; thứ hai,
WN oArwsrA AeeahL tan
nó là quyết Giiin cua tap hé (hoi
xử) nhân danh Nhà nước;
trên kết quả của phiên tồn xét sử h cuộc
điều tra công khai với sự có mặt của tất
cả các bên tham gia tố tụng dưới sự giám
38 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
sát của quần chúng nhân đân là những người tham dự phiên tòa Tội danh nêu
trong cáo trạng cũng như trong quyết
định đưa vụ án ra xét xử chưa phải là sự đánh giá cuối cùng, vì vậy việc định tội danh của hội đồng xét xử có thể trùng hợp với việc định tội danh của viện kiểm sát nêu trong cáo trạng, với tội danh nêu trong quyết định đưa vụ án ra xét xử của thấm phán sẽ làm chủ tọa phiên tòa và cũng có thể khác theo hướng nhẹ hơn hoặc theo hướng nặng hơn Trường hợp hội đồng xét xử xét xử hành vi của bị cáo theo tội danh nhẹ hơn tội danh do viện
kiểm sát truy tố hoặc tội danh nêu trong
quyết định đưa vụ án ra xét xử đã được Thông tư liên ngành số 0I/TTLN ngày
8/12/1988 của Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân đân tối cao hướng dẫn với nội dung là cứ xét xử mà không phải thông báo trước cho viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng Điều này, theo chúng tôi là phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc khi xét xử thấm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chi tuân theo pháp luật Ngoài ra, chúng tôi cũng cho rằng kể cả khi hội đồng xét xử, xét xử hành vi phạm tội của bị cáo theo một tội danh khác nặng hơn tội danh nêu trong quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng không trái với nguyên tắc nhân đạo, không vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa
vì hội đồng xét xử không xét xử những bị cáo mới, những hành vi phạm tội mới mà vẫn chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi đã được viện kiểm sát truy tố Vì
vay ul eav Ya s° “Ul Vay VIIULCL CC JÍ VC((V/
` `
vẫn hoàn toàn có điều kiện bào chữa cho
bị cáo tại phiên tòa Việc chuyển tội danh
từ tội danh nhẹ sang tội danh nặng hơn được hội đồng xét xử quyết định trong
Trang 4
phòng nghị án và được thể hiện trong bản
án sơ thẩm Nếu viện kiểm sát, bị cáo và
người bào chữa của bị cáo không đồng ý
với quyết định của tòa án thì họ vẫn có
thể kháng nghị (nếu là viện kiểm sát)
hoặc khủng cáo theo trình tự phúc thẩm
Vấn đề về giới hạn của việc xét Xử sơ
thấm vụ án hình sự còn có nội dung liên
quan tới quyết định của hội đồng xét xử
khi tại phiên tòa đại diện viên điểm sát
rút một phần hay toàn bộ truy tố Theo
Điều 169, khoản I Điều 195 BLTTHS và
hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số OI-
TTLN ngày 8/12/1988 thi tại phiên tòa,
sau khi xét hỏi nếu kiểm sát viên rút một
phần quyết định truy tố, hội đồng xét xử
vẫn xét xử toàn bộ vụ án và có thể chấp
nhận hoặc không chấp nhận việc rút truy
tố đó Nội dung cua các quy định trên
đây khẳng định việc rút một phần truy tố
của kiểm' sát viên không có y nghia bat
buộc đối với hội đồng xét xử, giới hạn
của việc xét xử trong trường hợp này vẫn
là phạm vị những bị cáo và những hành vị
đã bị viên kiểm sát truy tố trong cáo
trạng và tòa án đã quyết định đưa ra xét
xử Tuy nhiên, ngược với các quy định
nêu trên, theo khoản 2 2 Điều 195, khoản 2
Điều 196 và Thông tư liên ngành nói trên
thì tại phiên tòa, nếu Kiểm: sát viên rút
toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi
nghị án, hội đồng xét xử yêu cầu những
người tham gia tố tụng trình bày ý kiến
về việc rút quyết định truy tố của viện
kiểm sát có hay không có căn cứ; khi
nghị án, nếu có căn cứ xác định bị cáo
không có tội thì hội đồng xét xử tuyên án
là bị cáo không phạm tội Ngược lại, nếu
CÓ căn éứ xá đính là bị cáo có tội thì hội
đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ
việc xét xử vụ án và kiến nghị VỚI Viện
kiểm sát cấp trên Nếu viện kiểm sát cấp
trên thống nhất ý kiến với viện kiểm sát
cấp dưới thì ra quyết định đình chỉ vụ án
và thông báo cho tòa án đã tạm đình chỉ
vụ án đó biết Nếu viên kiểm sát cấp trên nhất trí với kiến nghị của tòa án thì ra quyết định hủy việc rút quyết định truy tố
- của viện kiểm sát cấp dưới và chuyển hồ
sơ cho tòa án đã tạm đình chỉ vụ án Tòa
án thụ lí lại và xét xử lại trong thoi ‘han
30 ngay kể từ ngày thụ lí lại Theo chúng
tôi, nội dung quy định trên day là mâu thuẫn, bất hợp lí và gây rườm rà về thủ
tục giải quyết vụ án Đối với cùng một
vấn đề là rút truy tố, pháp luật lại quy định hai thủ tục khác nhau: Khi rút mot phan truy tố thì hội đồng xét xử vẫn cứ Xét xử vụ án và tuyên án theo kết qua đánh giá vụ án của chính mình, còn khi
có sự rút toàn bộ truy tố, hội đồng xét xử
lại chỉ được tuyên án nếu thấy bị cáo không có tội; ngược lại, nếu theo kết quả
đánh giá vụ án của hội đồng xét xử thấy
bị cáo có tội lại không được tuyên bị cáo
có tội mà phải ra quyết định tạm đình chỉ
vụ án và chờ đợi ý kiến của viện kiểm sát cấp trên Nếu như trong trường hợp thứ nhất (khi viện kiểm sát rút một ‘phan truy tố) pháp luật khẳng định vai trò của hội đồng xét xử và tuân thủ nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thấm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật thì trong trường hợp thứ hai (khi viện kiểm sát rút toàn "bộ truy tố) pháp luật lại phủ nhận nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đồng thời biến viện kiểm sát cấp trên thành cơ quan có thẩm quyền quyết định về vụ án Điều này rõ ràng hoàn toàn trái với chức năng, nhiệm vụ vốn có của viện kiểm sát đã được khẳng định trong Hiến pháp và Luật tổ chức viện kiểm: sát nhân dân
(Xem tiép trang 48)
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 39
Trang 5NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀ = ` % >4
đối với bộ máy nhà nước nói riêng
Ngoài bốn hình thức chính thể cộng
hòa nêu trên, chính thể cộng hòa còn có
những biến dạng khác Các biến dạng này
thường gặp ở những nước có chế độ độc
tài và chế độ này được dựng nên bởi cuộc
đảo chính quân sự Ví d„: Ở Đức năm
1933, bang cuộc đảo chính Hítle lên nắm
quyền, ở Chilê năm 1973, tướng Pinôchê
làm cuộc đảo chính quân sự lật đổ Tổng
thong Xanvado Aghendé, nim 1960 6
Cộng hòa Cônggô, tướng Môbutu làm
cuộc đảo chính chiếm quyền và đổi tên
nước thành Cộng hòa Daia Đến năm
997, tướng Cabila làm đảo chính lật đổ
Môbutu và đổi tên nước thành Cộng hòa
dân chủ Côngsô Ở những nước này, mọi
quyền lực tập trung vào tay người đứng
đầu nhà nước Người đứng đầu nhà nước
ban hành các sắc lệnh thay thế luật, bởi lẽ
ở các nước đó nghị viện bị giải tấn ngay
sau cuộc đảo chính quân sự (nước Đức từ
1933 đến 1945, nước Cộng hòa dân chủ
Cônggô hiện nay) Trường hợp thành lập
nghị viện thì mọi hoạt động của nghị viện
đều nằm dưới sự kiểm soát của người
đứng đầu nhà nước (Chilê từ cuối năm
I970 đến cuối năm 1980) Người đứng
đầu nhà nước có thể giải tán nghị viện bất
cứ lúc nào./
(1) Xem: Luật hiển pháp của các nước dang phát
triển, tiếng Nga, Nxb Khoa hoc, M.1992, tr 19
(2) Xem: Chính phú, bộ và cơ quan ngang bộ ở các
nước, tiếng Noa, Nxb Pháp lí, M 1994, tr 40
(3) Đây là thủ tục đặc biệt dược áp dụng để truất
quyền các quan chức nói trên trong trường hợp các
quan chức đó vị phạm luật (có học giả dịch là thủ tục
đàn hạch) Xem: Nguyên Đang Dung, Bùi Xuân Đức,
Sdd, tr 95
(4) Xem: V.A.Xavclép, Tổng thống và nguyên tắc
phân chia quyền lực, lịch sử và hiện tại Tạp chí
nước MI - lịch sử kinh tế - chính trị, tiếng Nga số l1,
nam 1992, tr 39
- (5) Xem: Nhân dân ngày 17/6/1998
48 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
BAN THEM VE GIGI HAN
(Tiép trang 39)
Từ những phân tích ở trên, chúng tôi cho rang, trong BLTTHS, van can phải có quy định về giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự với nội dung thể hiện
đầy đủ quan hệ chế ước giữa viện kiểm
sát và tòa án nhưng không đi ngược lại nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; và không mâu thuẫn với chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan đã được Hiến pháp ghi nhận Mô hình của quy định này có thể là: Điều “Giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vu án hình sự”
I Trước khi có quyết định đưa vụ án
ra xét xử, viện kiểm sát có thể rút một phần hoặc toàn bộ truy tố Nếu viện kiểm sát rút một phần truy tố, tòa án chỉ xét xử phần truy tố còn lại Nếu viện kiểm sát rút toàn bộ truy tố, tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án
2 Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, hội đồng xét xử chỉ xét xử những bị cáo và những hành vị đã được nêu trong quyết định đưa vụ án ra xét xử Nếu có căn cứ, tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát có quyền rút một phần hay toàn bộ truy tố Trong mọi trường hợp, hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử và ra các quyết định trên cơ sở kết quả đánh giá chứng cứ tại phiên tò: Lí do của việc chấp nhận hay không chấp nhận việc rút truy tố của đại diện viện kiểm sát phải được nêu rõ trong bản án./
Riv 3 a 2 A 3 ^
(1) Về vấn c ) này có thể tham khảo thêm bài “Mội
“ý, # ° a b2 + i, 2 2 À 3 ° Zz 52
số ý kiến về, tới hạn xét xứ của tòa án” của tác gia Giang Son - Tap chi nha nước và pháp luật số 6/1997, tr.27 - 30; bai “Nguyén tac doc lap xét xit va
vấn đề giới hạ,!-Xxét + trong t6 tung hinh su“ cua tác gia Dang Quang Phuong - Ki yéu dé tai khoa hoc cap b6, VKSNDTC 1995, tr.45 - 48
(2) Xem: Dang Quing Phuong, Sdd, tr.43.