Về đối tượng áp dụng biện pháp tạm giữ - Khoan I Điều 68 BLTTHS quy định: "Tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang quy đ
Trang 1
VE BIEN PHAP TAM GIU TRONG
am giữ là một biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự với mục đích
hạn chế tự do của đối tượng bị áp dụng
nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm
tội, hành vi trốn tránh pháp luật hoặc gây
khó khăn, cản trở hoạt động điều tra,
_khám phá tội phạm Việc quy định biện
pháp tạm giữ đã tạo điều kiện thuận lợi
cho cơ quan có thẩm quyển trong việc
thu thập tài liệu, chứng cứ, bước đầu xác
định tính chất hành vi của đối tượng bị
tam gill
Tam giữ là biện pháp ngăn chặn đã
được Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)
năm 1988 quy định tại các Điều 68 và
Điều 69, được sửa đổi, bổ sung theo Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của
BLTTHS ngày 30/6/1990 Qua quá trình
áp dụng, bước đầu biện pháp này đã phát
huy hiệu quả tốt, phục vụ đắc lực cho
việc giải quyết các vụ án hình sự Tuy
nhiên, nếu nghiên cứu tổng thể các quy
định của pháp luật cũng như thực tiễn áp
dụng biện pháp này thì vẫn còn những
điểm cần phải bàn
1 Về đối tượng áp dụng biện pháp tạm
giữ
- Khoan I Điều 68 BLTTHS quy định:
"Tạm giữ có thể được áp dụng đối với
những người bị bắt trong trường hợp khẩn
cấp hoặc phạm tội quả tang quy định tại
Điều 63 và Điều 64 Bộ luật này"
_ Nhu vay, theo diéu luật này thì tạm
giữ chỉ áp dụng đối với hai đối tượng, đó
50 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
BO LUAT
TỔ TÙNG HÌNH SỰ
VU GIA LAM* là: Người bị bất trong trường hợp phạm tội khẩn cấp hoặc người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang Vấn đề cần xem xét ở đây là tại Điều 64 của BLTTHS còn có quy định một đối tượng nữa có thể bị bắt với quy định về thẩm quyền, thủ tục giống việc bắt người-pham tội quả tang, đó là "người bị truy nã” Vậy thì với đối tượng này khi bắt được
họ, cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng biện pháp gì để hạn chế tự do của họ? Vấn đề này cũng không được làm rõ mặc
dù tại Điều 65 của BLTTHS đã có quy định về "những việc cần làm ngay sau khi nhận người bi bắt" với nội dung 1a: " Đối với người bị truy nã thì sau khi lấy lời khai, cơ quan điều tra phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh truy nã và giải ngay người đó đến trại tạm giam nơi gần nhất" Cũng theo quy chế tổ chức hiện nay thì ở các trại tạm giam, ngoài các phòng giam còn có các phòng tạm giữ, vậy khi giải người bị truy nã đến đó, người này sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nào? Tạm giữ đối với họ thì không thể được vì luật quy định họ không là đối tượng bị tạm giữ Còn tạm giam đối với
họ thì lại phải đòi hỏi những thủ tục cần thiết, đôi khi rất phức tạp vì trong diện người bị truy nã có thể có cả những người chưa bị khởi tố hoặc người đang chấp hành hình phạt mà chưa bị khởi tố thì
* Giảng viên Khoa tư pháp
- Trường Đại học luật Hà Nội
Trang 2
không thể tạm giam họ được Vậy thì
phải chăng BLTTHS của ta còn để lọt đối
tượng này? Mà để lọt họ, không xác định
họ ở vào một trong số đối tượng bị tạm
giữ hoặc tạm giam song vẫn hạn chế tự
do của họ bằng quy định của điều luật
chưa rõ ràng như vậy, liệu đã hợp lí
chưa?
Theo suy nghĩ của.chúng tôi, nên xếp
người bị bắt theo lệnh truy nã vào diện
đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp
tạm giữ VỚI mục đích nhằm đảm bảo VIỆC
chuyển giao người đó cho cơ quan đã ra
lệnh t ir uy na
2 Van dé tham quyén ra lệnh tạm giữ,
thời hạn tạm giữ và thủ tục liên quan
Theo chúng tôi, đây là những vấn đề
có liên quan rất chặt chế với nhau đồng
thời đòi hỏi phải có sự phù hợp và thống
nhất cao trong quy định của pháp luật
Nhưng giữa các quy định của BLTTHS
với nhau và giữa chúng với thực tiễn áp
dụng đã sớm bộc lộ một số mâu thuẫn,
dẫn đến khó có thể thực hiện một cách
đúng đắn và thuận lợi được
a Về thẩm quyền ra lệnh tạm giữ
Khoản 2 Điều 68 BLTTHS quy định
"những người có quyền ra lệnh bắt khẩn
cấp quy định tại khoản 2 Điều 63 của Bộ
luật này có quyền ra lệnh tạm giữ"
Những người đó bao gồm:
- Trưởng công an, phó trưởng công an
cấp huyện; thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ
quan điều tra cấp tỉnh trở lên; thủ trưởng,
phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp
trong quân đội nhân dân;
- Người chỉ huy đơn vị quân đội độc
lập cấp trung đoàn và tương đương, người
chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên
ĐIỚI;
- Người chỉ huy máy bay, tàu biển khi
máy bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay,
bến cảng
Chúng tôi thấy rằng quy định như vậy
về thẩm quyền ra lệnh tạm giữ là phù hợp với tình hình thực tế vì hiện tượng phạm tội là một hiện tượng xã hội rất phức tạp,
đa dạng có thể bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu cũng có thể xảy ra hành vi phạm tội
Vì vậy, việc ngăn chặn kịp thời tội phạm, ngăn ngừa tội phạm trốn tránh hay gây khó khăn cho việc điều tra, khám phá tội phạm là việc làm cấp bách phải tiến hành kịp thời và nhanh chóng Tuy nhiên, để ra lệnh tạm giữ thì trước đó phải đảm bảo được một thủ tục bắt buộc, đó là việc phê chuẩn lệnh bất khẩn cấp nhằm đảm bảo việc tạm giữ là có căn cứ Tại khoản 4 Điều 63 BLTTHS có quy định: "7rong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo bằng van ban ngay cho viện kiểm sát c ng cấp để xét phê chuẩn, nếu viện kiểm sát không phê chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt" Theo chúng tôi đây là điều kiện để đảm bảo sự
kiểm tra, giám sát của viện kiểm sát với
hoạt động của cơ quan nhà nước khác, nhằm xác định tính có căn cứ và tính hợp pháp của các quyết định mà cơ quan này đưa ra Nhưng vẫn còn có điểm chưa hợp
lí, đó là đối với lệnh bắt của co quan điều tra, việc báo bằng văn bản cho viện kiểm sát cũng như việc xác định báo cáo cho viện kiềm sát cấp nào là điều có thể thực hiện dễ dàng, còn đối với trường hợp cơ quan khác ra lệnh bất khẩn cấp thì việc
này rất khó khăn hoặc không thể thực
hiện sớm được như theo yêu cầu của điều luật Chẳng hạn, như trường hợp lệnh bắt khẩn cấp là của người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới xa xôi; của người chỉ huy máy bay, tàu biển mà hành trình sau khi rời khỏi sân bay, bến cảng của Việt Nam không thể tính bằng ngày, bằng giờ mà có thể hàng tháng, hàng mấy tháng Có quan điểm cho rằng đối với lệnh bắt của người không thuộc cơ quan điều tra nên áp dụng hay ấn định một thời
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 51
Trang 3
hạn cụ thể nào đó phù hợp với điều kiện
thực tế của các đối tượng có thẩm quyền
ra lệnh bắt khẩn cấp trong việc thực hiện
thủ tục báo cáo và phê chuẩn quyết định
của họ Nếu như vậy mâu thuẫn với quy
định về thời hạn tạm giữ được quy định
tại Điều 69 BLTTHS Thời hạn kể từ khi
bắt người theo lệnh hoặc tạm giữ người
đó được luật quy định là rất ngắn Do đó,
theo chúng tôi là cần quy định lại về thủ
tục phê chuẩn đối với lệnh bắt khẩn cấp
của đối tượng này hoặc tách riêng thành
một trường hợp đặc biệt :
b Về thời hạn tạm giữ và thủ tục liên
quan
Vấn đề thời hạn tạm git duoc quy
định tại Điều 69 BLTTHS có liên quan
rất nhiều đến thẩm quyền ra lệnh tạm giữ
Theo quy định của điều luật này thi "thoi
hạn tạm giữ không được quá 3 ngày đêm
kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị
bắt;
Trong trường hợp cần thiết, cơ quan
ra lệnh tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ
nhưng không quá 3 ngày đêm Trong
trường hợp đặc biệt, cơ quan ra lệnh tạm
giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai và
cũng không quá 3 ngày đêm, mọi trường
hợp gia hạn tạm giữ đều phải được viện
kiểm sát cùng cấp phê chuẩn; Khi hết
hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố
bị can thì phải trả tự do ngay cho người
bị tam giữ
Theo quy định của điều luật này thì
thoi han tam giữ đối với một người là
trong vòng 3 ngày đêm còn tối đa không
quá 9 ngày đêm Nếu không có đủ căn cứ
để khởi tố người đó với tư cách bị can thì
cơ quan ra lệnh tạm giữ phải trả tự do
ngay cho người bị tạm giữ Theo chúng
tôi, việc quy định thời hạn tạm giữ này
chỉ áp dụng và cũng chỉ có thể áp dụng
đối với việc tạm giữ theo quyết định của
cơ quan điều tra mà thôi Sở đĩ như vay la
vì những lí do sau:
52 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
- Thứ nhất, điều luật quy định thời ' hạn tạm giữ không quá 3 ngày đêm kể từ thời điểm cơ quan điều tra-nhận người bị bắt Như vậy, thời điểm để tính thời hạn tạm giữ là thời điểm cơ quan điều tra nhận người bị bắt do công dân hoặc cơ quan khác chuyển đến hoặc thời điểm cơ quan này bắt được người đó theo lệnh của mình đưa về trụ sở cơ quan Những người
có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp đồng thời
có quyền ra lệnh tạm giữ được quy định
tạ điểm b, điểm c khoản 2 Điều 63 BLTTHS không phải là người thuộc cơ
- Thứ hai, mục đích của việc áp đụng biện pháp tạm giữ theo quy định tại điều luật này là nhằm phục vụ việc điều tra, xác minh về hành vi đã là lí do khiến người bị tạm giữ bị bắt quả tang hoặc khẩn cấp vì luật quy định khi hết hạn tạm giữ nếu không đủ căn cứ để khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Thế nhưng những người có quyền ra lệnh tạm giữ theo quy định tại Điều 6§ BLTTHS không có thẩm quyền điều tra vụ án, nghĩa là họ cũng không có
thẩm quyền khởi tố bị can Vậy thì họ
tạm giữ người để nhằm mục đích gì? Phải chăng chỉ nhằm mục đích hạn chế tự do của người bị bắt để thực hiện việc chuyển giao người đó cho cơ quan có thấm quyền? Do vậy, quy định thẩm quyền ra lệnh tạm giữ cho họ thì có thể được nhưng áp dụng thời hạn trong Điều 69 BLTTHS đối với trường hợp tạm giữ của các cơ quan này thì khó đảm bảo việc thực hiện nghiêm chỉnh đúng đắn trong thực tế
- Thứ ba, theo quy định tại khoản 3 Điều 69 BLTTHS về việc gia hạn tạm giữ thì mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều
phải được viện kiểm sát cùng cấp phê
chuẩn mới có giá trị, vậy thì đối với trường hợp người chỉ huy máy bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng Việt
Trang 4
Nam trong một hành trình dai ngày mà ra
lệnh tạm giữ theo quy định này liệu có
thực hiện được hay không? Chắc chắn
câu trả lời sẽ là không
= Thứ tư, tại khoản 3 Điều 68
BLTTHS có quy định: "Trong hạn 24 giờ,
lệnh tạm giữ phải được gửi cho viện kiểm
sat cung cap, néu xét thấy việc tạm giữ
không cần thiết thì viện kiểm sát ra quyết
nh húy bỏ lệnh tạm giữ và trả tự do
ngay cho người bị tạm giữ"
Theo chúng tôi, quy định này cũng
chỉ có thể thực hiện được đối với lệnh
tạm g1ữ của cơ quan điều tra Đối với các
cơ quan khác vì lí do công vụ hoặc những
điều kiện khách quan cản trở như địa bàn
hoạt động, đóng trụ sở quá xa viện kiểm
sát, dù các cơ quan này muốn cũng khó
có thể đảm bảo thực hiện được quy định
này
3 Một số ý kiến đề xuất
Nghiên cứu các quy định của pháp
luật, tham khảo thực tiễn áp dụng, chúng
tôi thấy cần phải có sự quy định lại một
cách chặt chế và thống nhất vấn đề áp
dụng biện pháp tạm giữ trong TTHS trên
các phương diện cụ thể của biện pháp này
như đối tượng áp dụng, thẩm quyền ra
lệnh áp dụng, thời hạn cũng như thủ tục
pháp lí liên quan đến biện pháp ngăn
chặn này Chúng tôi xin nêu một số đề
nghị sau:
a Về đối tượng áp dung biện pháp
tạm giữ nên có sự bổ sung vào khoản 1
Điều 68 như sau: "Tạm giữ có thể được
áp dụng đối với những người bị bắt trong
Irường: hợp khẩn cấp, trường hợp _pham
lội quả tang hoặc dang bi truy nad duoc
quy định tại Điều 63 và Điều 64 của Bộ
luật này "
b Với mục đích của biện pháp tạm
giữ cơ bản là nhằm phục vụ việc điều tra,
khám phá tội phạm, chỉ nên quy định
thẩm quyền thuộc cơ quan điều tra thì sé
phù hợp với quy định về thời hạn tạm giữ
tại Điều 69 BLTTHS Nếu vậy thì khoản
2 Điều 68 BLTTHS cần phải sửa đổi như sau: “Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp được quy định tại điểm a khoản
2 Điều 62 BLTTHS là người có quyền ra lệnh tạm giữ"
c Nếu có một điều luật riêng để quy định về việc hạn chế tự do của đối tượng
bị bắt theo lệnh của những người có thẩm quyền được quy định tại điểm b và c khoản 2 Điều 63 BLTTHS với mục đích tạm giữ riêng, độc lập không phải nhằm phục vụ điều tra, khám phá tội phạm mà
đơn thuần chỉ là việc đảm bảo điều kiện
để chuyển giao người bị bắt cho cơ quan điều tra có thẩm quyển xử lí hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi đó Điều luật riêng đó có thể quy định là Điều 69a với tên gọi "Tgn giữ trong trường hợp đặc biệt" với nội dung như, sau:
ˆ Trong trường hợp đặc biệt, những người có quyền ra lệnh bất khẩn cấp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều
63 Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm gill
- Sau khi ra lệnh tạm giữ, căn cứ vào khả năng và điều kiện thực tế của mình phải chuyển giao người bị tạm giữ cho cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn sớm nhất
Theo chúng tôi nếu có những sửa đổi
và bổ sung như trên thì các quy định trong BLTTHS về biện pháp này sẽ có sự ˆ thống nhất và phù hợp, đáp ứng được với yêu cầu của thực tế, đảm bảo được sự kiểm tra, giám sát đối với quyết định áp dụng biện pháp tạm giữ của các cơ quan
có thẩm quyền Qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ quan này khi thực hiện thẩm quyền được pháp luật quy định, đáp ứng được với yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay./
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 53