1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo "Cần nhanh chóng bổ sung, sửa đổi luật đất đai cho phù hợp với yêu cầu mới " pptx

9 440 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức và hoạt động luật sư: thực trạng & phương hướng đổi mới
Tác giả PTS. Nguyễn Văn Tuân
Chuyên ngành Luật
Thể loại Báo cáo
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 15,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với Sắc lệnh ngày 25/5/1930, thực dân Pháp mới tổ chức Hội đồng luật sư ở Hà Nội và Sài Gòn có người Việt Nam tham gia biện hộ với các điều kiện: - Phải tốt nghiệp đại học luật khoa;

Trang 1

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI |

TÔ CHỨC VÀ HOẠT DONG LUAT SU

THỰC TRẠNG & PHƯƠNG HƯỠNG ĐỔI MỚI

I Thực trạng tổ chức và hoạt động luật

sư ở Việt Nam

Ở Việt Nam từ năm 1930 trở về trước,

các luật sư người Pháp chiếm độc quyền

nghề bào chữa Với Sắc lệnh ngày

25/5/1930, thực dân Pháp mới tổ chức

Hội đồng luật sư ở Hà Nội và Sài Gòn có

người Việt Nam tham gia biện hộ với các

điều kiện:

- Phải tốt nghiệp đại học luật khoa;

- Phải tập sự trong một văn phòng

biện hộ của một luật sư thực thụ với thời

gian 5 nam

Sau đó phải qua sát hạch và được Hội

đồng luật sư công nhận thì mới trở thành

luật sư chính thức, có quyền mở văn

phòng và nhận khách hàng riêng Trước

khi vào tập sự cũng như được công nhận

chính thức, người luật sư phải tuyên thệ

trước tòa án thực dân là không được làm

điều gì trái với pháp luật và triệt để trung

thành với chế độ thực dân

Cách mạng tháng Tám thành công,

chính quyền về tay nhân dân, bộ máy tư

pháp được tổ chức lại Chỉ hơn một tháng

sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ

cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã kí Sắc lệnh số 64/SL ngày 10/10/1945

về tổ chức đoàn thể luật sư

Sắc lệnh số 64/SL ngày 10/10/1945

duy trì tổ chức luật sư cũ với một số điểm

sửa đổi cho thích hợp với tình hình mới

Vì nhu cầu kháng chiến nên từ năm 1951,

PTS NGUYỄN VĂN TUÂN *

đoàn thể luật sư tạm ngừng hoạt động Sau ngày tiếp quản thủ đô, đoàn thể luật

sư đã hoạt động trở lại và có một hội đồng luật sư tại Hà Nội

Tiếp đến Sắc lệnh 69/SL ngày 18/6/1949 do Sắc lệnh số 44/SL sửa đổi

mở rộng tổ chức bào chữa, cho phép những người công dân không phải luật sư

có thể bào chữa cho đương sự trong các phiên tòa xét xử các việc hộ và thương mại, cho bị cáo trước tòa xét xử về hình

Đề cụ thể hóa Sắc lệnh 69/SL, Bộ tư pháp

đã ban hành Nghị định số I/NĐ-VY ngày 12/1/1950 ấn định điều kiện để làm bào chữa viên và phụ cấp của bào chữa viên Theo Sắc lệnh và Nghị định nêu trên thì:

- Người bào chữa do đương sự và bị can tự chọn, nếu không phải là luật sư thì phải được tòa án công nhận;

- Người công dân do đương sự và bị can chọn hoặc tòa án cử ra phải có đủ các điều kiện:

+ Quốc tịch Việt Nam, không phân biệt đàn ông, đàn bà;

+ Ít nhất 21 tuổi;

+ Hạnh kiểm tốt và không can án Sau này, để bảo đảm hoạt động bào

chữa, xây dựng thống nhất trong cả nước các tổ chức của những người làm công tác luật sư bào chữa, trong khi chờ một văn bản pháp luật về luật sư, sau khi trao

* Vụ luật sư, tư vấn pháp luật

Bộ tư pháp

Trang 2

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

đổi với Tòa án nhân dân tối cao, Viện

kiểm sát nhân dân tối cao và một số cơ

quan hữu quan khác, Bộ tư pháp đã ban

hành Thông tư số 691/QLTPK ngày

31/10/1983 hướng dẫn công tác bào chữa

Theỏ Thông tư này, ở thành phố Hà Nội,

thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải

Phòng hiện đã có tổ chức luật sư bào

chữa thỉ củng cố lại về tổ chức, quản lí

chặt chẽ hơn về hoạt động Ở các tỉnh

khác, nếu có đủ điều kiện thì thành lập

đoàn bào chữa viên nhân dân Người

muốn làm công tác bào chữa phải là công

dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam; có phẩm chất đạo đức tốt; gương

mẫu chấp hành đường lối, chính sách của

Đảng và pháp luật của Nhà nước; có kiến

thức pháp lí cần thiết Cho đến cuối năm

_ 1987, đã có 30 tỉnh, thành phố đã thành

lập đoàn bào chữa viên nhân dân ¡

Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 va

Hiến pháp 1980 đều thể hiện nguyên tắc

bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo Điều

133 Hiến pháp 1980 còn quy định thêm

"tổ chức luật sư được thành lập để giúp

bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp

lí” Đó là cơ sở pháp lí cho việc xây dựng

một văn bản pháp luật về tổ chức luật sư

Ởở nước ta

Ngày 18/12/1987, Hội đồng nhà

nước đã thông qua Pháp lệnh tổ chức luật

sư Pháp lệnh cụ thể hóa quy định của

Hiến Pháp, tạo cơ sở cho việc hình thành

và phát triển đội ngũ luật sư ở Việt Nam

Có thể nói kể từ khi thành lập nước đến

nay, đây là văn bản pháp luật tương đối

hoàn chỉnh quy định về tổ chức và hoạt

động luật sư Pháp lệnh đã chứa đựng

những quy định cơ bản liên quan đến tổ

chức và hoạt động luật sư, phù hợp với

điều kiện của nước ta lúc bay gio

Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành

Pháp lệnh tổ chức luật sư, Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quy chế đoàn luật sư kèm theo Nghị định

số 15/HĐBT ngày 21/2/1989, Bộ tư pháp ban hành Thông tư số 313 TT/LS ngày 15/4/1989 hướng dẫn thực hiện Quy chế đoàn luật sư

Sau khi Pháp lệnh tổ chức luật sư được ban hành, theo hướng dẫn của Bộ tư pháp, các sở tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với ủy ban mặt trận tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn điều kiện và giới thiệu người có đủ tiêu chuẩn gia nhập đoàn luật sư, giúp ủy ban cấp tỉnh chuẩn

bị hồ sơ thành lập đoàn luật sư Sau khi thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ tư pháp theo quy định tại Điều 7 Pháp lệnh

tổ chức luật sư, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định cho phép thành lập đoàn luật sư

-_ Với tinh thần khẩn trương, nhiều tỉnh, thành phố đã thực hiện đúng thủ tục, sớm thành lập đoàn luật sư như tỉnh Vĩnh Phú,

Sơn La, Bình Định, Bến Tre, thành phố

-Hồ Chí Minh Cho đến nay trong cả nước chỉ còn một tỉnh là Ninh Thuận chưa thành lập đoàn luật sư

Từ khi Pháp lệnh tổ chức luật sư được _ ban hành đến nay, 52 đoàn luật sư đã được thành lập, từng bước kiện toàn tổ chức, ổn định và phát triển Hoạt động của các đoàn luật sư đã đáp ứng một phần quan trong | a dines R1 đỡ DHấP, lí của

trong việc bảo vệ given: loi ich hop phap cua bi can, bị cáo và các đương sự khác, góp phần tăng cường pháp chế xã 'hội chủ nghĩa

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 39

Trang 3

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

Đội ngũ luật sư trong những năm qua

đã tăng đáng kể về số lượng và chất

lượng Từ 1§6 luật sư năm 1989, đến nay

số luật sư trong cả nước là gần 800 Các

đoàn luật sư đã quan tâm thích đáng đến

việc kết nạp thành viên mới, nên số lượng

luật sư của đoàn đã tăng đáng kể so với

khi mới thành lập Ngược lại, một số

đoàn luật sư mặc dù có điều kiện phát

triển nhưng chưa quan tâm đúng mức đến

việc phát triển đội ngũ luật sư

Nhìn chung, số lượng luật sư trong cả

nước tăng chậm, chưa đáp ứng được nhu

cầu của xã hội ngày càng phát triển Sở dĩ

có tình trạng này, một mặt là do đội ngũ

những người có đủ điều kiện gia nhập

đoàn luật sư còn ít, các quy định của

Pháp lệnh tổ chức luật sư, Quy chế đoàn

luật sư và bản thân hoạt động của các

đoàn luật sư chưa tạo điều kiện thuận lợi

và chưa thực sự hấp dẫn nên chưa thu hút được đông đủ những người có đủ điều kiện gia nhập đoàn luật sư Mặt khác, một số Đoàn luật sư chưa quan tâm thích đáng đến công tác phát triển luật sư Xuất phát từ tình hình thực tế của nước ta ở thời điểm ban hành Pháp lệnh cho nên quy định về trình độ pháp lí đối với người muốn gia nhập Đoàn luật sư phải có bằng cử nhân luật hoặc có trình

độ tương đương

Số luật sư kiêm nhiệm ở các đoàn luật

sư chiếm khoảng 40% trong tổng số luật

sư của cả nước Số luật sư chuyên trách thì đa phần là cán bộ nghỉ hưu

Qua số liệu dưới đây cho thấy trình

độ chuyên môn của các luật sư không đồng đều, số' luật sư không có bằng cử nhân luật và số luật sư kiêm nhiệm lại chiếm tỉ lệ đáng kể

Năm Tổng số luật | Đại học luật | Tương Chuyên | Kiêm nhiệm

Kể từ khi được thành lập, mặc dù còn

có khó khăn về nhiều mặt nhưng các

oàn luật triển khai nhanh chóng

hoạt động nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu

giúp đỡ pháp lí của công dân và tổ chức

Theo báo cáo của 46 đoàn luật sư, tổng

cay Ax

Sư đa

Cy a»

số vụ án có luật sư tham gia kể từ ngày

thành lập đến hết năm 1993 1a 38.662 vụ, trong đó về hình sự là 22.331 vụ, về dân

sự là 16.331 vụ Theo số liệu thống kê

của Tòa án nhân dân tối cao, năm 1993

số vụ án có luật sư tham gia chiếm 11% trong tổng số các vụ án đã được xét xử, trong đó số vụ án hình sự có luật sư tham

Trang 4

| NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI |

gia chiếm tỉ lệ cao hơn (khoảng 16% so

với khoảng 7% số vụ án dân sự có luật sư

tham gia)

Năm 1994, theo báo cáo của 20 đoàn

luật sư thì tổng số vụ án dân sự có luật sư

tham gia là 7298 vụ, trong đó hình sự là

4461 vụ, dân sự là 2837 vụ Theo báo cáo

cua 46 đoàn luật sư, trong năm 1995,

luật sư đã tham gia 38068 vụ án hình sự,

23091 vụ án dân sự, 338 vụ án kinh tế và

thực hiện 16.312 vụ việc tư vấn pháp luật

Các đoàn luật sư có số vụ việc cao nhất là

đoàn luật sư TP Hồ Chí Minh 3488 vụ

việc, đoàn luật sư Hà Nội 1.093 vụ việc

và các đoàn luật sư có số việc ít là đoàn

luật sư Hòa Bình, Hà Giang (khoảng 40

đến 5O vụ việc)

Các đoàn luật sư đã có nhiều cố gắng

trong việc thực hiện chức năng giúp đỡ

pháp lí cho công dân, tổ chức, bảo đảm

cử luật sư tham gia các vụ án theo yêu

cầu của cơ quan tiến hành tố tụng Các cơ

quan tiến hành tố tụng đã tạo điều kiện

để luật sư thực hiện tốt nhiệm vụ của

mình Tuy nhiên, cũng có lúc có nơi vai

trò của luật sư còn chưa được coi trọng

đúng mức, cá biệt có cán bộ điều tra,

kiểm sát viên, thẩm phán coi thường, phủ

nhận vai trò của luật sư, gây khó khăn

cho luật sư thực hiện chức năng của

Sự tham gia tích cực của luật sư đã

giúp đỡ cơ quan tiến hành tố tụng sửa

chữa sai lầm, thiết sót, kịp thời quyết

định đình chỉ điều tra hoặc trả hồ sơ để

điều tra bổ sung Nhiều vụ án, nhờ có sự

đóng góp tích cực và có chất lượng của

luật sư mà sự thật khách quan đã được

làm sáng tỏ, nhiều bị cáo đã được tòa án

tuyên bố vô tội hoặc giảm nhẹ tội, giảm

nhẹ hình phạt Thực hiện nghiêm túc

nghĩa vụ nghề nghiệp của mình, luật sư

đã kiên trì đấu tranh bảo vệ công lí, tìm đầy đủ bằng chứng giúp tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm có cơ sở xem xét,

đánh giá lại bản án của tòa án cấp dưới,

bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội,

Trong khi dai đa số luật sư tích cực sử dụng biện pháp được pháp luật quy định

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

bị can, bị cáo, đương sự thì không ít luật

sư thực hiện một cách hình thức, qua loa, nhất là đối với những vụ án được tòa án chỉ định Luật sư mới chỉ tham gia nhiều

ở các vụ án do tòa án cấp tỉnh xét xử, ở tòa án cấp huyện còn ít

Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Đây là hai mặt của một vấn đề, không thể tách rời Nhưng trong hoạt động, một số luật

sư do chưa thấy rõ mối khăng khít này nên có những quan điểm, định hướng lệch lạc khi tham gia một vụ án cụ thể

Có luật sư còn cố tình bảo vệ quyền lợi bất hợp pháp của bị cáo, không phù hợp với thực tế của vụ án, trái pháp luật, gây mất lòng tin của hội đồng xét xử và không được quần chúng nhân dân tham gia phiên tòa ủng hộ Một số luật sư đã vi phạm pháp luật, bị xử lí kỉ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Hình thức tư vấn pháp luật cho công

dân và tổ chức chưa được đẩy mạnh trong

hầu hết các đoàn luật sư, thậm chí có đoàn luật sư trên thực tế chưa tổ chức thực hiện hình thức giúp đỡ pháp lí quan trọng này Trong cơ chế thị trường, để kinh doanh có hiệu quả, đúng pháp luật, các cá nhân tổ chức kinh tế rất cần sự

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 41

Trang 5

giúp đỡ của luật sư, rất cần đến dịch vụ tư

vấn pháp luật Ở các đoàn luật sư hiện

nay còn ít luật sư giỏi, chuyên thực hiện

các hoạt động tư vấn pháp luật trong các

lĩnh vực kinh doanh Đây là nhu cầu cấp

thiết mà trong những năm qua các đoàn

luật sư chưa đáp ứng được

Pháp lệnh tổ chức luật sư được ban

hanh trong những năm khởi đầu của công

việc mới Tuy nhiên, trong những năm

qua, thực hiện đường lối đổi mới của

Đảng, đất nước ta đã có những chuyển

biến to lớn về mọi mặt trong đời sống xã

hội Trong tình hình đó, nhiều quy định

của Pháp lệnh tổ chức luật sư không còn

phù hợp với thực tiễn, làm cho hoạt động

của luật sư không đáp ứng nhu cầu giúp

đỡ pháp lí ngày càng cao của xã hội

Trong đó phải kể đến quy định về điều

kiện và thủ tục công nhận luật sư, hình

thức hành nghề và vấn để quản lí nhà

nước đối với tổ chức và hoạt động luật sư

Theo Pháp lệnh tổ chức luật sư thì

đoàn luật sư có nhiều quyền hạn: Từ việc

kết nạp đến kỉ luật luật sư và điều hành

các công việc của luật sư Do vậy, có

tình trạng đoàn luật sư khép kín, không

kết nạp, phát triển luật sư hoặc kết nạp

luật sư một cách tùy tiện, thiếu sự kiểm

tra giám sát về tiêu chuẩn, điều kiện, thủ

tục kết nạp và công nhận luật sư Hiện

nay, trong công tác phát triển luật sư các

đoàn còn nhiều băn khoăn xung quanh

VIỆC CÓ phát triển luật sư hay không và

phát triển như thế nào? Sau thời gian dài,

một số đoàn luật sư gần như đóng cửa

không phát triển đội ngũ luật sư mới

Hiện nay, có hiện tượng các đoàn luật sư

kết nạp luật sư mới một cách ồ at, không

cân nhắc kĩ về tiêu chuẩn, điều kiện

Đáng chú ý là việc người thường trú tại

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh xin

gia nhập Đoàn luật sư các tỉnh khác ngày

càng nhiều, dẫn đến tình trạng đoàn luật

42 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

sư không quản lí được hoạt động của các luật sư này, đặc biệt là quản lí việc sử dụng thẻ luật sư Cá biệt, một số đoàn luật sư vẫn còn hiện tượng "đóng cửa" hoặc tự đặt thêm điều kiện đối với người xin gia nhập đoàn, gây thắc mắc cho những người có đơn xin gia nhập đoàn luật sư

Về việc kiện toàn tổ chức đoàn luật

sư, ban chủ nhiệm một số đoàn luật sư chưa thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh tổ chức luật sư, Quy chế đoàn luật sư Mặc dù ở một số đoàn, nhiệm kì của ban chủ nhiệm đã hết song không tổ chức hội nghị toàn thể đoàn Tuật sư để bầu ban chủ nhiệm, ban kiểm tra cho nhiệm kì mới mà cố tình kéo dài nhiệm

kì cũ hoặc lấy lí do chờ ban hành pháp lệnh mới Ban chủ nhiệm một số “đoàn luật sư chưa phát huy đầy đủ trách nhiệm, không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của _ minh trong việc quản lí, điều hành công việc của đoàn Công tác giáo dục chính trị, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, trau dồi đạo đức nghề nghiệp cho luật sư chưa được quan tâm đúng mức Hiện tượng luật sư vi phạm kỉ luật, đạo đức nghề nghiệp chưa được phát hiện, xử lí kip thoi Tinh trạng vi phạm quy định về thù lao, hứa hẹn với khách hàng, thu thù lao không thông qua đoàn luật sư là những vấn đề mà dư luận đang rất quan

tâm

Đoàn luật sư là một tổ chức nghề nghiệp nhưng các quy định về thủ tục kết nạp, quy chế thành viên, cơ cấu và tổ chức đoàn luật sư lại thể hiện tính chất của hiệp hội Đồng thời, đoàn luật sư cũng là nơi hành nghề của luật sư Để tạo thuận lợi cho công dan và các tổ chức đồng thời tạo thuận lợi cho việc triển khai

mo rong hoat dong cua doan luật sư, Quy chế đoàn luật sư quy định đối với tỉnh, thành phố có địa bàn rộng, số lượng luật

sư đông thì đoàn luật sư có thể lập các

Trang 6

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

chỉ nhánh của đoàn Chi nhánh không

phải là tổ chức hành nghề độc lập, mà chỉ

là nơi giao dịch của đoàn luật sư, chịu sự

điều hành thống nhất của ban chủ nhiệm

đoàn Nhưng trong thực tế cho đến nay

mới chỉ có một số đoàn luật sư đặt chỉ

nhánh theo quy định này Đặc biệt là

đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh đã

thành lập hơn 20 văn phòng (chi nhánh)

trên địa bàn thành phố Chi nhánh của

đoàn luật sư do đoàn luật sư tự quyết định

thành lập vận dụng theo Điều 3 Quy chế

đoàn luật sư nhưng thực chất đây là một

văn phòng luật sư Các văn phòng luật sư

thiếu sự kiểm tra của ban chủ nhiệm đoàn

luật sư, sở tư pháp và chưa làm nghĩa vụ

nộp thuế mặc dù doanh thu về tư vấn

pháp luật khá cao

Theo quy định của các văn bản pháp

hiện hành thì đoàn luật sư chịu sự quản lí,

giám sát của Bộ tư pháp, hội đồng nhân

dân, ủy ban nhân dân, ủy ban mặt trận tổ

quốc cấp tỉnh và giám đốc sở tư pháp

(rong phạm vi một số việc được Bộ

trưởng Bộ tư pháp ủy quyền) Nhưng

những quy định này còn chung chung,

chưa có sự phân cấp rõ ràng Việc quản lí

luật sư còn thiếu chặt chế, nội dung và

phương thức quản lí luật sư chưa phù

hợp Nhiệm vụ quản lí của Bộ tư pháp đối

với đoàn luật sư chưa cụ thể Việc quy

định nhiều cơ quan nhà nước, tổ chức xã

hội có chức năng quản lí, giám sát về tổ

chức và hoạt động luật sư đến nay không

còn phù hợp nữa, cần có sự đổi mới, đưa

ra phương thức quản lí có hiệu quả hơn

Nhu cầu về số lượng luật sư tăng rất

nhanh, kể cả trong lĩnh vực tranh tung va

trong lĩnh vực tư vấn pháp luật, mà trong

khuôn khổ các đoàn luật sư hiện nay

không thể đáp ứng kịp, yêu cầu xã hội về

chất lượng luật sư cao hơn hẳn so với

trước đây một vài năm Một mặt, các

quan hệ xã hội ngày càng trở nên đa

dạng, phức tạp, đặc biệt trong lĩnh vực

dân sự, kinh tế, hệ thống pháp luật ngày

càng phát triển toàn điện, phong phú Mặt

khác, chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta đòi hỏi tác luật sư cần mở rộng kiến thức trong các lĩnh vực pháp luật quốc tế Yêu cầu này đòi hỏi một đội ngũ luật sư vững vàng về kiến thức pháp

lí, am hiểu và thành thạo về nghề nghiệp Những quy định về tiêu chuẩn luật sư trong Pháp lệnh tổ chức luật sư 1987 không còn phù hợp với yêu cầu mới nữa Nhu cầu của xã hội về dịch vụ của luật sư ngày càng to lớn, đa dạng và phức tạp đòi hỏi hình thức tổ chức và hình thức hoạt động của luật sư phải mềm dẻo, năng động, bảo đảm đáp ứng một cách nhanh chóng, có hiệu quả Những quy định về tổ chức và hoạt động luật sư trong pháp lệnh tổ chức luật sư hiện hành mang nặng tính gò bó, khép kín, hạn chế khả năng đóng góp của nghề luật sư trong

Trong co ché thi truong hién nay, doi hỏi vừa phát huy tính tự chủ, năng động của các luật sư nhưng đồng thời phải tăng cường sự quản lí nhà nước đối với đội

ngũ luật sư Quy định của Pháp lệnh tổ

chức luật sư hiện hành chưa tạo cơ sở pháp lí bảo đảm sự quản lí này

Trong bối cảnh chính sách mở cửa, quan hệ về pháp luật, tư pháp giữa nước

ta với các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng phát triển Nhà nước ta đã cho phép các tổ chức luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam Tình hình đó đặt

ra yêu cầu nhanh chóng đưa chế định luật

sư của nước ta xích lại gần với thông lệ quốc tế về nghề luật sư Trong khi đó, quy định của Pháp lệnh tổ chức luật sư hiện hành còn: có một khoảng cách khá

xa với chế định luật sư phổ biến trên thế

Những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh

tổ chức luật sư trên cho thấy việc sửa đổi

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 43

Trang 7

Pháp lệnh tổ chức luật sư 1987 thực sự là

một yêu cầu cần thiết, khách quan

II Phương hướng đổi mới tổ chức và

hoạt động luật sư trong điều kiện xây

dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

Cùng với việc cải cách tư pháp, việc

cải cách tổ chức và hoạt động luật sư là

cần thiết, trong đó có việc sửa đổi Phá

lệnh tổ chức luật sư 1987 Việc sửa đối

'Pháp lệnh được đặt ra trong bối cảnh

Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành

công cuộc đổi mới và xây dựng Nhà nước

pháp quyền Việt Nam XHCN Trong các

văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều

nêu lên những quan điểm về đổi mới tổ

chức và hoạt động bổ trợ tư pháp nói

chung và luật sư nói riêng Đặc biệt Ban

bí thư trung ương Đảng đã có những ay

kiến chỉ đạo tương đối cụ thể về đổi mới

tổ chức hoạt động luật sư, tư vấn pháp

luật Việc sửa đổi Pháp lệnh tổ chức luật

sư cần dựa trên những quan điểm chỉ đạo

và đạt những yêu cầu sau đây:

- Xây dựng một văn bản pháp luật

thống nhất điều chỉnh tổ chức và hoạt

động luật sư;

- Tạo cơ sở pháp lí thuận lợi để phát

triển đội ngũ luật sư đáp ứng nhu cầu của

xã hội trong tình hình mới;

- Đáp ứng nhu cầu về tư vấn pháp luật

cho các doanh nghiệp, đặc biệt đối với

doanh nghiệp Nhà nước và cho mọi tầng

lớp nhân dân, trong đó có người nghèo,

đối tượng chính sách;

- Xác định phạm vi hoạt động và hình

thức hành nghề thích hợp cho luật sư,

- Bảo đảm sự quản lí của nhà nước

đối với tổ chức và hoạt động luật sư;

- Tạo cơ sở pháp lí thuận lợi cho đội

ngũ luật sư Việt Nam hòa nhập khu vực

và quốc tế;

- Bảo đảm tính kế thừa lịch sử, tham

khảo kinh nghiệm nước ngoài vận dụng

sáng tạo vào thực tế Việt Nam

44 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

Trước hết, cần đổi mới quan niệm về hoạt động của luật sư, phải coi đó là một nghề Nhưng điều đó không nghĩa là bất

kì aI cũng được phép hành nghề luật sư,

mà chỉ có những người hội đủ những tiêu chuẩn, điều kiện và phải hành nghề theo các hình thức mà pháp luật quy định Về trình độ của luật sư, đã đến lúc ta đòi hỏi luật sư phải có trình độ đại học luật và không chấp nhận một trình độ tương đương Việc quy định điều kiện phải có bằng cử nhân luật đối với luật sư là cần thiết, nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng của đội ngũ luật sư tương xứng với trình

độ của thầm phán, kiểm sát viên, điều tra viên và luật sư của các khu vực và trên thế giới Do đặc điểm, yêu cầu của nghề nghiệp nên tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức đối với luật sư được đặc biệt coi trọng Ngoài tiêu chuẩn về trình độ, về đạo đức, người muốn trở thành luật sư phải có thời gian tập sự hành nghề luật sư

từ 6 tháng đến 2 năm và phải qua một khóa học về nghiệp vụ luật sư Luật sư là một nghề nghiệp tư pháp, cũng như các nghề thẩm phán, công chứng người muốn trở thành luật sư phải học nghề, phải qua đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ Những năm qua chúng ta chưa có điều kiện tổ chức trường lớp đào tạo luật sư có bài bản Hiện nay, với yêu cầu chính quy hóa, nâng cao tiêu chuẩn của luật sư và vai trò, vị trí của nghề luật

sư, đã đến lúc phải đưa yêu cầu đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ vào điều kiện để công nhận luật su

Cũng cần xác định rõ phạm vi hành nghề của luật sư Luật sư tham gia tranh tung dé bao chita cho bi can, bị cáo hơặc

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự trong các vụ án hình sự, dân sự,

hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động, hành chính và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật Luật sư thực hiện tư

Trang 8

RS

or

vấn pháp luật cho cá nhân, tổ chức Luật

sư được hành nghề trên phạm vi cả nước

Về đạo đức nghề nghiệp của luật sư

tuy đã được Pháp lệnh hiện hành quy

định nhưng chưa thật cụ thể, chưa thể

hiện hết đặc thù của nghề luật sư Chính

vì vậy trong thực tế các luật sư thường vi

phạm những quy tắc phổ biến của nghề

luật sư, có khi là những quy tắc tối thiểu

nhất Cũng chính vì không có quy định

chặt chế về quy tắc hành nghề nên những

tiêu cực trong hoạt động luật sư có điều

kiện phát sinh Cần phải có một văn bản

riêng quy định chi tiết và cụ thể quy tắc

hành nghề của luật sư, trong đó bao gồm

cả quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật

su

Nghề luật sư có những nét đặc thù,

không giống như các nghề kinh doanh,

thương mại Việc hành nghề luật sư

không lấy điểm xuất phát và không dựa

vào vốn mà dựa vào kiến thức pháp luật

và kĩ năng hành nghề của luật sư Hình

thức tổ chức hành nghề của luật sư như

hiện nay không còn phù hợp nữa Cần

chú ý đến vai trò cá nhân, uy tín nghề

nghiệp của luật sư và tính chất của nghề

tự do trong tổ chức hành nghề luật sư

Cần phân biệt giữa hình thức tổ chức

hành nghề với hình thức hiệp hội của luật

sư Nên chăng, quy định văn phòng là

hình thức hành nghề của luật sư Đây

cũng là hình thức được nhiều nước trên

thế giới áp dụng Có thể văn phòng của

một cá nhân luật sư hoặc văn phòng của

nhiều luật sư hợp tác thành lập theo hình

thức hợp danh

Để phát triển nghề luật sư ở Việt

Nam, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay

thì vai trò quản lí của Nhà nước là hết sức

quan trọng, cần được tăng cường một

bước Ngoài việc ban hành văn bản pháp

luật về hành nghề luật sư, Nhà nước

đứng ra đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ

luật sư, tổ chức xét chọn và công nhận

luật sư Quy định như vậy sẽ khắc phục

được sự kìm hãm phát triển đội ngũ luật

sư do tình trạng “đóng cửa” của các đoàn luật sư hiện nay đồng thời bảo đảm được

sự kiểm soát thống nhất về tiêu chuẩn

luật sư

Xuất phát từ tình hình thực tế, vấn đề quản lí nhà nước đối với nghề luật sư cần được đặc biệt coi trọng Bởi vậy, vấn đề này cần được thể hiện theo hướng bảo đảm sự quản lí chặt chẽ của Nhà nước nhưng vẫn bảo đảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các luật sư trong hành nghề và khuyến khích hoạt động nghề nghiệp của luật sư

Đề phát triển đội ngũ luật sư ở Việt

Nam thì không thể thiếu vai trò quản lí

của Nhà nước Với quyền han của mình, Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật quy định về hành nghề luật sư Nhà nước đứng ra đào tạo, tổ chức, thi tuyển và công nhận luật sư Trong giai đoạn hiện nay cần quy định việc công nhận luật sư phải thuộc thẩm quyền của cơ quan Nhà nước cấp trung ương mà cụ thể là Bộ tư pháp Điều này cũng phù hợp với các quy định hiện hành về quản lí luật sư và đó cũng là ý kiến của đa số luật sư trong cả nước

Luật tổ chức Chính phủ (Điều 18) đã quy định quản lí nhà nước đối với hoạt động luật sư, tư vấn pháp luật thuộc chức năng của Chính phủ Nghị định 38/CP của Chính phủ về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ tư pháp đã giao cho Bộ tư pháp giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này Về phương diện quản

lí luật sư thì trước hết cần khẳng định vai trò của Bộ tư pháp trong lĩnh vực này Bộ

tư pháp có nhiệm vụ soạn thảo các văn bản pháp luật quy định về hành nghề luật

sư, thực hiện chức năng hướng dẫn, kiểm tra hoạt động luật sư Bộ tư pháp có thẩm quyền giải quyết các vấn đề có liên quan

đến hành nghề luật sư như: Đào tạo, tổ chức thi tuyển, cấp chứng chỉ hành nghề, theo dõi, kiểm tra và xử lí vi phạm đối

TẠP CHÍ LUẬT HỌC -45

Trang 9

| NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI |

VỚI Văn phòng và cá nhân luật sư Trong

phạm vi địa phương mình, ủy ban nhân

dân cấp tỉnh thực hiện quản lí nhà nước

đối với tổ chức và hoạt động luật sư theo

quy định của pháp luật Sở tư pháp có

nhiệm vụ giúp ủy ban nhân dân thực

hiện quản lí nói trên |

Theo quy định của pháp luật hiện

hành, đoàn luật sư vừa là tổ chức nghề

nghiệp vừa là nơi hành nghề của luật sư

Việc quản lí, điều hành trong đoàn luật

sư mang nặng tính hành chính Mì vậy,

cần xác định đúng vai trò, vị trí của đoàn

luật sư, cần phân biệt rạch ròi giữa hình

thức hành nghề của luật sư (văn phòng

luật sư) với tổ.chức xã hội - nghề nghiệp -

của luật sư (đoàn luật sư) Đoàn luật sư là

tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư,

được thành lập nhằm mục đích tập hợp và

bảo vệ quyền lợi của các luật sư, duy trì

kỉ luật và nâng cao đạo đức nghề nghiệp

và hiệu quả của các luật sư Đoàn luật sư

không có hoạt động sinh lời mà hoạt

động bằng kinh phí do các luật sư tự

đóng góp (hội phí) và các khoản thu hợp

pháp khác Về tổ chức hiệp hội của luật

sư vẫn nên duy trì các đoàn luật sư như

hiện nay là được thành lập ở các tỉnh,

thành phố trực thuộc trung wong Sau khi

được công nhận và cấp thẻ, các luật sư

đều phải đăng kí sinh hoạt tại một đoàn

luật sư Hoạt động của đoàn luật sư phải

mang tính chất của một tổ chức xã hội -

nghề nghiệp hoạt động theo điều lệ

Về vấn đề thành lập hiệp hội luật sư

toàn quốc nhiều ý kiến cho rằng thành

lập vào thời điểm này là chưa phù hợp

Khi đội ngũ luật sư phát triển với số

lượng lớn, các đoàn luật sư đủ mạnh thì

sé nghién cứu vấn đề này để thành lập

hiệp hội luật sư toàn quốc Lúc đó Nhà

nước sẽ từng bước chuyển giao cho hiệp

hội một số chức năng như tổ chức đào

tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ,

thi tuyển, cấp chứng chỉ hành nghề, còn

Nhà nước sẽ thực hiện chức năng giấm

sát đối với hoạt động của hiệp hội./

uat dat dai 1993 (LDD) được ban hành trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đã chuyển hẳn sang cơ chế thị

trường Nội dung của đạo luật đã thể hiện

khá rõ nét tinh thần đổi mới Bên cạnh việc Nhà nước sử dụng nhiều phương pháp quản lí kinh tế thay cho phương pháp quản lí hành chính đối với đất đai trước đây, Nhà nước đang ngày càng quan tâm đến việc “đản sự hóưg” các quyền của người sử dụng đất, khiến cho đạo luật có tính khả thi cao Tuy nhiên, với sự vận động của các quan hệ đất đai trong nền kinh tế thị trường, với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt là với đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai theo hướng gọn nhẹ (LĐĐ) phải được pháp điển hóa” ở mức cao nhất để thuận tiện cho việc ap dung) thi LDD

1993 lại chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu nêu trên Sau khi LĐĐ được ban hành đã có gần 5O văn bản pháp luật của các cơ quan trung ương hướng dẫn thi hành luật song quá trình áp dụng văn bản gặp phải rất nhiều khó khăn, lúng túng vì

sự thiếu hụt các quy định thực hiện Để khắc phục những tồn tại nêu trên, một số quy định sau đây của LĐĐ cần được nghiên cứu, xem xét để bổ sung, sửa đổi kịp thời

1 Các quy định về người sử dụng đất

- Đối với hộ gia đình và cá nhân LDD 1993 mới chỉ quy định quyền va nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, làm nhà ở mà chưa có các quy định đối với cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất vào các mục đích khác Trên thực tế, tồn tại rất nhiều hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất vào mục đích sản xuất kinh doanh không phải là nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm nhà ở.

Ngày đăng: 21/02/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w