SKKN Đặc trưng truyện ngắn và định hướng đọc Hiểu truyện ngắn trong nhà trường Trung học Phổ thông 1 SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT TRIỆU THÁI BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN ĐẶC TRƯNG TRUYỆN NGẮN VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT Tác giả sáng kiến NGUYỄN THÚY HẰNG Mã môn 15 51 01 Lập Thạch, năm 2018 SangKienKinhNghiem net 2 MỤC LỤC Mục Nội dung Trang I Giới thiệu đề tài 3 II Tên sáng kiến 5 III Tác giả sáng kiến 5 IV Chủ đầu tư tạo ra sáng[.]
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TR ƯỜNG THPT TRIỆU THÁI
-
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
ĐẶC TRƯNG TRUYỆN NGẮN VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐỌC - HIỂU TRUYỆN NGẮN TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT
Tác giả sáng kiến: NGUYỄN THÚY HẰNG
Mã môn: 15.51.01
Lập Thạch, năm 2018
Trang 2MỤC LỤC
IV Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thúy Hằng 5
VI Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
3 Định hướng cách đọc - hiểu truyện ngắn trong nhà trường THPT 13
VIII Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 42
X Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử
Trang 3BÁO CÁO
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
I Giới thiệu đề tài
1 Lý do chọn đề tài
- Có ý kiến cho rằng: Truyện ngắn là một thứ giọt nước mà không
có nó không thể có đại dương Đây cũng là một thể loại đánh dấu trình độ nghệ thuật của một nền văn học Nhìn từ phương diện hình thức, truyện ngắn chỉ là
một tác phẩm tự sự cỡ nhỏ bên cạnh những trường ca, những bộ tiểu thuyết đồ
sộ Nhưng ý nghĩa và giá trị của truyện ngắn lại không hề nhỏ và thua kém
những tiểu thuyết hay trường ca Đây là thể loại văn học có nội khí "một lời mà thiên cổ, một gợi mà trăm suy" Do đó, truyện ngắn là một trong những thể loại
văn học khó nhất, đòi hỏi một công phu lao động lớn của nhà văn nhưng cũng là thể loại hấp dẫn và cuốn hút độc giả nhất trên thế giới
- Trong chương trình Ngữ văn THPT, truyện ngắn (dân gian, trung đại và hiện đại) chiếm một ưu thế khá nổi trội, khoảng 1/2 số lượng văn bản văn học được học và đọc thêm Thực tế này khẳng định vị trí quan trọng của thể loại truyện ngắn trong nền văn học cũng như trong quá trình giảng dạy và tiếp nhận văn học trong nhà trường phổ thông Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy người viết nhận thấy: khi tiếp cận tác phẩm truyện ngắn, học sinh mới chỉ tiếp nhận đơn thuần giá trị nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm đơn lẻ mà chưa nắm vững được những đặc trưng cơ bản của thể loại Điều này dẫn đến tình trạng lúng túng trong quá trình viết bài văn phân tích một trong những vấn đề được đặt ra trong một tác phẩm truyện ngắn Đặc biệt, đối với một đoạn truyện ngắn không nằm trong chương trình được đưa vào các bài đọc - hiểu (trong các dạng
đề thi THPT Quốc gia) thì học sinh hầu như không đọc - hiểu được ý nghĩa cũng như những đặc sắc nghệ thuật của văn bản
- Xuất phát từ cơ sở lí luận về thể loại văn học truyện ngắn cũng
như thực tiễn kinh nghiệm giảng dạy văn bản truyện ngắn trong nhà trường phổ thông nói trên, người viết lựa chọn đề tài: Đặc trưng truyện ngắn và định
hướng đọc - hiểu văn bản truyện ngắn trong nhà trường THPT như một
Trang 4hướng khai thác và nghiên cứu trong quá trình giảng dạy.
2 Ý nghĩa và tác dụng của đề tài
Nghiên cứu và thực hiện đề tài này trong quá trình giảng dạy ở
trường trung học phổ thông, người viết sẽ cung cấp cho học sinh một cái nhìn bao quát và toàn diện về đặc trưng của thể loại truyện ngắn, nắm vững cách thức đọc - hiểu truyện ngắn Trên cơ sở nắm vững lý thuyết chung đó, học sinh có thể vận dụng để tìm hiểu và giải mã sâu sắc những vấn đề đặt ra trong một đoạn truyện ngắn, một tác phẩm hoặc một nhóm tác phẩm truyện ngắn cụ thể trong
chương trình
Ngoài ra, đề tài này cũng giúp HS rèn luyện và nâng cao kĩ năng phân tích, cảm thụ truyện ngắn khi làm văn Đối với học sinh các lớp học chương trình nâng cao, đề tài này còn định hướng và kích thích hứng thú sáng tác truyện ngắn của các em
3 Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Đặc trưng truyện ngắn và định hướng đọc - hiểu văn bản truyện ngắn
- Phạm vi nghiên cứu: Bám sát vào các tác phẩm truyện ngắn hiện đại tiêu biểu trong nhà trường phổ thông (chẳng hạn như các tác phẩm của Nam Cao, Nguyễn Tuân, Kim Lân, Tô Hoài, …)
4 Phương pháp tiến hành
- Nghiên cứu tài liệu
- Thực nghiệm (giảng dạy), đây là phương pháp chính
Do tính chất đa dạng và phạm vi sâu rộng của kiến thức trong chuyên
đề mà nó được sử dụng linh hoạt, uyển chuyển cho nhiều loại đối tượng học sinh khác nhau từ học sinh đại trà đến học sinh khá giỏi, với thời gian học khác nhau Tùy từng đối tượng HS cụ thể mà giáo viên có phương pháp giảng dạy phù hợp từ cơ bản đến nâng cao kiến thức Trong quá trình dạy, giáo viên có thể kết hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
Trang 5- Phương pháp đọc - hiểu văn bản.
Nếu đối tượng là học sinh đại trà, cụ thể là học sinh lớp 11 ban A, chuyên
đề có thể được dạy trong 2 đến 3 tiết Giáo viên sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản và ngắn gọn nhất về đặc trưng của truyện ngắn, định hướng cách đọc hiểu
và áp dụng vào bài đọc - hiểu một truyện ngắn cụ thể
Với học sinh lớp học nâng cao, cụ thể là học sinh lớp 11 ban C, D nội dung các kiến thức trên được tiến hành giảng dạy trong các tiết chuyên đề Thời gian tuỳ thuộc vào sự phân bố số tiết học của từng chuyên đề đã được quy định cho các lớp, nhưng có thể gói gọn từ 4 đến 6 tiết Ngoài những kiến thức cơ bản đã nêu, trong quá trình dạy đặc trưng thể loại truyện ngắn giáo viên có thể định hướng cho học sinh cái nhìn so sánh với đặc trưng của các thể loại văn học khác Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh đọc - hiểu các văn bản cụ thể trong chương trình, giáo viên còn đưa ra các bài tập nâng cao, để học sinh vận dụng lí thuyết
xử lí các đề bài liên quan đến thể loại truyện ngắn
Nếu học sinh tham gia đội tuyển thi học sinh giỏi cấp tỉnh thì cần xác định thời gian là cấp tốc, ngoài việc khái quát những kiến thức cơ bản, giáo viên định hướng và kích thích học sinh tự tìm hiểu phong cách viết truyện ngắn của một số nhà văn tiêu biểu trong chương trình với cái nhìn đối sánh Đồng thời giáo viên cũng nên đưa ra những bài tập chọn lọc vận dụng nhiều kiến thức tổng hợp và các dạng đề thường gặp khi thi HSG Thời gian học có thể từ 2 đến 4 tiết
II Tên sáng kiến:
Đặc trưng truyện ngắn và định hướng đọc - hiểu văn bản truyện ngắn trong nhà trường THPT
III Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Nguyễn Thúy Hằng
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Triệu Thái
- Số điện thoại: 0987.137.977
- E-mail: nguyenthuyhang.gvtrieuthai@vinhphuc.edu.vn
IV Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thúy Hằng
V Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
Trang 6Đề tài này, tôi tập trung đi sâu vào nghiên cứu đặc trưng truyện ngắn và định hướng đọc - hiểu văn bản truyện ngắn trong nhà trường THPT; vận dụng phương pháp này vào dạy học các bài đọc văn về thể loại truyện ngắn trong chương trình ngữ văn 11 Từ đó, giúp học sinh tìm ra được phương pháp học chủ động sáng tạo, khoa học và đạt hiệu quả cao
VI Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 20.10.2014 VII Mô tả bản chất của sáng kiến
1 Khái lược về truyện ngắn
- Khái niệm: truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ với một dung lượng
hiện thực, số lượng nhân vật, sự kiện, thời gian, không gian…tương đối hạn chế
- Thời gian xuất hiện: Truyện ngắn đích thực (phân biệt truyện ngắn
hiện đại với truyện ngắn thời trung đại, truyện kể dân gian) xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học, khoảng thời cận hiện đại, gắn liền với sự ra đời và phát triển của báo chí và chủ yếu phát triển trong 150 năm gần đây Đây là thể loại gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời
2 Những đặc trưng cơ bản của truyện ngắn
2.1 Truyện ngắn là một giới hạn về thế giới nghệ thuật (“ngắn”).
Một trong những đặc trưng nổi bật của truyện ngắn là: Truyện ngắn phải ngắn Chính việc truyện ngắn phải ngắn khiến nó tự phân biệt một cách dứt khoát và rành rọt bên cạnh truyện vừa và tiểu thuyết Đặc trưng này được biểu hiện qua một số phương diện cụ thể như sau:
- Ngôn ngữ, dung lượng: ngôn ngữ ít, số trang ngắn và bị giới hạn
(thường dưới 10 trang), đặc biệt có những truyện rất ngắn (chỉ một vài câu)
- Về mặt đề tài, chủ đề: dung lượng hay phạm vi đời sống được phản ánh
là có hạn Truyện ngắn không đặt ra nhiều vấn đề đời sống khác nhau trong tác phẩm mà thường chỉ xoay quanh một vấn đề
Chẳng hạn trong “Đời thừa” - Nam Cao: Đề tài và chủ đề dù có sự xung đột giữa ước mơ cao đẹp, lí tưởng nhân đạo và hiện thực xã hội khắc nghiệt
nhưng bi kịch của Hộ là bi kịch cá nhân của người trí thức nghèo trong xã hội
cũ
Trang 7- Thời gian trong truyện ngắn: truyện ngắn không phản ánh một quá trình
mà chỉ tập trung phản ánh một thời điểm tiêu biểu, một lát cắt, một “moment” của đời sống
Ví dụ: “Chí Phèo” (Nam Cao) tập trung kể lại khoảng thời gian 6 ngày cuối cùng của cuộc đời Chí Phèo “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân) xoay quanh tình huống gặp gỡ của Huấn Cao và quản ngục ở nhà tù trong mấy ngày cuối đời của Huấn Cao trước khi ra pháp trường để chịu án tử hình “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành) được kể trong một đêm khi Tnú được nghỉ phép về thăm làng Thậm chí tác phẩm “Sống chết mặc bay” (Phạm Duy Tốn) chỉ kể lại những
sự việc diễn ra trong 1 giờ
- Không gian được miêu tả trong truyện ngắn là không gian hẹp với 1 địa điểm cụ thể
Ví dụ: Làng Vũ Đại trong "Chí Phèo", làng Xô Man trong "Rừng xà nu", một phố huyện nghèo trong “Hai đứa trẻ”, một xóm ngụ cư trong "Vợ nhặt", một nhà lao ở vùng tỉnh Sơn trong “Chữ người tử tù”, thậm chí chỉ trong căn nhà của vợ chồng văn sĩ Hộ ở tác phẩm "Đời thừa"
- Sự kiện: Truyện ngắn thường ít sự kiện Trong tác phẩm thường tập
trung kể về một sự kiện chính nên cốt truyện tương đối đơn giản
Ví dụ: “Chí Phèo” (Nam Cao) xoay quanh sự kiện chính là cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở, Chí Phèo đã thức tỉnh lương tri tiềm ẩn trong con quỷ
dữ làng Vũ Đại, hắn khát khao lương thiện nhưng không được, cuối cùng Chí tìm đến cái chết “Hai đứa trẻ” tập trung khắc họa cảnh vật và một số hoạt động sinh hoạt của phố huyện nghèo từ chiều tà đến đêm tối qua con mắt của nhân vật Liên “Chữ người tử tù” với sự kiện chính là xin chữ và cho chữ giữa Huấn Cao
và Quản ngục "Vợ nhặt" xoay quanh tình huống nhặt được vợ của anh cu Tràng
- Nhân vật: số lượng nhân vật thường ít, tính cách không quá phức tạp
Nếu trong tiểu thuyết, số lượng nhân vật có thể lên đến hàng trăm thì nhân vật trong truyện ngắn rất ít “Chữ người tử tù” xoay quanh 3 nhân vật: Huấn Cao, quản ngục, thơ lại “Hai đứa trẻ” tập trung khắc họa Liên và An “Chí Phèo” tập
Trang 8trung khắc họa 3 nhân vật: Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến "Vợ chồng A Phủ" tập trung khắc họa nhân vật Mị và A Phủ
2.2 Truyện ngắn vẫn khắc phục những giới hạn này để vươn tới sức khái quát hiện thực, tạo ra sự hấp dẫn riêng
Truyện ngắn phải ngắn đòi hỏi phải cô đọng đến mức cao nhất Ngắn ở
truyện ngắn đồng nghĩa với cô đọng, tinh chất - nhìn vào đó có thể thấy cuộc sống hiện ra với đủ sắc màu của nó Theo tôi hiểu, toàn bộ truyện ngắn là một tấm thảm lớn lao về cả thời đại Với những mảnh tưởng như rất nhỏ bé, nó góp phần tạo nên cả tấm chân dung hoàn chỉnh Sêkhôp - bậc thầy truyện ngắn cũng quan niệm rằng: truyện ngắn là biết nói ngắn những truyện dài, lời chật mà ý rộng Cụ thể như sau:
- Đề tài nhỏ nhưng chủ đề lớn, có ý nghĩa hiện thực, nhân sinh và có tính triết lí cao.
+ “Số phận con người” của Sôlôkhốp với chủ đề: con người đứng dậy sau những mất mát, đớn đau bằng tình thương
+ “Chí Phèo” của Nam Cao với chủ đề: tình người làm hồi sinh tính người
+ Trong “Tư cách mõ”, Nam Cao muốn nêu lên một triết lí: tính cách con
người nảy sinh do hoàn cảnh chứ không phải bản tính trời cho Tính cách ấy có thể bị biến đổi theo chiều hướng tốt lên hoặc xấu đi là do hoàn cảnh chi phối Đặc biệt, chính sự ghen ghét, đố kị của con người có thể đẩy người khác đến chỗ biến dạng, đánh mất chính bản thân mình
+ Ở tác phẩm “Một bữa no”, Nam Cao khái quát chủ đề: Miếng ăn không phải là nghệ thuật ẩm thực nữa mà là miếng khổ, miếng nhục Tên tác phẩm là " Một bữa no" nhưng để nói về cái đói, về số phận rẻ rúng của con người trước cái đói, miếng ăn Trước cái đói, miếng ăn, con người trở nên thấp hèn với chính mình, với những người xung quanh
+ Với "Chữ người tử tù", Nguyễn Tuân muốn hướng tới chủ đề: Sự chiến thắng của cái đẹp, cái thiện với cái xấu, cái ác
- Không gian, thời gian dù bị hạn chế nhưng:
Trang 9+ Không gian được lựa chọn ở những thời khắc và những điểm không gian có ý nghĩa, có khả năng dồn nén sức nặng hiện thực và có khả năng nhận thức đối với nhân vật
Ví dụ: Truyện ngắn “Chí Phèo” chỉ chọn sáu ngày cuối cùng của cuộc đời Chí Phèo khi Chí gặp Thị Nở và thức tỉnh bản tính lương thiện Đó cũng là
tư tưởng chủ đạo mà Nam Cao gửi gắm trong tác phẩm Chọn không gian là một làng Vũ Đại - làng hội tụ tất cả những áp bức, bất công của bọn cường hào và nỗi cực khổ của người nông dân - chính là bức tranh thu nhỏ của xã hội Việt Nam đương thời
Truyện ngắn “Sống chết mặc bay” chỉ chọn thời điểm một giờ
trước và khi đê vỡ - thời điểm nguy kịch, góp phần vạch trần bản chất bàng quan, vô trách nhiệm, vô nhân đạo của những kẻ được coi là cha mẹ dân
Truyện ngắn "Chữ người tử tù" chỉ tập trung khắc họa nhân vật Huấn Cao trong mấy ngày cuối cùng của cuộc đời - khoảng thời gian vô cùng ngặt nghèo và quý báu, trong nhà lao - nơi tồn tại cái xấu, cái ác, sự nhơ bẩn
Từ đó góp phần làm nổi bật khí phách anh hùng, thiên lương trong sáng, chất nghệ sĩ tài hoa, cao hơn là sự chiến thắng của cái đẹp đối với cái xấu xa, nhơ bẩn
+ Không gian, thời gian còn được mở rộng bằng sự hồi tưởng bằng việc
kể lại quá khứ, bằng giấc mơ và kỉ niệm Do đó nhà văn vẫn khái quát được cả cuộc đời và cả một thế hệ, nhân vật vẫn hiện lên trọn vẹn
Ví dụ: Chí Phèo chỉ xuất hiện trong truyện với khoảng thời gian 6 ngày
nhưng truyện đã tái hiện được cả cuộc đời của nhân vật từ khi sinh ra đến khi chết, nhân vật vẫn hiện lên trọng vẹn, sống động thông qua dòng thời gian hồi
tưởng về quá khứ
Trong truyện ngắn "Rừng xà nu", thời gian trần thuật là một đêm Tnú được nghỉ phép về thăm buôn làng nhưng truyện đã tái hiện được toàn bộ cuộc đời Tnú từ khi sinh ra đến khi tiếp tục cầm súng tham gia chiến đấu sau những mất mát lớn lao Cùng với đó là cuộc đấu tranh và nổi dậy của dân làng
Xô Man từ những ngày đau thương đến chiến thắng thông qua lời kể lại của cụ
Trang 10Mết - già làng.
+ Thời gian, không gian còn được mở rộng về hướng tương lai, hướng
“mở” khiến câu chuyện được tiếp diễn, dòng đời chảy trôi vô tận Do đó, câu chuyện không phải là một khoảnh khắc, không dừng lại ở một lát cắt của cuộc đời mà là một dòng chảy trong đời sống
Ví dụ: “Chí Phèo” với kết thúc mở, gợi suy nghĩ về một Chí Phèo con ra đời nối nghiệp bố và cuộc sống khổ cực, bi thảm của người nông dân vẫn là một vòng luẩn quẩn, bế tắc Hiện tượng Chí Phèo dường như vẫn chưa kết thúc
Trong “Số phận con người”, Sôlôkhốp không chỉ tái hiện cuộc đời nhân vật trong quá khứ, hiện tại mà có cả niềm tin vào tương lai tươi sáng (qua dòng trữ tình ngoại đề)
- Nhân vật trong truyện ngắn tuy ít nhưng:
+ Nhân vật được miêu tả ở những khía cạnh nổi bật nhất: ngoại hình, nội tâm, hành động…
Ví dụ: nhân vật Chí Phèo được tập trung miêu tả ở các phương diện sau:
Ngoại hình được miêu tả tỉ mỉ từ đầu tóc, quần áo, tay, ngực, mặt…khi Chí mới đi ở tù về nhằm nhấn mạnh dấu hiệu báo trước về sự khác biệt đến dị
thường của con người này
Nội tâm: chỉ được miêu tả nội tâm ở đoạn đời sau khi gặp Thị Nở Lần đầu tiên sau bao năm tha hoá, biến chất thành “quỷ dữ”, Chí Phèo đã thoát khỏi
cơn say triền miên không ngày tháng để suy nghĩ về cuộc đời mình: đoạn đời đã qua, những ước mơ trong quá khứ chưa bao giờ thực hiện được và tương lai mờ mịt sắp tới Từ đó Nam Cao muốn khẳng định: bản chất lương thiện luôn tồn tại trong con người ở bất cứ hoàn cảnh nào
Hành động: Chí Phèo được miêu tả là kẻ lưu manh nên hành động của Chí phù hợp với tính cách lưu manh: uống rượu, rạch mặt ăn vạ ở nhà Bá Kiến, đòi nợ Đội Tảo, tỏ tình với Thị Nở, giết Bá Kiến…
+ Nhân vật còn được đặt trong tình huống để bộc lộ nhận thức và hành động Tình huống là kết quả của nhiều sự kiện Nó buộc nhân vật phải hành động, trong tình huống ấy nhân vật bộc lộ mình rõ nhất