Đề bài Câu 1 Nêu khái niệm toàn cầu hóa và ngành toàn cầu? Nêu ví dụ về một số ngành toàn cầu Câu 2 Vẽ mô hình “Tổng quan về môi trường kinh doanh toàn cầu” ? Nêu ví dụ minh họa về nội dung “Bảo hộ song hành cùng tự do hóa” ? Câu 3 Phân tích có liên hệ thực tế sự tác động của hai nhóm Yếu tố kỹ thuật và yếu tố cạnh tranh trong mô hình Một số yếu tố thúc đẩy toàn cầu hóa đối với một công ty kinh doanh cụ thể mà anh (Chị) biết? Bài làm Câu 1 Khái niệm Toàn cầu hóa Theo nghĩa rộng Toàn cầu hóa là q.
Trang 1Đề bài
Câu 1: Nêu khái niệm toàn cầu hóa và ngành toàn cầu? Nêu ví dụ về một số ngành toàn
cầu
Câu 2: Vẽ mô hình “Tổng quan về môi trường kinh doanh toàn cầu” ? Nêu ví dụ minh
họa về nội dung “Bảo hộ song hành cùng tự do hóa” ?
Câu 3: Phân tích có liên hệ thực tế sự tác động của hai nhóm Yếu tố kỹ thuật và yếu tố
cạnh tranh trong mô hình Một số yếu tố thúc đẩy toàn cầu hóa đối với một công ty kinh
doanh cụ thể mà anh (Chị) biết?
Bài làm
Câu 1:
Khái niệm Toàn cầu hóa:
- Theo nghĩa rộng: Toàn cầu hóa là quá trình gia tăng mạnh mẽ những mối liên
hệ, ảnh hưởng, tác động và phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, làm nổi bật hàng loạt biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó có thể làm phát sinh một loạt điều kiện mới
- Dưới góc độ kinh doanh: toàn cầu hóa chỉ quá trình hình thành thị trường toàn
cầu làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia Biểu hiện của toàn cầu hóa là quá trình chuyển đổi của ngành có cấu trúc cạnh tranh thay đổi dần dần từ đa quốc gia đến toàn cầu
+ Ví dụ: Ngành công nghiệp viễn thông, chế biến thực phẩm, chăm sóc cá nhân
và bán lẻ
Khái niệm về Ngành toàn cầu: Ngành toàn cầu là những ngành mà trong đó để
tồn tại các đối thủ cạnh tranh phải hoạt động trên nhiều thị trường quốc gia bằng cách tích hợp và phối hợp trong hoạt động kinh doanh
+ Ví dụ về ngành toàn cầu: Ngành hàng không, máy tính, thiết bị viễn thông, thiết
bị gia dụng, các dự án công nghiệp lớn, bảo hiểm và tái bảo hiểm, truyền dữ liệu
Câu 2:
I. Mô hình “Tổng quan về môi trường kinh doanh toàn cầu”
Tự do hóa thương mại
Các xu
Trang 2II Ví dụ minh họa về nội dung “Bảo hộ song hành cùng tự do hóa”
1 Giải thích 1 số khái niệm:
a Bảo hộ thương mại:
Khái niệm: Bảo hộ thương mại (hay Bảo hộ mậu dịch) là việc áp dụng nâng cao
một số tiêu chuẩn thuộc các lĩnh vực như chất lượng, vệ sinh, an toàn, lao động, môi trường, xuất xứ hay việc áp đặt thuế xuất nhập khẩu cao đối với một số mặt hàng nhập khẩu nào đó để bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong nước
b Tự do hóa thương mại :
Khái niệm: Tự do hóa thương mại là loại bỏ hoặc giảm bớt các hạn chế hoặc rào
cản đối với trao đổi hàng hóa tự do giữa các quốc gia Những rào cản này bao gồm thuế quan (chẳng hạn như thuế và các phụ phí), các khoản không phải thuế quan (chẳng hạn như các quy tắc được cấp phép và hạn ngạch) Các nhà kinh tế thường xem việc nới lỏng hoặc xóa bỏ những hạn chế này là nỗ lực thúc đẩy tự do hóa thương mại
2 Ví dụ thực tiễn: Việt Nam áp dụng biện pháp bảo hộ song hành cùng tự do hóa
đối với mặt hàng nông sản
Hiệu ứng
Domino
mạnh mẽ
Hình thành chuỗi cung ứng khu vực
Các xu
Trang 3Trong lộ trình trở thành thành viên WTO, Việt Nam đã thực hiện các cam kết mở cửa thị trường theo quy định của WTO đồng thời đã xây dựng được một hệ thống các biện pháp phù hợp để bảo hộ ngành nông sản trong nước Cụ thể như sau:
Đối với các cam kết mở cửa thị trường nông sản theo quy định của WTO:
- Về mức cam kết giảm thuế chung: Việt Nam đã cam kết cắt giảm thuế bình quân là 10,6% so với Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) hiện hành
- Về mức giảm thuế đối với từng nhóm hàng nông sản:
+ Các loại nông sản chế biến (như thịt, sữa, rau quả chế biến, thực phẩm chế biến, quả ôn đới và quả có múi) phải giảm nhiều hơn so với nông sản thô + Các loại nông sản thô (gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều,…) : mức thuế nhập khẩu những sản phẩm này rất ít hoặc không giảm
- Bên cạnh đó, Việt Nam cũng ký kết nhiều Hiệp định thương mại song phương
và đa phương áp dụng cho mặt hàng nông sản khi gia nhập vào WTO như Hiệp định Nông nghiệp, Hiệp định Quy tắc xuất xứ, Hiệp định về Thủ tục Cấp phép nhập khẩu,…
Đối với hệ thống biện pháp phi thuế quan của Việt Nam với hàng nông sản nhập khẩu để bảo hộ thương mại trong nước trong tiến trình tự do hóa:
Bên cạnh những cam kết mở cửa thị trường nông sản đã nêu trên cùng với xu hướng giảm thuế quan trong thương mại khi gia nhập WTO, Việt Nam đã đồng thời xây dựng và trang bị được một hệ thống biện pháp phi thuế quan chặt chẽ, dạy đặc và tinh vi để bảo hộ sản xuất kinh doanh và nhằm kiểm soát luồng hàng hóa nhập khẩu vào thị trường trong nước
- Cụ thể, tính đến năm 2018, Việt Nam đang đưa vào áp dụng 330 biện pháp phi thuế quan, trong khi đó, nước ta cũng thuộc nhóm quốc gia có số lượng biện pháp phi thuế quan bình quân áp dụng cho nhóm hàng nông sản nhiều nhất (trung bình hơn 22 Biện pháp phi thuế quan được áp dụng đối với hàng nông sản)
- Theo thống kê từ Cơ sở dữ liệu WITS-UNCTAD(2018), Việt Nam đã áp dụng biện pháp phi thuế quan đối với các mặt hàng nông sản dựa trên 3 nhóm hàng chính
+ Nhóm 1: Động vật và các sản phẩm có nguồn gốc động vật Trong đó, 246 sản
phẩm thuộc nhóm này bị áp đặt biện pháp Kiểm dịch vệ sinh động thực vật (SBS)
và 223 sản phẩm bị áp dụng biện pháp Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)
+ Nhóm 2: Thực vật và các sản phẩm có nguồn gốc thực vật Trong đó có 319 sản
phẩm thuộc nhóm này bị áp đặt biện pháp Kiểm dịch vệ sinh động thực vật (SBS)
và 227 sản phẩm bị áp dụng biện pháp Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)
Trang 4+ Nhóm 3: Sản phẩm nông sản chế biến Trong đó 204 sản phẩm thuộc nhóm này
bị áp đặt biện pháp Kiểm dịch vệ sinh động thực vật (SBS) và 200 sản phẩm bị áp dụng biện pháp Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) khi nhập khẩu vào Việt Nam
Một số trường hợp nghiên cứu về các quan ngại của nước xuất khẩu đối với việc
áp dụng các biện pháp Kiểm dịch vệ sinh động thực phẩm (SBS) của Việt Nam đối với một số mặt hàng nông sản:
- Trường hợp 1: Tháng 10 năm 2015, Chile nêu quan ngại khi Việt Nam chậm
chễ trong quy trình kiểm duyệt của Việt Nam đối với các sản phẩm thịt và sữa
từ quốc gia này
- Trường hợp 2: Tháng 11 năm 2019, Hoa Kỳ nêu mối quan ngại khi Việt Nam
có những biểu hiện hạn chế nhập khẩu các sản phẩm chăn nuôi của Hoa Kỳ, bao gồm thịt và gia cầm
Tổng kết : Qua ví dụ cụ thể về nhóm hàng nông sản của Việt Nam, có thể thấy
song song với những cam kết mở cửa thị trường khi gia nhập vào WTO, Việt Nam
đã có những biện pháp bảo hộ thương mại chặt chẽ, hợp lý, minh bạch để bảo hộ sản xuất kinh doanh trong nước và thực hiện những biện pháp kỹ thuật về tiêu chuẩn sản phẩm, vệ sinh an toàn để bảo vệ người tiêu dùng trong nước, góp phần đẩy mạnh sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hóa của Việt Nam
Câu 3 :
Toàn cầu hóa đang là một xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay Các công ty đa quốc gia, công ty quốc tế ngày càng tham gia vào quá trình này một cách sâu sắc và liên tục để điều chỉnh các hoạt động của mình nhằm phù hợp hơn với các điều kiện kinh doanh ngày càng thay đổi của thị trường toàn cầu Bên cạnh đó, các yếu tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa của các doanh nghiệp đó là Các nhân tố kỹ thuật, Các nhân tố xã hội, Các nhân tố cạnh tranh, Các nhân tố chính trị Sau đây, em xin phân
tích sự thúc đẩy của 2 nhóm Yếu tố kỹ thuật và Yếu tố cạnh tranh đối với tiến trình toàn
cầu hóa của tập đoàn TOYOTA
A Giới thiệu sơ lược về tập đoàn TOYOTA:
Trang 5- Tập đoàn Toyota là một nhà sản xuất ô tô đa quốc gia của Nhật Bản có trụ sở tại Toyota, Aichi
- Năm 1934 chiếc xe mẫu đầu tiên ra đời và được đưa vào sản xuất đại trà vào năm 1935 Ngày 28 tháng 8 năm 1937 công ty Toyota Motor Corporation chính thức ra đời, mở ra một kỷ nguyên với những thành công rực rỡ trong ngành công nghiệp ô tô
- Tính đến năm 2017, cơ cấu doanh nghiệp của Toyota bao gồm 364.445 nhân viên trên toàn thế giới Toyota là công ty lớn thứ 6 trên thế giới tính theo doanh thu Đây cũng là tập đoàn sản xuất ô tô đầu tiên trên thế giới với hơn 10 triệu
xe mỗi năm
- Các dòng xe của Toyota phải kể đến như Toyota Vios, Toyota Corolla Altis,
Toyota Camry, Toyota Fortuner, Toyota Yaris
- Toyota hiện có 63 nhà máy trong số đó 12 nhà máy ở Nhật Bản, 51 nhà máy
còn lại ở 26 nước khác nhau trên toàn thế giới phải kể đến như Trung Quốc, Pháp, Anh, Indonexia, Việt Nam, Úc, Canada, Mỹ
B Phân tích sự tác động của 2 nhóm yếu tố kỹ thuật và yếu tố cạnh tranh đối với tập đoàn TOYOTA trong tiến trình toàn cầu hóa.
I Các yếu tố kỹ thuật:
1 Sự thúc đẩy của yếu tố kỹ thuật đối với tiến trình toàn cầu hóa:
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ có tác động mạnh mẽ và là động lực quan trọng để thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa Các yếu tố liên quan đến khía cạnh này bao gồm: vận tải, thông tin liên lạc (truyền thông) và lợi thế kinh tế theo quy mô Những yếu tố này cho phép giảm chi phí vận chuyển và chi phí thông tin liên lạc cũng như chi phí sản xuất thông qua lợi thế kinh tế theo quy mô hoặc nội địa hóa năng lực sản xuất và nguồn cung ứng của các nền kinh tế với chi phí thấp Cụ thể:
Chi phí giao thông vận tải và thông tin liên lạc (truyền thông) đã giảm đáng kể
trong bối cảnh toàn cầu hóa, trong đó viễn thông là lĩnh vực giảm chi phí đáng kể nhất Với việc sử dụng sợi cáp quang và giảm chi phí cho việc sử dụng vệ tinh, thông tin liên lạc đã được truy cập trên toàn thế giới đặc biệt là thông qua Internet Bên cạnh đó, sự ra đời và tốc độ giảm chi phí máy tính một cách nhanh chóng đã mang đến nhiều lợi thế cho những doanh nghiệp khi thực hiện tiến trình toàn cầu hóa của mình
Tiến bộ về kỹ thuật và công nghệ sản xuất đã tạo ra xu hướng thúc đẩy nhu cầu
tập trung sản xuất tại các nhà máy đẳng cấp thế giới Chưa hết ở đó, các công ty còn có
Trang 6thể tìm kiếm các nguồn linh kiện hoặc dịch vụ từ các quốc gia có chi phí thấp bằng cách thiết lập các hoạt động của chính mình hoặc thông qua trao đổi tại các địa phương
Nhờ sự phát triển của các yếu tố kỹ thuật - công nghệ hiện đại mà thương mại
và trao đổi quốc tế về hàng hóa, dịch vụ, vốn, lao động và tri thức giữa các quốc gia ngày càng có xu hướng tăng Điều này là một đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa của những công ty Đối với một doanh nghiệp, công nghệ kỹ thuật là một yếu tố không thể thiếu, đặc biệt khi mà khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển nhanh chóng và việc phát minh ra các thiết bị máy móc hiện đại để đáp ứng nhu cầu con người ngày càng xuất hiện nhiều hơn Việc nhận biết, áp dụng các thành tựu đó vào sản xuất, quản lý, bán hàng giúp các doanh nghiệp tạo ra lợi thế riêng cho mình, từ đó có được vị thế riêng biệt trên thị trường toàn cầu
2 Liên hệ thực tiễn: Các yếu tố kỹ thuật thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa của tập đoàn TOYOTA:
Nhận thức được tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật công nghệ, tập đoàn
TOYOTA đã không ngừng nghiên cứu và cập nhật cũng như áp dụng vào quy trình sản xuất các sản phẩm của công ty mình
a Toyota đã tận dụng giá trị của mỗi quốc gia theo tính kinh tế của quy mô để tiếp cận nguồn lực giá rẻ, đáp ứng yêu cầu R&D của từng khu vực địa lý
Đứng trước nhiều áp lực về giảm thiểu chi phi ngày càng tăng, khi mà các mẫu xe hơi đang dần tiêu chuẩn hóa, Toyota đã thiết kế và sản xuất sản phẩm của mình trong việc sử dụng nhiều bộ phận và đầu tư vào các nhà máy sản xuất các linh kiện rời theo quy
mô lớn đặt ở những địa điểm thích hợp tại mỗi quốc gia nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô Ngoài ra, những nhà máy ở khắp nơi trên thế giới giúp cho việc khai thác tài nguyên và tận dụng lợi thế sản xuất ở từng vùng, từng khu vực giúp chi phí bán hàng quốc tế sẽ giảm Cụ thể:
Tại Thái Lan, Toyota tận dụng các vị trí trung tâm thuận lợi để xây dựng các
công ty chuyên về lắp ráp một số linh kiện để giảm thiểu tối đa chi phí phí sản xuất Đặc biệt phải kể đến nhà máy sản xuất Thai Auto Works ở Samrong được xây dựng ở vùng ngoại ô Bangkok và bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1988, giúp cho những mẫu phụ tùng
ô tô cùng loại và kích thước từ Thái Lan (có giá 1,5 USD) rẻ hơn so với các nhà cung ứng
từ Việt Nam (có giá 4 USD) và sản xuất được sản lượng 60.000 xe mỗi năm, chủ yếu được xuất khẩu ra các nước Châu Âu, châu Á Thái Bình Dương Và để tận dụng tối đa lợi thế về vị trí ở Thái Lan, Toyota đã mua lại Daihatsu và sáp nhập chúng thành Toyota Daihatsu Emerging-Market Compact Car (sản xuất ô tô cỡ nhỏ) Công ty này sẽ được đặt
Trang 7tại Thái Lan để sản xuất xe xanh cho các thị trường ô tô mới nổi với kế hoạch cuối cùng
là cung ứng những chiếc này cho thị trường toàn cầu.
Tại Việt Nam, để tận dụng nguồn nhân công giá rẻ, đóng thời cung cấp cho thị
trường trong nước và giảm chi phí vận chuyển, công ty Toyota Việt Nam cũng đã được thành lập vào 1995 tại Mê Linh, Vĩnh Phú (nay là thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc) Hiện nay Toyota là hãng bán nhiều xe con nhất tại Việt Nam với 27% thị phần trung bình toàn ngành Cả 5 cái tên là Vios, Altis, Camry, Innova, Fortuner do TMV sản xuất đều liên tục nằm trong nhóm 10 xe bán chạy nhất thị trường, đặc biệt Vios nhiều tháng đứng top 1 Hơn hết Toyota luôn nhận được sự yêu thích của người Việt bởi chất lượng cao, bền bỉ, tiết kiệm chi phí sử dụng, an toàn và thiết kế phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng Sau 20 năm có mặt tại thị trường, tổng doanh số bán ra của TMV đạt trên 367.000 xe (tính đến hết tháng 3/2016)
Tại Mỹ, Toyota đang đầu tư cho các dự án nhà máy sản xuất cỡ lớn, đáp ứng cho
chính thị trường rộng lớn này Toyota liên doanh với General Motors thành lập nhà máy sản xuất đầu tiên ngoài lãnh thổ của hãng tại thị trường Mỹ là NUMMI vào năm 1983 Việc liên doanh hình thành NUMMI không chỉ giúp Toyota tiết kiệm chi phí vận chuyển, tránh các hàng rào bảo hộ thuế quan mà còn giúp hãng hiểu thêm về phong cách làm việc
ở địa phương cũng như các tiêu chuẩn và quy chuẩn ở Mỹ Nhà máy này còn đạt được năng suất gần bằng với nhà máy chính Takaoka tại Nhật (Năm 1987, NUMMI mất khoảng 19 giờ để lắp ráp hoàn chỉnh một chiếc xe, trong khi Takaoka mất khoảng 16 giờ; đồng thời số lỗi trên 100 chiếc xe của hai nhà máy là ngang nhau) Thành công của NUMMI đã đánh dấu cột mốc quan trọng trong quá trình xây dựng thị trường bền vững tại Mỹ của Toyota Tính đến năm 2006, Toyota đã đầu tư 16,8 tỷ USD vào Mỹ để xây dựng các nhà máy ở Kentucky, California, Indiana, Texas và Ontario; sản xuất 1,5 triệu
xe mỗi năm và chiếm 60% doanh số của Toyota tại thị trường châu Mỹ
b Đối với khía cạnh thông tin liên lạc (truyền thông):
Toyota đã tận dụng lợi thế của Internet và truyền hình xuyên quốc gia để quảng cáo sản phẩm của mình tại nhiều nước cùng một lúc
- Chiến dịch quảng bá thương hiệu của Toyota:
Toyota đã chi 20 triệu euro (26,3 triệu USD) cho chiến dịch quảng cáo mang tên
“Toyota của bạn cũng là Toyota của chúng tôi” trên các kênh truyền hình, báo giấy và báo online nhằm gửi gắm thông điệp của mình Toyota cam kết đảm bảo chất lượng và tiêu chuẩn an toàn đồng thời làm cho khách hàng tin rằng tất cả mọi công nhân đều chăm sóc mỗi chiếc xe của khách hàng cẩn thận như chăm sóc chính chiếc xe của họ
Trang 8Các hình ảnh, đoạn băng quảng cáo sẽ bắt đầu xuất hiện trên các tờ báo thương mại
và các kênh truyền hình BBC World và CNN vào tháng 5/2013, đầu tiên Toyota sẽ quảng cáo ở Đức và Anh, sau đó là một số thị trường tiêm năng khác ở Châu Âu như Pháp, Ý và Tây Ban Nha
Toyota đã có sự hợp tác rất thành công cùng Đại lý quảng cáo Saatchi & Saachi để giới thiệu sản phẩm của mình vào nước Mỹ Toyota luôn sẵn sàng tiếp nhận những cách thức và phương tiện truyền thông hiện đại mà Saatchi & Saachi đề xuất Quảng cáo và tiếp thị luôn thay đổi Trước đây sản phẩm chỉ xuất hiện tại 3 kênh truyền hình chính ở
Mỹ, ngày nay với sự phát triển của kỹ thuật – công nghê hiện đại, sợi cáp quang ổn định nên sản phẩm của TOYOTA đã xuất hiện hàng loạt trên các kênh truyền hình cáp nên việc truyền thông đến khách hàng mục tiêu càng dễ dàng hơn bao giờ hết Không chỉ sử dụng các phương tiện truyền thông cổ điển như quảng cáo ti vi, báo chí Toyota và
Saatchi còn phát triển hệ thống truyền thông tương tác giữa từng khách hàng và công ty thông qua việc xây dựng và phát triển thành công trang web Toyota.com Trang web này
là một trong những trang web đầu tiên của ngành ô tô ở Mỹ
- Dịch vụ chăm sóc khách hàng xuyên quốc gia được cải thiện nhờ có mạng lưới Internet phát triển:
Dựa trên bối cảnh của sự phát triển mạnh mẽ liên quan đến quá trình đổi mới công nghệ thông tin, sự ra đời của máy tính và tốc độ phát triển nhanh chóng của mạng
Internet, Toyota đã bắt tay với công ty điện toán đám mây Salesforce.com lập nên Toyota Friend, một trang mạng xã hội dành riêng cho những người đang sở hữu xe hơi hiệu Toyota Toyota Friend sẽ được truy cập thông qua máy tính để bàn (PC), máy tính bảng
và Smartphone, mang lại cho khách hàng Toyota khả năng kết nối với những chiếc xe, các đại lý và bản thân hãng Toyota Thí dụ, xe ô tô của người dùng có thể gửi cho chủ nhân của chúng một cảnh báo mỗi khi cần phải xạc thêm điện hoặc chủ nhân của chiếc xe
có thể kết nối với đại lý để nhận được lời khuyên về bảo trì và thông tin dịch vụ
Toyota Friend về cơ bản là mạng xã hội riêng dành cho những người sở hữu xe hơi Toyota nhưng khách hàng vẫn có thể kết nối và mở rộng trải nghiệm này thông qua các mạng xã hội phổ biến khác như Facebook và Twitter
Về mặt tài chính, Salesforce.com đầu tư 2,7 triệu USD và hãng Toyota đầu tư 5,4 triệu USD vào Toyota Media Service Bộ phận này có nhiệm vụ giám sát việc phát triển nền tảng đám mây toàn cầu của Toyota Microsoft cũng đầu tư 4,3 triệu USD vào nền tảng này
Kết luận: Như vậy, từ sự phân tích về các yếu tố kỹ thuật thúc đẩy tiến trình toàn
cầu hóa của tập đoàn Toyota, chúng ta có thể thấy được sự đổi mới, cải tiến, phát triển mạnh mẽ những khía cạnh về giao thông vận tải, truyền thông (thông tin liên lạc) đã góp
Trang 9phần xây dựng nên sự thành công của Toyota trên thị trường toàn cầu, tạo nên sự khác biệt của thương hiệu này so với những đối thủ cạnh tranh trên toàn thế giới, để từ ấy có thể mang lại được nhiều lợi ích theo quy mô cho chính tập đoàn trong xu thế phát triển trên phạm vi toàn cầu
II Các yếu tố cạnh tranh:
1 Sự tác động của yếu tố cạnh tranh đối với tiến trình toàn cầu hóa:
Trong bối cảnh của nền kinh tế toàn cầu hóa, sự cạnh tranh gắn liền với việc mở rộng quan hệ cũng trở nên quyết liệt hơn bao giờ hết Xu thế mới nhất trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới và cũng là xu thế cơ bản của cạnh tranh quốc tế hiện nay là tất cả các nước đều phải gia tăng thực lực kinh tế của mình và lấy đó làm điểm tựa chính để mở rộng khả năng tham dự vào cuộc cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên phạm vi toàn cầu Bên cạnh đó, xu hướng cạnh tranh quốc tế lấy thực lực làm kinh tế cốt lõi ngày càng quyết liệt đó cũng khiến cho nền kinh tế thế giới phải phát triển theo hướng quốc tế hóa
và tập đoàn hóa khu vực Phương diện về yếu tố cạnh tranh dựa trên 2 khía cạnh sau:
- Thứ nhất, cạnh tranh về chiến lược tạo thương hiệu toàn cầu:
Toàn cầu hóa kinh tế và nhất thể hóa kinh tế khu vực làm gia tăng sự liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp của các nước nhưng đồng thời cũng buộc các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau ngày càng gay gắt
Thực tế, các công ty Nhật Bản và Hàn Quốc đã thông qua cách tiếp cận toàn cầu ngay từ khi bắt đầu công cuộc mở rộng quốc tế của mình Ngay từ đầu, các công ty này
đã thiết kế sản phẩm cho thi trường thế giới, tạo ra các thương hiệu toàn cầu của riêng mình (ví dụ như Sony, Panasonic hay Samsung), và với hệ thống sản xuất hiệu quả đã mang đến cho họ rất nhiều lợi thế về chi phí
Kết quả là : Các đối thủ cạnh tranh đã phải lựa chọn động thái chiến lược tương tự nếu
như họ muốn sống sót trên thị trường
- Thứ hai, sự toàn cầu hóa của khách hàng cũng là một lực lượng cạnh tranh
có thể thúc đẩy toàn cầu hóa đối với các công ty
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là tin học đã và đang làm thay đổi vai trò của các nguồn năng lực tăng trưởng Vì vậy, cạnh tranh không chỉ là cạnh tranh về giá cả và chất lượng mà cạnh tranh hướng vào thỏa mãn nhu cầu của khách hàng toàn cầu Điều này cho thấy hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải năng động hơn, luôn đổi mới
để bám sát nhu cầu của khách hàng
Trang 10 Điểm mới của cạnh tranh trong kỷ nguyên toàn cầu hóa là cạnh tranh trong một khuôn khổ được quản lý Các quốc gia tham dự hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới đều phải tuân thủ các quy chế và các luật chơi hiện hành, vì vậy cạnh tranh sẽ càng quyết liệt hơn Trong điều kiện cạnh tranh này doanh nghiệp thắng đòi hỏi phải có sự cố gắng vượt lên, thắng bằng chính ưu thế, thực lực của bản thân Đối với những doanh nghiệp đi sau càng phải nỗ lực nếu như không muốn bị thua và tụt hậu lại
2 Các yếu tố cạnh tranh thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa của tập đoàn
TOYOTA:
a Toyota đã theo dõi và đáp ứng lại tính cạnh tranh toàn cầu khi có cho mình chiến lược xây dựng thương hiệu cho thị trường thế giới Đây cũng là yếu tố giúp tập đoàn này khẳng định vị thế riêng có của mình so với các đối thủ khác trên thị trường toàn cầu:
Hai đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Toyota là General Morors (GM) và Ford GM
đã giữ ngôi vị nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới trong suốt 77 năm kể từ khi “phế truất” Ford vào năm 1931
Năm 2006: GM đã vượt xa Toyota tại Trung Quốc, thị trường lớn thứ 3 thế giới sau Nhật và Mỹ Năm 2005, GM chiếm 11% thị phần xe hơi Trung Quốc, trong khi Toyota chỉ có 3,5% Tại đây, GM đã có 5 nhà máy liên doanh lắp ráp gần như toàn bộ các mẫu
xe của GM bán tại Trung Quốc và dự tính sẽ đầu tư thêm 3 tỷ USD trong giai đoạn
2004-2007 để mở rộng sản xuất
Chính vì những điều trên, Toyota bắt buộc phải tạo cho mình những con đường
đi, một chiến lược thật đúng đắn để xây dựng thương hiệu riêng biệt của mình để không
bị đè bẹp so với đối thủ Nhờ những áp lực cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ và đường đi đúng đắn của mình mà chỉ trong Quý 1/2007, Toyota đã tạm thời “dẫn trước” General Motors (GM) để trở thành hãng xe hơi lớn nhất thế giới, với doanh số năm 2008 cao hơn
GM khoảng 620.000 xe Vậy, điều gì đã giúp Toyota mang lại chiến thắng vẻ vang như vậy?
Thứ nhất, đó chính là đặc điểm nhận diện thương hiệu riêng biệt của Toyota nhờ vào quá trình xây dựng thương hiệu riêng cho thị trường thế giới:
Hệ thống nhận diện thương hiệu Toyota phát triển mạnh mẽ dựa trên nền tảng những giá trị cốt lõi, đó là sản xuất những chiếc xe chất lượng cao nhất, và nhận diện thương hiệu Toyota vẫn tiếp tục vươn lên trước các đối thủ cạnh tranh Người thành lập
ra công ty luôn tin rằng việc cải tiến theo phương pháp Kaizen đã và đang giúp nhận diện