HỒ CHÍ MINH ---***---ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại ĐỀ TÀI: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ ĐẶT ĐỒ ĂN TRỰC TUYẾN QUA ỨNG DỤNG DI ĐỘNG C
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II – TP HỒ CHÍ MINH
-*** -ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
ĐỀ TÀI:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ ĐẶT ĐỒ ĂN TRỰC TUYẾN QUA ỨNG DỤNG DI ĐỘNG CỦA GIỚI TRẺ TRÊN ĐỊA BÀN TP.
HỒ CHÍ MINH
Nhóm sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Minh Phương – MSSV: 2011156089 Phan Nguyễn Thiên Trang – MSSV: 2011155631 Đặng Thế Trường – MSSV: 2011155650
Nguyễn Đoàn Mỹ Uyên – MSSV: 2011156115
Lê Nhã Uyên – MSSV: 2011156116
Mã lớp: K59CLC5
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2020
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU………1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và tính mới………2
1.2.1 Tổng quan.……… …… 2
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài …
……… 2
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước……… 7
1.2.2 Tính mới……….8
1.3 Mục tiêu nghiên cứu……….9
1.4 Câu hỏi nghiên cứu……… 9
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……….10
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu……… 10
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu……… 10
1.6 Phương pháp nghiên cứu……… 10
1.6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính……….10
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng……… 11
1.7 Cấu trúc của đề tài……….11
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU……… 13
2.1 Các khái niệm chính……… 13
2.1.1 Khái niệm dịch vụ……….13
2.1.2 Khái niệm dịch vụ điện tử……… 13
2.1.3 Dịch vụ đặt và giao đồ ăn trực tuyến……… 13
2.1.4 Ứng dụng di động đặt đồ ăn trực tuyến……… 15
2.2 Cơ sở lý thuyết về hành vi tiêu dùng và quyết định mua sắm (sử dụng)………… 15
2.2.1 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng……….16
Trang 32.2.3.1 Trình bày mô hình……… 16
2.2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định theo Philip Kotler………… 18
2.3 Các mô hình lý thuyết đánh giá quyết định sử dụng dịch vụ đặt và giao món ăn truyền thống qua ứng dụng di động……… 19
2.3.1 Mô hình thuyết hành động hợp lí (TRA – Theory of Reasoned Action)………… 19
2.3.2 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM – Technology Acceptance Model)………….20
2.3.3 Mô hình nghiên cứu và sử dụng công nghệ……… 22
2.4 Mô hình nghiên cứu……… 23
2.4.1 Nghiên cứu tham khảo………23
2.4.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu……… 23
2.4.2.1 Mô hình nghiên cứu các yếu tổ ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ đặt và giao món trực tuyến thông qua ứng dụng di động……….23
2.4.2.2 Giả thuyết nghiên cứu………24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 28
3.1 Phương pháp nghiên cứu định tính……… 28
3.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng……… 28
CHƯƠNG 4: KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU……… 29
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.……… 31
Trang 4STT Từ viết Tiếng Anh Tiếng Việt
tắt
1 BMI Body Mass Index Chỉ số khối cơ thể
2 EFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá
3 FC Facilitating Conditions Điều kiện thuận lợi
4 FDA Food Delivery Application Ứng dụng đặt món
6 OFDS Online Food Delivery System Hệ thống giao đồ ăn trực
tuyến
7 PE Performance Expectancy Hiệu suất kì vọng
8 PEU Perceived Ease of Use Tính dễ sử dụng cảm nhận
9 PU Perceived Usefulness Tính hữu ích cảm nhận
11 SC Social Influence Ảnh hưởng xã hội
12 TAM Technology Acceptance Model Mô hình chấp nhận công
nghệ
14 TRA Theory of Reasoned Action Thuyết hành động hợp lý
15 UTAUT Unified Theory of Acceptance and Use of Thuyết chấp nhận và sử dụng
Teachnology công nghệ
Trang 5download by : skknchat@gmail.com
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với ứng dụng rộng rãi của công nghệ thông tin hiện đại và sự phủ sóng Internet,thương mại điện tử (TMĐT) trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã và đang cónhững bước chuyển biến mạnh mẽ, xâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh doanh như: trang bán lẻ,trang mua theo nhóm, diễn đàn rao vặt, chợ mua bán trực tuyến và đặc biệt là các ứng dụngđặt đồ ăn trực tuyến
Giao nhận đồ ăn trực tuyến là mảng kinh doanh đang thu hút hàng tỉ đô la Mỹ đầu tưtrên khắp thế giới, từ các quỹ đầu tư mạo hiểm đang muốn tạo nên một công ty tầm cỡ nhưGrubHub và Just Eat Ở Việt Nam, nền tảng này cũng đang không ngừng nở rộ và mọc lênnhanh chóng Qua số liệu thống kê của một số tổ chức, thị trường đặt món trực tuyến ở ViệtNam hiện đang rất tiềm năng Theo thống kê từ Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam, năm 2017,mới chỉ có 30% số người dân thành thị sử dụng các dịch vụ đặt món trực tuyến tại Hà Nội vàTP.HCM nhưng trong 6 tháng đầu năm 2018, con số này đã lên tới hơn 70% Như vậy, chỉtrong một năm, lượng người dùng dịch vụ này đã tăng tới 40%, một tốc độ quá nhanh, mặc
dù mới chỉ giới hạn ở khu vực thành thị, nơi tập trung lượng dân văn phòng lớn Theo công tynghiên cứu thị trường và dữ liệu người tiêu dùng Statista, doanh thu trong mảng giao nhậnthực phẩm trực tuyến tại Việt Nam đạt 146 triệu USD năm 2019 Trong đó, mảng giao đồ ăntrực tiếp từ nhà hàng cho khách đạt 127 triệu USD, với 7,3 triệu người dùng, trong khi giaodịch qua cổng ứng dụng (platform to consumers) là 19 triệu USD, tương đương 1,2 triệungười dùng và tăng trưởng 68,8% hằng năm Theo một kết quả nghiên cứu mới đượcGCOMM công bố, 5 ứng dụng đặt đồ ăn trực tuyến phổ biến nhất tại thị trường Việt Namgồm GrabFood, Delivery Now (Foody), GoFood, Lala và Lixi, theo thứ tự mức độ phổ biến.GrabFood, dịch vụ giao đồ ăn của Grab, được thành lập tại Việt Nam sau khi có mặt tạiIndonesia và Thái Lan Theo số liệu do Grab công bố, GrabFood đang đạt mức tăng trưởng
ấn tượng (81% thị phần) tại TP.HCM và Hà Nội, đồng thời đã cung cấp dịch vụ cho 15 tỉnhthành trên khắp đất nước sau một năm Bên cạnh đó, tháng 7/2017, nhà sáng lập của Foodytừng chia sẻ Now có gần 10.000 đơn hàng mỗi ngày Con số ở thời điểm hiện tại có thể đãcao hơn nhiều
Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch toàn cầu COVID-19 đang hoành hành, khi người dânbắt buộc phải ở nhà và thực hiện cách ly xã hội thì các dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến
Trang 7càng trở nên phổ biến hơn bao giờ hết Thị trường gọi món trực tuyến tại Việt Nam chứngkiến nhiều sự phát triển vượt bậc do tác động của giãn cách xã hội, cụ thể, một khảo sát đượcthực hiện gần đây của Nielsen đã chỉ ra COVID-19 khiến hơn 50% người Việt giảm việc muatrực tiếp ở các cửa hàng Theo Statista, doanh thu của Việt Nam trong thị trường giao đồ ănlên tới 274 triệu đô la Mỹ vào năm 2020, được hỗ trợ bởi tốc độ tăng trưởng kép hàng năm là16,5% trong giai đoạn 2020 - 2024, dẫn đến khối lượng thị trường là 505 triệu đô la Mỹ vàonăm 2024 Mức trung bình doanh thu trên mỗi người dùng hiện lên tới 37,41 đô la Mỹ và con
số này được dự đoán sẽ tăng thêm khi thị trường trưởng thành Chưa kể, theo nghiên cứu củaKantar TNS, thị trường này sẽ tăng lên tới 449 triệu USD vào năm 2023 Nếu như trước đâykhách hàng sử dụng ứng dụng để đặt món vì không còn lựa chọn nào khác trong thời giangiãn cách xã hội thì giờ đây họ đã bắt đầu nhận thấy sự tiện ích của loại hình dịch vụ này Sựgiãn cách đảm bảo an toàn giữa người mua và người giao hàng đã giúp cho người sử dụngdịch vụ này cảm thấy yên tâm hơn và tiếp tục sử dụng Sau khi khảo sát một số chủ quán ănvừa bán tại chỗ vừa liên kết với các ứng dụng giao đồ ăn trực tuyến, sau thời gian giãn cách
xã hội, mặc dù lượng khách đã quay trở lại ăn tại quán dần tăng lên nhưng trên các ứng dụngđặt món vẫn duy trì tốt Trạng thái “bình thường mới” mà dịch bệnh Covid-19 thiết lập nên
đã góp phần hình thành, duy trì thói quen ăn uống thông qua đặt hàng trực tuyến này của một
số người dùng Vì thế, một số quán đã thay đổi cách bán hàng, đẩy mạnh phát triển dịch vụnày
Xuất phát từ thực tế sự phổ biến và đa dạng của các nền tảng mua sắm đồ ăn trực
tuyến trên, tác giả đã chọn đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định sử dụng dịch vụ
đặt đồ ăn trực tuyến qua ứng dụng di động của giới trẻ trên địa bàn TP Hồ Chí Minh”
nhằm giúp người dùng trẻ có thể cân nhắc lựa chọn dịch vụ đặt và giao đồ ăn phù hợp về chất lượng cũng như tính kinh tế, đồng thời qua đó giúp các doanh nghiệp liên quan cải thiện và nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và tính mới
1.2.1 Tổng quan
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Thương mại điện tử đã và đang mang đến nhiều thay đổi đáng kể cho xã hội, thay đổihình thức kinh doanh truyền thống bằng cách tạo ra một phương thức kinh doanh mới phùhợp với cuộc sống hiện đại, nổi bật là thị trường gọi món trực tuyến Thị trường này đã phát
Trang 8triển từ rất lâu tại các nước như Mỹ, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ,… theo Carsten Hirschberg (2016).Charlene Lim, Miranda Mirosa và Phil Bremer (2020) trong nghiên cứu về tổng quan nềntảng dịch vụ giao, đặt đồ ăn trực tuyến và ảnh hưởng của chúng đến khả năng duy trì bềnvững đã chỉ ra rằng sự lớn mạnh của thị trường gọi món trực tuyến là một xu hướng toàn cầu,
có rất nhiều quốc gia trên thế giới có ít nhất một nền tảng lớn ở mảng này và Trung Quốcđang dẫn đầu về thị phần trên thị trường đặt và giao món ăn trực tuyến, sau đó là Mỹ với thịtrường đang phát triển mạnh tại Ấn Độ và Braxin Theo Matthew Keeble, Jean Adams, GarySacks, Lana Vanderlee, Christine M White, David Hammond và Thomas Burgoine (2020),đến hiện tại, các thương hiệu nổi bật trên thị trường gọi món trực tuyến như Just Eat và UberEats, đã có mặt tại hơn 13 quốc gia, Deliveroo xuất hiện ở 12 quốc gia, Grubhub được thiếtlập ở rất nhiều các thành phố dọc nước Mỹ Tại Việt Nam, loại hình này được đưa vào ápdụng lần đầu tiên với sự ra đời của Vietnammm.com vào tháng 2 năm 2011, tiếp đó hàng loạtcác website, ứng dụng hỗ trợ giao đồ ăn trực tuyến được giới thiệu với người dân, trong đóphải kể đến các tên tuổi như Delivery Now, GrabFood, GoFood,…
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài phân tích liên quan đến thị trườngđặt đồ ăn trực tuyến
Trong nghiên cứu “Technology at the table: An overview of Food Delivery Apps” của
tác giả Catarina Jardim Ribeiro (2018) thông qua phương pháp định tính và định lượng, bàinghiên cứu phân tích tình hình tổng quan của các ứng dụng giao đồ ăn trực tuyến và thu đượcnhững kết quả nhất định: thể hiện được sự phổ biến của các ứng dụng đặt đồ ăn trực tuyến,chỉ ra được sự tiện lợi và sự chính xác khi giao hàng là yếu tố quan trọng nhất đề làm hàilòng khách hàng và cả những yếu tố làm người dùng thất vọng: đồ ăn nhận được không đạtchất lượng, thời gian giao hàng chậm,… và phân tích thành công mối quan hệ giữa sự hàilòng, lòng trung thành và tin tưởng giữa hai bên trong thương mại điện tử Tuy nhiên tác giảchưa đi sâu vào phân tích những mặt chưa tốt và hạn chế của phương thức thanh toán trựctuyến cũng như chưa đưa ra được giải pháp cho các vấn đề hiện tại của các ứng dụng đặt đồ
Trang 9vụ chu đáo, thanh toán dễ dàng, giao hàng chính xác và cả những yếu tố làm cho một sốngười không muốn đặt đồ ăn trực tuyến: lo ngại thông tin cá nhân bị rò rỉ, chứng sợ côngnghệ,… Về mặt hạn chế, nghiên cứu chỉ được thực hiện tại Ấn Độ nên chưa có thể áp dụngrộng rãi và chưa đưa ra những giải pháp thiết thực cho các vấn đề đã nêu trong bài.
Theo Ardhana M Prabhash (2020), với việc sử dụng loạt các phương pháp nghiên cứu:phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm, phương pháp điều tra bảng hỏi, phương pháp
quan sát khoa học và nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu “The consumer perception on trực tuyến food delivery system among youth in Kerala” đã nêu được các yếu tố thu hút giới trẻ
cũng như thuận lợi và hạn chế của việc giao đồ ăn trực tuyến Tác giả đã phân tích rõ tìnhhình của việc đặt đồ ăn trực tuyến: thị trường chung, sản phẩm ưa chuộng, thái độ của ngườidùng, lứa tuổi, đối tượng sử dụng chính và các phương thức giảm giá Mặt tốt của ứng dụngđặt đồ ăn là sự tiện lợi và thanh toán đơn giản trong khi mặt chưa tốt là làm cho người dùng
lo ngại về phương thức thanh toán trực tuyến, sợ thông tin cá nhân bị lạm dụng và việc thiếuhiểu biết dẫn đến việc giao hàng trực tuyến chưa hoàn toàn được chấp thuận Quy mô củanghiên cứu không đủ lớn (chỉ ở Kerala) để áp dụng vào thực tiễn và thất bại trong việc đưa ragiải pháp cho các vấn đề tồn đọng
Nghiên cứu “Consumer's Perception on Trực tuyến Food Ordering” của Suryadev
Singh Rathore và Mahik Chaudhary (2018) chú trọng tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đếnngười tiêu dùng cũng như yêu cầu của họ khi đặt hàng trực tuyến áp dụng phương pháp phântích tổng kết kinh nghiệm và điều tra bảng hỏi Qua kết quả nghiên cứu, có thể thấy giá cả, sựkiện giảm giá, khuyến mãi đặc biệt, sự thuận tiện và việc giao hàng chính xác là các yếu tốgây ảnh hưởng lớn nhất đến sự thỏa mãn của khách hàng Tác giả cũng đã phân tích rõ tìnhhình chung của việc đặt hàng trực tuyến: phương thức này khá phổ biến, người trẻ thì chuộngphương thức này hơn người lớn tuổi, chủ yếu đặt hàng vào mỗi tuần và thường đặt thức ănnhanh Tuy nhiên nghiên cứu không đề cập đến mặt hạn chế, các yếu tố không được lòngkhách hàng và giải pháp hữu ích cho các ứng dụng đặt đồ ăn trực tuyến
Theo Rajeshwari Patil (2018) với nghiên cứu “Customers’ Expectation and Satisfaction with trực tuyến food ordering portals with special reference to PCMC region in Pune” tìm hiểu chủ yếu về nhu cầu và sự hài lòng của khách hàng và những yếu tố tác động
dựa trên phương pháp giả thuyết, nghiên cứu khám phá và nghiên cứu mô tả Tác giả đã chỉ
ra được sự phổ biến của các ứng dụng theo giới tính, lứa tuổi; lí do có những người không sửdụng dịch vụ này: cảm giác không an toàn, không đáng tin cậy và phí vận chuyển; và
Trang 10những lợi ích mà người dùng mong đợi: sự tiện lợi, dịch vụ dễ dàng và nhanh chóng vànhững lí do khác Ngoài ra nghiên cứu còn đưa ra những giải pháp thiết thực: phát triển dịch
vụ hơn, luôn để tâm đến giá cả dựa trên nhu cầu và khả năng tài chính của khách hàng, luôntruyền tải sự uy tín, tiện lợi và giao hàng đúng hạn Một lí do làm nghiên cứu này chưa thànhcông là quy mô chỉ hạn chế ở thành phố Pune không thể áp dụng rộng rãi vì vậy cần cónhững nghiên cứu sau này để bổ sung
Nghiên cứu “Key Success Factors of Trực tuyến Food Ordering Service” (Zulkarnain
Kedah, 2015) phân tích các yếu tố quan trọng dẫn đến sự thành công của các web đặt đồ ăntrực tuyến cụ thể là uy tín của website, sự hài lòng và trung thành của khách hàng thông quacác phương pháp nghiên cứu: định tính, giả thuyết và nghiên cứu tài liệu Kết quả rút ra được
từ nghiên cứu là: thông tin đáng tin cậy, thiết kế của website, an ninh và phương thức thanhtoán an toàn tạo nên sự uy tín của trang web; dịch vụ chu đáo, giao hàng đúng hạn và chấtlượng đồ ăn được giao sẽ làm hài lòng khách hàng và dẫn tới lòng trung thành của kháchhàng Điểm trừ của nghiên cứu là không hề đề xuất phương pháp cụ thể để làm tốt các yếu tố
đã nêu và việc phân tích hai yếu tố sự hài lòng và lòng trung thành vẫn còn sơ sài, chưa đầyđủ
Trong nghiên cứu “The Effect of Mobile Food Delivery Application Usage Factors on Customer Satisfaction and Intention to Reuse” (Ye-Eun Song, Sang-Hoon Jeon, Min-Sun
Jeon, 2017), bằng các phương pháp giả thuyết, điều tra bảng hỏi, phân tích số liệu, bài nghiêncứu chỉ ra rằng thông tin đáng tin cậy, chất lượng của sản phẩm, phương thức thanh toán tiệnlợi và dễ dàng, giá cả hợp lí và an ninh vững chắc sẽ thỏa mãn khách hàng và có được lòngtrung thành của người dùng Nhóm tác giả còn đưa ra các giải pháp để các ứng dụng đặt đồ
ăn phát triển: chủ sở hữu các ứng dụng phải luôn cập nhật thông tin một cách chính xác vànhanh chóng, quảng cáo và nhận xét chất lượng đồ ăn, sửa chữa nhanh chóng lỗi mà ứngdụng gặp phải và giúp việc thanh toán ngày càng tiện lợi hơn Bài nghiên cứu này bị hạn chế
ở đối tượng và khu vực khảo sát ở Hàn Quốc nên sẽ rất khó để được ứng dụng ở nhiều nướckhác
Nghiên cứu “Customer buying decision process using online platform for online food delivery in Thailand” của Mr Thanakrit Kitthanadeachaorn (2016) đã cho thấy rằng đa số
cảm nhận của người sử dụng dịch vụ gọi món trực tuyến đều mang tính tích cực bởi sự tiệních mà nó đem lại Quá trình lựa chọn ứng dụng hỗ trợ đặt đồ ăn trực tuyến của người dùngcũng chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố, bao gồm những nhận xét trực tuyến từ những người
Trang 11dùng trước, quá trình đăng kí và đặt món có phức tạp không, sự đa dạng của món ăn có trênứng dụng, dịch vụ chăm sóc và phí vận chuyển có hợp lý không… Trong đó chất lượng dịch
vụ chăm sóc người dùng và giá cả và trải nghiệm trước đó của khách hàng là các nhân tố ảnhhưởng lớn nhất Nghiên cứu cũng có mặt hạn chế về phương pháp nghiên cứu, cụ thể chỉ sửdụng phương pháp định tính và quy mô dữ liệu chỉ giới hạn tại Băng Cốc nên có thể gây sailệch lựa chọn mẫu
Jyotishman Das (2018) đã chỉ ra trong nghiên cứu “Consumer perception towards
“trực tuyến food ordering and delivery services”: An empirical study” của mình rằng tốc độ
giao hàng, dịch vụ chăm sóc khách hàng, khuyến mãi và lựa chọn nhà hàng, cửa hàng lànhững yếu tố ảnh hưởng lớn tới quyết định sử dụng ứng dụng hỗ trợ gọi món trực tuyến nào.Zomato và Swiggy là các ứng dụng được ưa thích nhất vì đều làm tốt cả bốn nhân tố được đềcập so với những ứng dụng khác trên thị trường Nghiên cứu sử dụng phương pháp địnhlượng và nghiên cứu bảng hỏi với người dân đến từ nhiều khu vực tại Pune và xem xét chủyếu 4 ứng dụng là Zomato, Swiggy, Foodpanda và Uber Eats Nhưng vì quy mô thu thập dữliệu còn hạn hẹp nên giá trị nghiên cứu có thể không áp dụng được tại các vùng miền kháccủa Ấn Độ
Nghiên cứu “Use of Trực tuyến Food Delivery Services to Order Food Prepared Away-From-Home and Associated Sociodemographic Characteristics: A Cross-Sectional, Multi-Country Analysis” của Matthew Keeble, Jean Adams, Gary Sacks, Lana Vanderlee,
Christine M White, David Hammond và Thomas Burgoine (2020) về mức độ phổ biến và tầnsuất sử dụng dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến, mối quan hệ giữa nền tảng dịch vụ này và các yếu
tố nhân khẩu học tại các nước Úc, Canada, Mexico, Vương quốc Anh và Mỹ cho thấy, cácdịch vụ giao đồ ăn trực tuyến được sử dụng ít nhất 1 lần 1 tuần; Khi xem xét các nhân tố baogồm giới tính, độ tuổi, sắc tộc, học thức, BMI, đã cho thấy khách hàng sử dụng loại hìnhdịch vụ này chủ yếu là nam, có học thức cao và có chung sống với trẻ vị thành niên quaphương pháp định tính, nghiên cứu tài liệu, điều tra bảng hỏi Tuy nhiên dữ liệu được tổnghợp từ khảo sát do nhóm tác giả thực hiện nên chưa mang tính tham khảo và bao quát, thờigian nghiên cứu là trước đại dịch COVID-19 nên có thể xảy ra sai lệch với tình hình hiện tại
Nghiên cứu “A study of consumer behaviour towards food ordering through mobile apps” của Bagirathi Iyer (2019) khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu học như lứa
tuổi, giới tính, thu nhập, nền tảng giáo dục của khách hàng sử dụng các ứng dụng đặt đồ ăn
Trang 12trên diên thoại di động dựa trên các phương pháp nghiên cứu: phân tích số liệu, điều trabảng câu hỏi và quan sát khoa học Tác giả đã thu được kết quả như sau: người trẻ tuổi vànam giới sử dụng phương thức này nhiều hơn người lớn tuổi và phụ nữ, mặt khác thu nhập vànền tảng giáo dục không ảnh hưởng nhiều đến việc đặt đồ ăn trên ứng dụng Thêm vào đó,nghiên cứu chỉ ra rằng vấn đề an toàn thực phẩm làm cho người dùng e ngại khi sử dụngphương thức này.
Trong “The Influence of Various Factors on Trực tuyến Food Delivery Services”
Suryadev Singh Rathore và Mahik Chaudhary (2018) đã phân tích các yếu tố tác động đếndịch vụ giao đồ ăn trực tuyến cũng như nghiên cứu mối quan hệ giữa người tiêu dùng và cácdoanh nghiệp trên thị trường đặt đồ ăn trực tuyến và ảnh hưởng của nó với việc giao đồ ănđúng giờ cho khách hàng và kết luận rằng đánh giá công khai của khách hàng trên các ứngdụng và thái độ nhân viên giao hàng ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định lựa chọn của nhữngngười tiêu dùng khác; khách hàng sử dụng loại hình dịch vụ này chủ yếu là giới trẻ, 18-30tuổi Dữ liệu được tổng hợp từ việc điều tra bảng hỏi và phỏng vấn tại Ernakulam - nơi cónhiều nhân viên IT phải làm việc trong thời gian dài nên nhu cầu về đặt đồ ăn trực tuyến làrất lớn Đây cũng là mặt hạn chế vì khu vực nghiên cứu nhỏ nên nghiên cứu không mang tínhbao quát và đa số người tham gia chỉ sử dụng chủ yếu hai ứng dụng là Swiggy và Zomato
Nghiên cứu “Consumers’ intentions to use trực tuyến food delivery systems (OFDS) in the USA” của Nefike Gunden, Cristian Morosan và Agnes DeFranco (2020) nghiên cứu về
dự định sử dụng OFDS bằng cách sử dụng mô hình nghiên cứu dựa trên mô hình UTAUT2
và dữ liệu thu thập từ 605 người tham gia khảo sát tại Mỹ, đây cũng là nghiên cứu đầu tiêncung cấp góc nhìn về mặt lý thuyết ở lĩnh vực này, đã chỉ ra rằng thói quen sử dụng, sự quantâm, xu hướng hành vi mua sắm ngẫu hứng và kì vọng đối với sản phẩm là những nhân tốquan trọng chi phối dự định sử dụng OFDS Mặt hạn chế của nghiên cứu này thể hiện ở việc
dữ liệu sử dụng chỉ được thu thập trên phạm vi nước Mỹ nên không thể chỉ ra định hướng sửdụng OFDS tại các quốc gia khác trên toàn cầu
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tính đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam các nghiên cứu khoa học và các bài báo cáophân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ đặt đồ ăn, thức uống trựctuyến chưa được công bố nhiều, nếu có thì cũng chỉ tập trung phân tích về một ứng dụng cụ
Trang 13thể hoặc chỉ là các bài báo, bài viết ngắn trên các trang báo chuyên ngành như
Brandsvietnam hay Vietnaminsider Cụ thể:
Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng ứng dụng di động để tiêu thụ thực phẩm của người tiêu dùng: Nghiên cứu thực nghiệm đối với ứng dụng giao hàng Grabfood” của NCS Huỳnh Thị Cẩm Ly (Newcastle Business School, Newcastle University,
Australia) và ThS Trần Thị Bạch Yến (Đại học Cần Thơ) (2020) phân tích các yếu tố dựđoán sự hài lòng của khách hàng và ảnh hưởng tới ý định sử dụng ứng dụng GrabFood bằngcách phỏng vấn 220 người dùng hiện đang sinh sống ở thành phố Cần Thơ, Việt Nam Dữliệu thu thập sau đó được phân tích bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) vàhồi quy đa biến Nghiên cứu đã cho thấy rằng có 3 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến quyếtđịnh lựa chọn GrabFood là tên thương hiệu , tiện lợi và ảnh hưởng từ xã hội Trong đó nhómyếu tố ảnh hưởng xã hội có tác động lớn nhất, sau đó là thương hiệu và sự tiện lợi
Đề cương luận văn tốt nghiệp “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn Grabfood
của khách hàng tại” của Nguyễn Thị Hiền Thương (2018) chỉ ra những nhân tố tác động đến
sự lựa chọn Grabfood của người dân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là đặc điểm dịch
vụ, giá cả, thương hiệu, ảnh hưởng xã hội, sự thuận tiện và hiệu suất dịch Những mặt hạnchế còn tồn tại với hai nghiên cứu này là chỉ thực hiện đối với một ứng dụng là Grabfood,bên cạnh đó chỉ thực hiện tại thành phố Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh nên chưa mangtính bao quát và không có sự so sánh giữa các thương hiệu khác trên thị trường gọi món trựctuyến tại Việt Nam
Luận văn thạc sĩ “Thái độ của người tiêu dùng đối với dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến” của Nguyễn Thị Phương Trang (2020) nghiên cứu về những điều ảnh hưởng đến thái độ của
người tiêu dùng với dịch vụ gọi món trực tuyến trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và đã chỉ
ra các yếu tố gồm hiệu suất kì vọng (PE), nỗ lực kì vọng, ảnh hưởng xã hội (SC), điều kiệnthuận lợi (FC), giá trị giá cả (PV) và chất lượng giao hàng có tác động đến thái độ của kháchhàng đối với dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến Tuy nhiên nghiên cứu chưa được thực hiệnchuyên sâu về các ứng dụng di động – hình thức hỗ trợ sử dụng loại hình dịch vụ này phổbiến nhất
1.2.2 Tính mới
Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ đặt đồ ăn trực
tuyến qua ứng dụng di động của giới trẻ trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh” kế thừa các kết
Trang 14quả nghiên cứu chuyên sâu đã được công bố về hành vi lựa chọn dịch vụ gọi món trực tuyến.Tuy nhiên đề tài sẽ nghiên cứu sẽ có cách tiếp cận và hướng nghiên cứu mới dựa vào khảosát và phân tích sự lựa chọn của giới trẻ với quy mô nhiều ứng dụng có mặt trên thị trườnggọi món trực tuyến tại thành phố Hồ Chí Minh để bổ sung cho các nghiên cứu trước đây chưathực sự phân tích kĩ và chú trọng vấn đề này tại Việt Nam.
Nghiên cứu cũng sẽ đưa ra sự so sánh ưu nhược điểm của các ứng dụng và giúp cácnhà quản trị của những ứng dụng này nắm bắt được tâm lý khách hàng Từ đó các thươnghiệu có trên thị trường đang phát triển rất mạnh và tiềm năng này có thể khai thác các thếmạnh hiện có, đồng thời cải thiện những điểm thiếu sót nhằm tăng cường sự phổ biến vớingười dùng và doanh thu cho doanh nghiệp, hỗ trợ các nhà kinh doanh có ý định lập nghiệp
ở mảng dịch vụ này và hướng đến đưa dịch vụ gọi món trực tuyến qua các ứng dụng di động phát triển với quy mô toàn cầu
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của nhóm nghiên cứu là để đưa ra được các ứng dụng đặt món ăn trựctuyến hữu ích và phù hợp với nhu cầu của giới trẻ trên địa bàn TP.HCM, đồng thời đề xuấtmột số giải pháp cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực nhằm cải thiện và nâng cao chất lượngdịch vụ, bao gồm các mục tiêu cụ thể như sau:
- Khảo sát mức độ hài lòng của giới trẻ khi tham gia sử dụng các ứng dụng đặt món ăn trực tuyến
- Tìm ra các nhân tố chính ảnh hưởng đến sự hài lòng về trải nghiệm của giới trẻ
- So sánh các ứng dụng với nhau, qua đó đưa ra những lựa chọn phù hợp với nhu cầu sử dụngcủa giới trẻ
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lí và thị hiếu của người dùng trẻ trên địa bàn thành phố, từ đó đề xuất các giải pháp hiệu quả cho doanh nghiệp
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để hoàn thành tốt các mục tiêu trên, nhóm tác giả tập trung tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Giới trẻ trong khu vực TP.HCM đánh giá thế nào về các ứng dụng đặt món ăn trực tuyến cósẵn trên địa bàn thành phố?
- Mức độ hài lòng của giới trẻ đối với từng ứng dụng chênh lệch và khác nhau như thế nào?
- Đâu là các ứng dụng đáp ứng tốt nhất thị hiếu của giới trẻ?
Trang 15- Làm thế nào để các doanh nghiệp có thể cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ trong trải nghiệm của người dùng?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Với mục tiêu nghiên cứu đã được đề cập, đối tượng nghiên cứu làcác yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ đặt đồ ăn trực tuyến qua ứng dụng điệnthoại di động
- Đối tượng khảo sát: Tập trung vào giới trẻ (từ 16 đến 30 tuổi) đã và đang sử dụng dịch vụgọi món trực tuyến qua các ứng dụng tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Nhóm đối tượngnày có nhu cầu về gọi món trực tuyến cao và hiểu biết nhiều về công nghệ thông tin nên sẽthể hiện được đặc điểm của người sử dụng loại hình dịch vụ này
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Những khái niệm nghiên cứu được đề cập đến có phạm trù rất rộng và
có liên quan đến nhiều lĩnh vực đa dạng Nghiên cứu chỉ tập trung vào phân tích các yếu tốảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ đặt món trực tuyến thông qua các ứng dụng diđộng
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu sẽ được thực hiện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
do giới hạn về thời gian và chi phí Tuy nhiên thành phố Hồ Chí Minh có dân cư đông đúc với 10,38 triệu dân (2020), dân cư chủ yếu là đến từ các vùng miền khác trên đất nước, vì vậy
có thể đại diện cho dân cư Việt Nam
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên mô hình nghiên cứu đã xây dựng, nhóm tác giả tiến hành phối hợp haiphương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, qua đó xác định và đánh giámức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố đến quyết định sử dụng dịch vụ của đối tượngnghiên cứu
1.6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nhóm tác giả tập trung tham khảo, phân tích và tổng hợp
lý thuyết từ Internet, các nghiên cứu, tạp chí khoa học, tài liệu trong và ngoài nước nhằm nắm
rõ những vấn đề liên quan đến đề tài, các thông tin chi tiết về thị trường, các doanh nghiệp,dịch vụ trong lĩnh vực, qua đó xây dựng cơ sở lý thuyết hoàn chỉnh và làm tiền đề cho bướcphân tích định lượng
Trang 16- Phương pháp phỏng vấn cá nhân: nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành gặp trực tiếp và phỏng vấn
đối tượng là sinh viên đến từ các trường Đại học, cũng như người dùng có độ tuổi từ 16– 30 trên địa bàn TP.HCM có tham gia sử dụng các ứng dụng đặt món ăn trực tuyến(GrabFood, GoFood, Delivery Now), trên các phương diện niềm tin, thái độ, cảm nghĩ dựatrên bảng câu hỏi đã được chuẩn bị trước, từ đó bước đầu đưa ra cơ sở để xây dựng các thang
đo, tạo điều kiện thuận lợi để đề xuất các lựa chọn tốt nhất cho giới trẻ trong khu vực thànhphố cũng như kiến nghị các giải pháp khả thi cho doanh nghiệp
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
- Phương pháp điều tra xã hội học: dự định đi vào thu thập thông tin, số liệu từ đối tượng
nghiên cứu thông qua việc thảo luận nhóm và thiết kế các biểu mẫu, bảng khảo sát nhằmđánh giá các thang đo trong mô hình Sau khi thu thập ý kiến, các dữ liệu sẽ được tổng hợp vàphân tích trên các phần mềm thống kê dữ liệu (Excel, STATA, SAS, SPSS) từ đó tạo nềnmóng để đưa ra kết quả nghiên cứu mang tính khách quan, sát với thực tế ở mức cao nhất
- Phương pháp thống kê mô tả: sẽ được ứng dụng để tổng hợp, tóm tắt và mô tả các đặc điểm
cơ bản của dữ liệu, trình bày dưới dạng đồ họa, bảng biểu, qua đó giúp dễ dàng trong quan sát
và đưa ra các nhận định khách quan, chính xác, đồng thời tìm ra các đề xuất và biện pháp đápứng đầy đủ thị hiếu của người dùng
1.7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng và biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu thành 5 mục như sau:
Chương 1 Tổng quan đề tài nghiên cứu: Liệt kê, đưa ra nhận xét tổng quát về các
nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Sau đó đưa ra tính mới của đề tài cũng như phạm vi, đối tượng khảo sát, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lí thuyết và mô hình nghiên cứu: Tổng hợp và đưa ra các định
nghĩa và kiến thức nền tảng của đề tài nghiên cứu Đồng thời trình bày các mô hình lý
thuyết của bài nghiên cứu và cả các đồ thị, hình ảnh minh họa
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu khoa học: Mô tả kế hoạch nghiên cứu và chỉ
rõ các loại phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng cũng như mục đích sử dụng của chúng
Chương 4 Phân tích kết quả thu được: Trình bày kết quả nghiên cứu thu được
sau khi phân tích dữ liệu Tự nhận xét và đối chiếu kết quả với giả thuyết đã nêu cũng nhưđưa ra lời giải thích cho kết quả có được từ nghiên cứu
Trang 17Chương 5 Kết luận và định hướng: Kết luận bài nghiên cứu thông qua việc tóm tắt
nội dung và kết quả được trình bày và nêu ý nghĩa được rút ra từ đó Sau đó nêu mặt hạn chế của đề tài và khuyến nghị các bài nghiên cứu khoa học trong tương lai về những điều có thể
bổ sung, sửa chữa và phát triển
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm chính
2.1.1 Khái niệm dịch vụ
Trang 18“Dịch vụ là bất cứ một sự thực hiện nào mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, vềbản chất là phi vật thể và không dẫn đến quyền sở hữu của bất cứ thứ gì Việc tạo ra nó cóthể có, cũng có thể không gắn với một sản phẩm hữu hình” (Kotler & Keller,2013).
Dịch vụ có bốn đặc tính: tính vô hình, tính không thể tách rời, tính biến đổi và tínhkhông thể lưu trữ Trong đó, tính vô hình nghĩa là không thể sử dụng các giác quan để cảmnhận dịch vụ.Tính không thể tách rời là dịch vụ không thể tách rời khỏi nhà cung cấp, quátrình cung ứng và tiêu dùng diễn ra cùng lúc Tính biến đổi là chất lượng dịch vụ có thể khácnhau, không có một tiêu chuẩn chung để đánh giá Tính không thể lưu trữ là dịch vụ khôngthể lưu trữ để bán hoặc sử dụng về sau (Kotler & Armstrong, Nguyên lý tiếp thị, 2012)
2.1.2 Khái niệm dịch vụ điện tử
Theo Rust và Kannan cho rằng dịch vụ điện tử có thể hiểu là việc cung cấp dịch vụqua mạng internet (Rust & Kannan, 2002).Theo Zeithaml và Bitner thì dịch vụ điện tử là mộtchuỗi các hoạt động diễn ra có sự tác động lẫn nhau giữa một bên là nhà cung cấp và một bên
là khách hàng thông qua một kênh điện tử (Zeithaml & Bitner, 2003)
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, tuy nhiên đặc điểm chung là các dịch vụ điện tửđều được cung cấp thông qua các công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là Internet
2.1.3 Dịch vụ đặt và giao đồ ăn trực tuyến
Dịch vụ giao đồ ăn đã bắt đầu xuất hiện trên thị trường từ thế kỷ XX nhưng đến khiPizza Hut bắt đầu áp dụng dịch vụ giao hàng vào năm 1994, thị trường của dịch vụ này đã trởnên nóng hơn bao giờ hết và trở thành một thị trường tỉ đô Tuy nhiên, sự phát triển khôngngừng của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào đầu thế kỷ XXI đã tạo nên sự ra đờicủa Thương mại điện tử và sau đó là mô hình O2O (Online to Offline), các dịch vụ đặt vàgiao đồ ăn trực tuyến cũng bắt đầu xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới và Việt Nam không làmột ngoại lệ Dịch vụ đặt và giao đồ ăn trực tuyến là loại dịch vụ mà ở đó khách hàng có thểđặt các món ăn trên nền tảng trực tuyến, sau đó thức ăn sẽ được chế biến, đóng gói và vậnchuyển cho khách hàng Người giao hàng ở đây có thể sử dụng xe đạp, xe máy hoặc xe hơi.Tùy thuộc vào công ty giao hàng, khách hàng có thể lựa chọn trả tiền trực tiếp bằng tiền mặthoặc trả tiền trực tuyến bằng thẻ hoặc ví điện tử.Thông thường khi sử dụng dịch vụ này,khách hàng sẽ phải đóng một khoản phí giao hàng Hiện nay, chủ yếu có hai loại dịch vụ đặt
Trang 19- Restaurant-to-Customer Delivery: là loại dịch vụ mà khách hàng trực tiếp liên hệ đến quánăn/nhà hàng để đặt món và quán ăn/nhà hàng chịu trách nhiệm giao hàng đến khách hàng Ví
dụ như KFC, Lotteria, McDonalds,…
- Platform-to-Customer Delivery: là loại dịch vụ mà khách hàng có thể đặt món ăn của cácnhà hàng/quán ăn đối tác của nền tảng trên nền tảng Nền tảng chịu trách nhiệm giao món ăn
đã được chuẩn bị bởi nhà hàng/quán ăn đến khách hàng Ví dụ: Grabfood,Now/Foody,Baemin,…
Như vậy, dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến (OFDS – Online food delivery services) làdịch vụ giao đồ ăn và đồng thời cũng là dịch vụ điện tử Nghĩa là, bên cạnh các đặc điểm cơbản của dịch vụ giao đồ ăn thì đối với dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến, việc đặt món sẽ đượcthực hiện trực tuyến và sản phẩm sẽ được giao trực tiếp tận nơi cho khách hàng
Theo số liệu từ Statista, dịch vụ đặt và giao đồ ăn trực tuyến ở Việt Nam đạt doanh thu
207 triệu USD vào năm 2019 Cụ thể, mô hình Restaurant-to-Customer Delivery đạt 156triệu USD, trong khi đó mô hình Platform-to-Customer Delivery đạt 207 triệu USD, tăng gần40% so với năm 2018 Dự kiến đến cuối năm 2020, mô hình Platform-to-Customer Delivery
sẽ đạt 302 triệu USD, tức tăng khoảng 46% so với năm 2019 Theo dự đoán, trong thời kì2020-2024, thị trường dịch vụ đặt và giao đồ ăn trực tuyến ở Việt Nam sẽ đạt CAGR (tỷ lệtăng trưởng hàng năm kép) là 16,5%, riêng đối với loại hình Platform-to-Customer Delivery
sẽ đạt CAGR là 21,5%, cao hơn so với Restaurant-to-Customer Delivery chỉ đạt 14,4% Điều
đó cho thấy rằng mô hình giao nhận đồ ăn có sự hợp tác của bên thứ ba Customer Delivery) sẽ tăng trưởng mạnh hơn trong tương lai Vì khả năng nghiên cứu cóhạn, đề tài chỉ tập trung khai thác mô hình Platform-to-Customer Delivery
(Platform-to-Nắm bắt được xu thế đó, các dịch vụ đặt và giao đồ ăn trực tuyến đã ra đời với nhiều
sự tiện nghi tích hợp Các doanh nghiệp Việt Nam đã cho ra đời các dịch vụ: Now/Foody,Loship, Vietnammm (sau này là Baemin)… cùng với Grabfood và Gofood của các doanhnghiệp nước ngoài Để sử dụng các dịch vụ này, người dùng phải tải về những ứng dụngtương ứng của dịch vụ trên điện thoại thông minh; ngoài ra, các dịch vụ như Now/Foody hayVietnammm.com cũng có thể sử dụng trực tiếp trên website
Trang 20Hình 2.1 Những hoạt động liên quan đến nền tảng đặt món trực tuyến Mũi tên chỉ sự vận
động của thông tin hoặc logistics, đường thẳng chỉ quá trình cần thiết, đường nét đứt chỉ quá
trình không bắt buộc
(Nguồn: Charlene Li, Miranda Mirosa, Phil Bremer, Review of Online Food Delivery
Platforms and their Impacts on Sustainability, 2020)
2.1.4 Ứng dụng di động đặt món trực tuyến
Ứng dụng di động đặt món trực tuyến thì không có khái niệm cụ thể Tuy nhiên, theonhư Islam & Mazumder thì “Ứng dụng di động bao gồm các phần mềm, các chương trìnhđược lập trình cho smartphone, máy tính bảng, máy nghe nhạc và các thiết bị di động khácnhằm thực hiện một số chức năng nhất định đáp ứng nhu cầu người dùng”(Islam &Mazumder, 2010) Vậy có thể hiểu ứng dụng di động đặt món trực tuyến (FDA – FoodDelivery Application) là một dạng cụ thể của ứng dụng di động, trong đó loại ứng dụng nàycung cấp dịch vụ đặt món trực tuyến Các FDA cho phép khách hàng đặt món từ nhiều nhàhàng, quán ăn trong phạm vi phục vụ Hiện nay, các FDA còn phát triển thêm những tiện íchdịch vụ mới như: đi chợ, cung cấp đồ gia dụng…
Hiện nay, theo nghiên cứu của eMarketer, trước năm 2023, sẽ có 23% số lượng điệnthoại thông minh ở riêng thị trường Hoa Kỳ sẽ sử dụng một vài ứng dụng đặt món trực tuyến.Con số này ước tính là khoảng 60 triệu người Riêng tại thị trường Việt Nam, các dịch vụ đặtmón ăn trực tuyến như Grabfood, Now, Baemin, Gofoood cũng được cung cấp chủ yếu quakênh ứng dụng di động riêng của nhà cung cấp
2.2 Cơ sở lý thuyết về hành vi tiêu dùng và quyết định mua sắm (sử dụng)