1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021

41 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nền Kinh Tế Việt Nam Giai Đoạn 2010 Đến 2021
Tác giả Nhóm 17
Người hướng dẫn Cô Nguyễn Minh Thủy
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Vĩ Mô
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt trong năm 2020, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng rấtnghiêm trọng đến hầu hết các ngành, lĩnh vực, các hoạt động kinh tế, xã hội bị ngưng trệ, đời sống nhân dân gặpnhiều khó khăn.T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ

Đề tài: Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021

Giảng viên hướng dẫn: Cô Nguyễn Minh Thủy Nhóm thực hiện: Nhóm 17 – KTE203.8

Trang 2

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

BÁO CÁO VỀ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN 2021

Trang 3

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam là một câu chuyện phát triển thành công Bước vào thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10năm 2011 - 2020, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp hơn dự báo Khủng hoảng nợ công diễn ra trầmtrọng hơn ở nhiều quốc gia, kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn; rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tếgia tăng; nhiều nước tăng cường bảo hộ thương mại trong những năm gần đây Khoa học, công nghệ phát triểnnhanh, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kinh tế số trở thành một trong những xu hướng phát triển chủ yếucủa thời đại Vào năm cuối kỳ Chiến lược đã xảy ra đại dịch Covid-19 trên toàn cầu ảnh hưởng rất nghiêmtrọng, chưa từng có trong nhiều thập kỷ, kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái, hậu quả kéo dài nhiềunăm Ở trong nước, những năm đầu thời kỳ Chiến lược, nền kinh tế tiềm ẩn nhiều rủi ro, lạm phát cao, nợ côngtăng nhanh, tỉ lệ nợ xấu cao; sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn Tác động, ảnh hưởng từ bên ngoài tăng,cạnh tranh ngày càng gay gắt, trong khi độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu còn hạn chế Biến đổi khíhậu, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp hơn Đặc biệt trong năm 2020, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng rấtnghiêm trọng đến hầu hết các ngành, lĩnh vực, các hoạt động kinh tế, xã hội bị ngưng trệ, đời sống nhân dân gặpnhiều khó khăn.Trước tình hình đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chung sức, đồng lòng, nỗ lực vượt bậc,quyết liệt, kịp thời, nhất là trong năm 2020 tập trung vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa duy trì, phục hồi, pháttriển kinh tế - xã hội, vượt qua khó khăn, thách thức, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồngdoanh nghiệp và nhân dân cả nước, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra vàđạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực Việt Nam cũng hướng tới mụctiêu phát triển theo hướng xanh hơn, bao trùm hơn Dân số đang già đi nhanh chóng, thương mại toàn cầu đangsuy giảm, trong khi đó suy thoái môi trường, các vấn đề biến đổi khí hậu và tự động hóa ngày gia tăng Tiếntrình của các xu hướng này càng bị đẩy nhanh bởi đại dịch COVID-19 Theo cập nhật Báo cáo Chẩn đoán Quốcgia mới nhất của Ngân hàng Thế giới, để vượt qua những thách thức này và đáp ứng các mục tiêu phát triển,Việt Nam cần cải thiện đáng kể hiệu quả thực thi chính sách, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, môi trường,chuyển đổi kỹ thuật số, giảm nghèo/anh sinh xã hội và cơ sở hạ tầng

Nhằm làm rõ điều đó, nhóm 17 thực hiện Báo cáo về nền kinh tế nước Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2021.Đây là giai đoạn mà nền kinh tế Thế giới có nhiều biến động cục bộ, kéo theo đó là sự ảnh hưởng đến các nềnkinh tế của hầu hết tất cả các quốc gia, và Việt Nam không phải là một ngoại lệ Khoảng thời gian này cũngchính là khoảng thay đổi sâu sắc nhất trong nền kinh tế nước ta trên mọi phương diện như: mức độ tăng trưởngGDP, CPI, mức sống dân cư, lạm phát, các cán cân thương mại, các chính sách cụ thể được áp dụng nhằm điềuhòa nền kinh tế … Thông qua việc tìm hiểu và trình bày về nền kinh tế trong giai đoạn từ 2010 đến 2021, nhóm

17 không chỉ thể hiện thực trạng, thành tựu, thách thức của nước nhà mà còn trình bày những giải pháp thiếtyếu nhằm phát triển nền kinh tế, mở ra hướng đi cho Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế thế giới

Tuy nhiên, trong quá trình làm việc, nhóm 17 vẫn tồn tại những thiếu sót, khiếm khuyết và chúng em hi vọng sẽnhận được sự góp ý từ giảng viên hướng dẫn môn cũng như từ mọi người! Nhóm 17 chúng em xin chân thànhcảm ơn!

Nhóm tác giả

Trang 4

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

CHƯƠNG I: NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ

NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2021

Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế, là mục tiêu hàng đầu củatất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia Tăngtrưởng kinh tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, là mối quan tâm nhiều nhất của chính phủcác nước bởi vì tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất để tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao thunhập của người dân, xóa đói giảm nghèo, …Do đó, nền kinh tế của mỗi quốc gia có tăng trưởng và phát triểnhợp lý hay không thường dựa vào chỉ số GDP để nhận định Việt Nam cũng không nằm ngoài những khẳngđịnh đó, và theo đó, nhóm 17 đánh giá tình hình phát triển kinh tế qua GDP dưới các giai đoạn sau đây:

1 Năm 2010:

Kinh tế thế giới năm 2010 như một bức tranh đa sắc, với nhiều mảng mầu sáng tối trong thành công và khókhăn, cũng như những trái ngược trong chính sách điều hành kinh tế của mỗi khu vực và nhóm nước Tuynhiên, gam mầu chủ đạo bao trùm toàn cảnh vẫn là sự chuyển sáng dần, dù với tốc độ không đồng đều Nếu

so với mức GDP toàn cầu năm 2009 giảm 0,6%, thì năm 2010, kinh tế thế giới đã thật sự hồi phục một cáchđầy ấn tượng

Dưới cuộc khủng hoảng kinh tế Thế giới sau năm 2008, Việt Nam tuy không nằm ngoài phạm vi ảnh hưởngnhưng cho đến năm 2010 vẫn tiếp tục có sự phục hồi nhanh chóng sau những tác động từ kinh tế toàn cầu:

Hình trên cho thấy có cải thiện tốc độ tăng GDP theo các quý trong năm 2010 Tốc độ tăng GDP quý I đạt5,83%, quý II là 6,4%, quý III tăng lên 7,14% và dự đoán quý IV sẽ đạt 7,41% Ước tính GDP cả năm 2010 cóthể tăng 6,7%, cao hơn nhiệm vụ kế hoạch (6,5%) Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn phục hồi chậm chạp vàtrong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên làmột thành công Với kết quả này tốc độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn 2006-2010 đạt bình quân 7%/năm và thu

Trang 5

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

nhập quốc dân bình quân đầu người năm 2010 ước tính đạt 1.160 USD Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩunăm nay có sự thay đổi ở một số nhóm hàng so với năm trước, trong đó nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủcông nghiệp tăng từ 42,8% lên 46%; nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 29,4% xuống 27,2%;nhóm hàng thủy sản giảm từ 7,4% xuống 6,9%; vàng và các sản phẩm vàng giảm từ 4,6% xuống 4%

Đánh giá nhóm: Đến năm 2010, Việt Nam đã có những bước phát triển đáng mong đợi sau tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, nhưng thực tế, chất lượng tăng trưởng không cao, thể hiện ở tính hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển chiều rộng, tăng khối lượng nguồn lực, nhất là tăng vốn đầu tư, chưa thực sự dựa trên cơ sở năng suất lao động và nâng cao hiệu quả Điều này thể hiện rất rõ nét qua biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ: Tăng trưởng kinh tế thế giới, Mỹ, khu vực sử dụng đồng EURO, Nhật Bản, các nước đang phát triển ởchâu Á, và Việt Nam (10/2010)

2 Giai đoạn năm 2011 đến năm 2015:

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ năm 2008 đến nay đã trôi qua 6 năm nhưng kinh tế thế giới vẫn biếnđộng đầy bất ổn Tăng trưởng kinh tế khó khăn, thất nghiệp tăng cao, hoạt động thương mại suy giảm, dòng vốn

có nhiều biến động, nợ công có xu hướng gia tăng mạnh, … là những hệ lụy vẫn tiếp tục kéo dài sang giai đoạnmới và khiến kinh tế toàn cầu phải đối mặt với muôn vàn khó khăn Kinh tế thế giới sau khi bắt đầu lấy lại đàtăng trưởng1 đạt mức 5,1% trong năm 2010 đã nhanh chóng giảm sâu xuống còn 3,9% vào năm 2011 Đà sụtgiảm này tiếp tục kéo dài sang hai năm tiếp theo với mức tăng trưởng rơi xuống còn 3,2% trong 2 năm 2012 –

2013 Và tăng trưởng chỉ bắt đầu có dấu hiệu phục hồi trở lại với mức tăng nhẹ ước đạt khoảng 3,4% vào năm

2014, và dự báo đạt khoảng 3,9% vào năm 2015 Như vậy, có thể thấy tăng trưởng kinh tế toàn cầu hiện vẫnđang ở mức thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình đạt xấp xỉ 5% giai đoạn trước khủng hoảng tàichính toàn cầu

Song song, cùng nền kinh tế Thế giới, ở giai đoạn này, kinh tế nước ta đang dần phục hồi đà tăng trưởng GDP:Trong giai đoạn 2011 đến 2015, tình hình thiên tai, dịch bệnh và những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nặng nềhơn dự báo, sự ảnh hưởng này cũng phần nào làm chậm chạp sự phục hồi và định hướng phát triển trong thời

Trang 6

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

gian này Không chỉ vậy, tình hình căng thẳng ở biển Đông diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến hòabình, ổn định của nước ta và khu vực Khủng hoảng kinh tế ở nhiều nước, đặc biệt là có những nước là đối táccủa nước ta phục hối chậm (nổi bật là khủng hoảng nợ công ở các nước Châu Âu)

Nhưng nhờ sự nỗ lực cao của các cấp, các ngành và của cả hệ thống chính trị; sự đồng thuận, nhất trí của toàndân nên trong khó khăn nền kinh tế nước ta vẫn lấy lại được đà tăng trưởng với tốc độ tăng dần qua các năm.Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm 2010 theo giá so sánh 2010 đạt 6,42% giảm xuống chỉ còn tăng6,24% trong năm 2011 và 5,25% trong năm 2012, nhưng năm 2013 đã tăng lên đạt 5,42%; năm 2014 đạt 5,98%

và sơ bộ năm 2015 đạt 6,68% Tính ra, trong 5 năm 2011-2015, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nướctăng 5,91%, đưa quy mô nền kinh tế nước ta năm 2015 gấp 1,33 lần năm 2010

Biểu đồ: Diễn biến GDP Việt Nam giai đoạn từ 2011 đến 2015Hậu quả của sự tăng trưởng kinh tế nhanh của nước ta trong thời kì trước đó cùng vưới chính sách tiền tệ và tàikhóa mở rộng đã khiến nền kinh tế Việt Nam gánh chịu nhiều ảnh hưởng sâu sắc, đặc biệt là sự tác động tới cácdoanh nghiệp Theo biểu đồ dưới đây, bước vào năm 2012 với tình hình kinh tế xã hội tiếp tục bị ảnh hưởng bởisuy giảm kinh tế toàn cầu cũng như các chính sách thắt chặt nhằm ổn định lại nền kinh tế từ nửa sau năm 2011,đến đây GDP tiếp tục hạ xuống ở mức 5.25% - mức tăng thấp nhất kể từ năm 2000 Tốc độ tăng trưởng của khuvực nông nghiệp và dịch vụ có hướng suy giảm đáng kể do chi phí đầu vào tăng mà mức tiêu thụ thấp ở cả haithị trường trong nước và quốc tế Doanh nghiệp tư nhân trong nước bị ảnh hưởng bởi nhiều hạn chế trong tiếpcận nguồn tài chính (do nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt đột ngột và các khoản nợ xấu trong ngân hàngcủa các doanh nghiệp đi tới mức báo động), thêm vào đó nhu cầu tiêu dùng trong nước lại suy giảm

Trang 7

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

Trước tình hình đó, nhà nước đã kịp thời đưa ra các chính sách tài khóa (miễn, giảm, hoặc gia hạn nộp thuế thunhập cho doanh nghiệp) và chính sách tiền tệ (giảm lãi suất, gỡ bỏ trần lãi suất dài hạn …) để khắc phục khókhăn trong sản xuất, kinh doanh và tái cấu trúc ngân hàng thương mại Mức tăng trưởng năm 2013 đã có dấuhiệu phục hồi so với những năm trước cùng kỳ, và được duy trì ở độ hợp lý Mặc dù nền kinh tế chưa thực sựtồn tại sự ổn định nhưng những biến đổi tiêu cực toàn cầu đã ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước do thịtrường và nhu cầu hàng hóa và dịch vụ bị thu hẹp GDP năm 2013 tăng lên so với 2012 dù không đáng kểnhưng nó thể hiện ít nhiều sự phục hồi dần dần của nền kinh tế (Do tốc độ tăng trưởng kinh tế có cao hơn tốc

độ gia tăng dân số nên GDP bình quân đầu người năm 2013 là 1907 USD/ người) Trong mức tăng 5,42% củatoàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,67%, xấp xỉ mức tăng năm trước, đóng góp 0,48điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43%, thấp hơn mức tăng 5,75% của năm trước, khuvực dịch vụ tăng 6,56%, cao hơn mức tăng 5,9% của năm 2012, đóng góp 2,85 điểm phần trăm.Như vậy mứctăng trưởng năm nay chủ yếu do đóng góp của khu vực dịch vụ, trong đó một số ngành chiếm tỷ trọng lớn cómức tăng khá là: Bán buôn và bán lẻ tăng 6,52%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,91%; hoạt động tài chính,ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,89% Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, tuy mức tăng của ngành côngnghiệp không cao (5,35%) nhưng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khá ở mức 7,44% (Năm 2012 tăng5,80%) đã tác động đến mức tăng GDP chung Đáng chú ý, sản xuất công nghiệp năm 2013 có dấu hiệu phụchồi, nhất là ngành công nghiệp chế biến chế tạo với tỷ trọng lớn trong toàn ngành công nghiệp đã có sự chuyểnbiến rõ nét qua các quý

Trong ba năm đầu tiên của kế hoạch 5 năm 2011 – 2015, nhóm 17 rút ra được các điểm tích cực trên mặt bằng chung của nền kinh tế Việt Nam:

Tốc độ tăng GDP nhóm ngành dịch vụ là cao nhất trong cả ba nhóm ngành, nguyên nhân đạt được kết quả tích cực này là nhờ xuất khẩu tăng khá cao (động lực của tăng trưởng kinh tế), khá xa so với mục tiêu đề ra

Nếu tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2006 – 2010 cần nhiều vốn đầu tư thì từ 2011 đến 2013 cần ít vốn đầu tư hơn Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP bình quân thời kì 2006 – 2010 là 39,2% thì năm 2011 giảm còn 33,3%, năm 2012 còn 30,5% và năm 2013 ước tính còn 29% Thực tế cho thấy bình quân 3 năm này thấp hơn nhiều so với tính toán ban đầu

Tăng trưởng kinh tế đạt được khi tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân năm 2011 – 2013 thấp hơn nhiều so với thời kì 2006 – 2010

Trang 8

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

Tuy nhiên, trong các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế thì nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao năng suất lao động là yếu tố quyết định nhất, quan trọng hơn nhiều so với việc tăng vốn đầu tư, tăng số lượng lao động Mặc dù vậy, không thể giảm quá nhanh tỷ lệ vốn đầu tư/GDP, không thể không thu hút lực lượng lao động, giảm thiểu số người thất nghiệp …

Năm 2014 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm sau suy thoái toàn cầu nên kinh tế trong nướcchịu sức ép không nhỏ từ những bất ổn về kinh tế, chính trị của thị trường thế giới Thêm vào đó, một trongnhững yếu tố làm ảnh hưởng tới chúng ta là giá dầu mỏ trên thị trường thế giới giảm sâu trong những tháng cuốinăm 2014 Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 ước tính tăng 5,98% so với năm 2013.Mức tăng trưởngnăm nay cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và mức tăng 5,42% của năm 2013 cho thấy dấu hiệu tích cựccủa nền kinh tế Trong mức tăng 5,98% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,49%,cao hơn mức 2,64% của năm 2013, đóng góp 0,61 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp

và xây dựng tăng 7,14%, cao hơn nhiều mức tăng 5,43% của năm trước, đóng góp 2,75 điểm phần trăm; khuvực dịch vụ tăng 5,96%, đóng góp 2,62 điểm phần trăm Cơ cấu nền kinh tế năm nay tiếp tục theo hướng tíchcực Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,12%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm38,50%; khu vực dịch vụ chiếm 43,38% (Cơ cấu tương ứng của năm 2013 là: 18,38%; 38,31%; 43,31%) Xét

về góc độ sử dụng GDP năm 2014, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,20% so với năm 2013, đóng góp 4,72 điểm phầntrăm vào mức tăng chung (Tiêu dùng cuối cùng của dân cư tăng 6,12%, cao hơn mức tăng 5,18% của nămtrước); tích lũy tài sản tăng 8,90%, đóng góp 2,90 điểm phần trăm

Năm 2015 chứng kiến những sự kiện lớn về kinh tế đối ngoại của Việt Nam, như ký FTA Việt Nam-Liên minhhải quan Nga-Belarus-Kazaxtan; kết thúc chính thức đàm phán FTA Việt Nam-Hàn Quốc, FTA Việt Nam EU vàTPP; hình thành AEC Đến nay, Việt Nam đã mở rộng quan hệ thị trường thương mại tự do với 55 quốc gia vànền kinh tế, trong đó có 15 quốc gia trong Nhóm G-20 Việt Nam cũng đã được 59 quốc gia công nhận có nềnkinh tế thị trường Thị trường được mở rộng cũng góp phần nâng cao GDP tại Việt Nam Nhìn chung, năm

2015, Việt Nam đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực về tăng trưởng GDP, kiểm soát lạm phát, cải thiện môitrường đầu tư - kinh doanh và phát triển kinh tế đối ngoại trong bối cảnh có nhiều biến động phức tạp toàn cầu.Điểm nhấn tích cực nổi bật là GDP năm 2015 ước tăng hơn 6,50%, với mức tăng quý sau cao hơn quý trước vàlần đầu tiên trong 5 năm qua vượt mức kế hoạch đặt ra (năm 2014, Việt Nam đạt kế hoạch tăng GDP, còn 3 nămliên tiếp trước đó không đạt kế hoạch) Trong năm 2015, công nghiệp luôn là động lực mạnh cho nền kinh tế vàghi nhận sự cải thiện ở hầu hết các chỉ số: So với cùng kỳ năm trước, Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp

11 tháng đầu tăng 9,7% (cao hơn nhiều mức tăng 7,5% cùng kỳ năm 2014); Chỉ số tiêu thụ tiếp tục tăng Chỉ sốtồn kho thấp hơn cùng kỳ năm trước Năm 2015 là năm không có nhiều thuận lợi với nông nghiệp; nhiều mặthàng nông sản chủ lực của Việt Nam bị giảm cả về sản lượng, kim ngạch xuất khẩu và giá cả, so với năm trước,như thủy sản, gạo, cao su và cà phê… Mặc dù vậy, thị trường cuối năm 2015 ghi nhận sự cải thiện về giá vàtăng nhẹ đàn trâu, bò, lợn và gia cầm, cũng như hoạt động tái đàn, nhất là đàn bò sữa GDP năm 2015 đạtkhoảng 204 tỷ USD, bình quân đầu người 2.228 USD (tính theo sức mua ngang giá là hơn 5.600 USD) Tỷtrọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP chiếm 82,5% Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xãhội còn 45% Chỉ số năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) giai đoạn 2011-2015 đạt bình quân 28,94%/năm.Năng suất lao động tăng bình quân 3,8%/năm Quy mô thị trường chứng khoán tăng, mức vốn hóa thị trường cổphiếu đạt khoảng 33% GDP và thị trường trái phiếu đạt khoảng 23% vào cuối năm 2015

�Đánh giá nhóm: Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm đạt trên 5,9%/năm Quy mô

và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên; GDP năm 2015 đạt 193,4 tỉ USD, bình quân đầu người khoảng2.109 USD Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi; giá trị gia tăng ngành công nghiệp, xây dựng tăng bìnhquân 6,9%/năm; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu công nghiệp tăng Khu vực nông nghiệp cơbản phát triển ổn định, giá trị gia tăng tăng bình quân 3,0%/năm Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng khá, bìnhquân 6,3%/năm Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 14,1%/năm (loại trừyếu tố giá tăng khoảng 5,6%) Chất lượng tăng trưởng nhiều mặt được nâng lên, đóng góp của khoa học, công

Trang 9

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

quả hơn; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng giai đoạn 2011 - 2015 khoảng29%

Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của nền kinh tế nước ta trong 5 năm 2011-2015 tuy thấp hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của mỗi năm của giai đoạn 5 năm trước và không đạt mục tiêu đề ra là tăng bình quân mỗi năm 6,5 – 7 % nhưng vẫn đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và Thế giới.

3 Giai đoạn 2016 – 2020:

Bước vào thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, bối cảnh khu vực và thế giới cónhững yếu tố thuận lợi và khó khăn đan xen, diễn biến phức tạp hơn so với dự báo, tác động đến phát triểnkinh tế trong nước như: Xu hướng kinh tế thế giới phục hồi và phát triển; liên kết và tự do hoá thương mại vẫn

là xu thế chủ đạo nhưng đan xen yếu tố bảo hộ; phát triển khoa học và công nghệ tác động mạnh mẽ đến cácmặt kinh tế, văn hoá, xã hội; cạnh tranh địa chính trị, địa kinh tế đi đôi với căng thẳng thương mại giữa một sốnền kinh tế lớn; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy; xung đột chính trị trong nội bộ và giữacác quốc gia Đặc biệt, vào năm cuối giai đoạn kế hoạch 5 năm 2016-2020, dịch Covid-19 lần đầu tiên xảy ratrên toàn cầu ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới, kinh tếtoàn cầu rơi vào tình trạng suy thoái, hậu quả kéo dài nhiều năm

a Kinh tế tăng trưởng khá, từng bước chuyển dịch sang chiều sâu, quy mô kinh tế ngày càng mở rộng, đặcbiệt năm 2020 nền kinh tế vẫn đạt tăng trưởng dương dù bị ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19

 Mặc dù tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2016 tăng 6,21%, thấp hơn tốc độ tăng củanăm 2015 (tăng 6,68%) do ảnh hưởng của tình trạng xâm nhập mặn nghiêm trọng tại các tỉnh vùngĐồng bằng sông Cửu Long nhưng trong ba năm tiếp theo, nền kinh tế đã có sự bứt phá, tốc độ tăng GDPnăm sau cao hơn năm trước và vượt mục tiêu Quốc hội đề ra trong Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hộihằng năm , trong đó tốc độ tăng GDP năm 2017 đạt 6,81%; năm 2018 tăng 7,08% và là mức tăng caonhất kể từ năm 2008; năm 2019 tăng 7,02% Bình quân giai đoạn 2016-2019, tốc độ tăng GDP đạt6,78%, cao hơn 0,87 điểm phần trăm so với mức tăng bình quân 5,91%/năm của giai đoạn 2011-2015,đồng thời đạt mục tiêu tăng trưởng 6,5%-7%/năm của Kế hoạch 5 năm 2016-2020

 Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2017 của cả nước ước tính tăng 6,81% so với 2016, vượt kếhoạch 6,7% và là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2016 Qua đó, đưa quy mô nền kinh tế củanước ta năm 2017 theo giá hiện hành đạt 5.007,9 nghìn tỷ đồng, tương ứng hơn 220 tỷ USD Đặc biệt,trong năm 2017, dù đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức trong và ngoài nước, đặc biệt tình hìnhbão lũ, thiên tai, song tăng trưởng kinh tế vẫn đạt 6,81%, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra (6,7%) và là mứctăng cao nhất của giai đoạn 2011-2016 Kết quả này khá bất ngờ trong bối cảnh trước đó, nhiều chuyêngia cho rằng mục tiêu tăng trưởng đề ra khá cao và khó có thể đạt được Theo Tổng cục Thống kê, độnglực khiến GDP đạt mức tăng vượt kế hoạch 6,7% năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vớimức tăng 2,90% đã góp 0,44 điểm phần trăm; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8%, đóng góp2,77 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ tăng 7,44%, đóng góp vào mức tăng chung là 2,87 điểm phầntrăm

�GDP năm 2017 tăng lên đáng kể một phần nhờ có:

+ Vốn đầu tư nước ngoài đạt gần 36 tỷ USD, cao nhất trong vòng 10 năm qua

+ Lần đầu tiên, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chạm ngưỡng 400 tỷ USD, nền kinh tế ước tính xuấtsiêu 2,7 tỷ USD

 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm

2008 trở về đây, khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉđạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện Trong mức tăng chung của toànnền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởngchung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6%; khu vực dịch vụ tăng 7,03%,đóng góp 42,7% Quy mô nền kinh tế năm 2018 theo giá hiện hành đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng; GDP bình

Trang 10

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

quân đầu người ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2017

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,57% GDP;khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,28%; khu vực dịch vụ chiếm 41,17%; thuế sản phẩm trừ trợcấp sản phẩm chiếm 9,98% (Cơ cấu tương ứng của năm 2017 là: 15,34%; 33,40%; 41,26%; 10,0%).Trên góc độ sử dụng GDP năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,17% so với năm 2017; tích lũy tài sảntăng 8,22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 12,81%

 Riêng năm 2020, tăng trưởng kinh tế đạt 2,91%, tuy là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn2011-2020 nhưng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vựckinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới thì đây là thành công lớn của Việt Nam với mức tăngtrưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới Điều này cho thấy tính đúng đắn trong chỉ đạo, điều hành khôiphục kinh tế, phòng chống dịch bệnh và sự quyết tâm, đồng lòng của toàn bộ hệ thống chính trị, Chínhphủ, Thủ tướng Chính phủ; sự nỗ lực, cố gắng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp để thực hiện

có hiệu quả mục tiêu “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế - xã hội” Bình quân giai đoạn2016-2020, tốc độ tăng GDP đạt 5,99%/năm, không đạt mục tiêu tăng trưởng theo kế hoạch đề ra (6,5-7%/năm) Một trong những yếu tố cho thấy sự tồn tại tăng trưởng kinh tế năm 2020 là tổng kim ngạchxuất nhập khẩu hàng hóa năm 2020 đạt 543,9 tỉ USD, tăng 5,1% so với năm trước, trong đó xuất khẩuđạt 281,5 tỉ USD, nhập khẩu 262,4 tỉ USD Điều này có nghĩa là trong năm qua, Việt Nam đã xuất siêu19,1 tỉ USD, mức cao nhất trong 5 năm liên tiếp Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vựcnông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,68%, đóng góp 13,5% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm củatoàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,98%, khu vực dịch vụ tăng 2,34% Về sửdụng GDP năm 2020, tiêu dùng cuối cùng tăng 1,06% so với năm 2019; tích lũy tài sản tăng 4,12%;xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 4,97%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 3,33%

Trang 11

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

Mặc dù tốc độ tăng bình quân năm trong giai đoạn 2016-2020 không đạt mục tiêu đã đề ra, nhưng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được xếp vào hàng cao nhất so với các nước trong khu vực ASEAN Bình quân năm trong giai đoạn 2016-2019, tốc độ tăng GDP của Việt Nam đạt 6,78%, cao hơn tốc độ tăng của Xin- ga-po (2,44%); Thái Lan (3,42%); Ma-lai-xi-a (4,8%); Phi-li-pin (6,6%); In-đô-nê-xi-a (5,07%); chỉ thấp hơn Cam-pu-chia (7,09%)

 Quy mô nền kinh tế ngày càng được mở rộng Theo giá hiện hành, GDP năm 2016 đạt 4.502,7 nghìn tỷđồng (tương đương 205,3 tỷ USD); năm 2018 đạt 5.542,3 nghìn tỷ đồng (tương đương 245,2 tỷ USD),ước tính năm 2020 đạt 6.293,1 nghìn tỷ đồng (tương đương 271,2 tỷ USD), gấp 1,5 lần quy mô GDPnăm 2015 Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tốc độ tăng dân số nên GDP bình quân đầu người theo giáhiện hành tăng từ 2.097 USD/người năm 2015 lên 2.202 USD/người năm 2016 (tăng 105 USD so vớinăm trước); 2.373 USD/người năm 2017 (tăng 171 USD); 2.570 USD/người năm 2018 (tăng 197 USD);2.714 USD/người năm 2019 (tăng 144 USD); ước tính năm 2020 đạt 2.779 USD/người, gấp 1,33 lầnmức GDP bình quân đầu người năm 2015 Tính theo sức mua tương đương năm 2017, GDP bình quânđầu người năm 2019 đạt 8.041 USD/người, gấp 1,4 lần năm 2015 Tăng trưởng kinh tế dần dịch chuyểnsang chiều sâu, thể hiện ở mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng củanền kinh tế tăng lên Trong giai đoạn 2016-2020, đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế đạt bìnhquân 45,72%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 32,84% của giai đoạn 2011-2015 Cùng với đó, chỉ

số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm từ 6,42 năm 2016 xuống 6,08 năm 2019 Bình quângiai đoạn 2016-2019, hệ số ICOR đạt 6,13, thấp hơn so với hệ số 6,25 của giai đoạn 2011-2015

b Cơ cấu lại nền kinh tế đã có bước chuyển biến tích cực, thực chất hơn trong các ngành, lĩnh vực

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo xu hướng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; tăng

tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ Tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sảntrong GDP đã giảm từ 16,32% năm 2016 xuống 15,34% năm 2017, năm 2019 còn 13,96% và ước tính năm

2020 là 14,85%4 ; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 32,72% năm 2016 lên 33,4% năm 2017;34,49% năm 2019 và ước tính năm 2020 là 33,72%; khu vực dịch vụ tăng từ 40,92% năm 2016 lên 41,26%năm 2017, 41,64% năm 2019 và ước tính năm 2020 là 41,63% Sau 5 năm, tỷ trọng khu vực nông, lâmnghiệp và thủy sản giảm 1,47 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 1 điểm phần trăm5 ;khu vực dịch vụ tăng 0,71 điểm phần trăm Chuyển đổi cơ cấu kinh tế những năm gần đây không chỉ diễn ragiữa các ngành kinh tế mà còn có xu hướng chuyển đổi tích cực trong nội bộ ngành Trong sản xuất nôngnghiệp, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ loại cây có giá trị thấp sang loại cây có giá trị cao hoặc nuôitrồng thủy sản mang lại hiệu quả rõ rệt Cơ cấu sản xuất được điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế củamỗi địa phương và cả nước, gắn với nhu cầu thị trường Một số nông sản có sản lượng lớn, chủ lực đã khẳng

Trang 12

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

định được vị thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, bảo đảm đứng vững trong hội nhập quốc tế

Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu các ngành, sản phẩm có lợi thế và thị trường tiêu thụ như thủy sản (nhất làtôm nước lợ), rau, hoa quả, các loại cây công nghiệp giá trị cao, đồ gỗ, lâm sản trong tổng kim ngạch xuấtkhẩu hàng hóa ngày càng tăng Lĩnh vực công nghiệp chuyển dịch theo hướng phát triển các ngành côngnghiệp có giá trị gia tăng cao và giá trị xuất khẩu lớn; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng dần quacác năm Bình quân giai đoạn 2016-2020, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,24%/năm, chiếm tỷtrọng 16,7% GDP năm 2020 và tăng 2,43 điểm phần trăm so với năm 2016; ngành khai khoáng giảm3,75%/năm, chiếm 5,55% GDP và giảm 2,57 điểm phần trăm Điều này cho thấy quá trình chuyển dịch cơcấu ngành công nghiệp đã theo hướng tăng tỷ trọng các ngành chế biến, chế tạo, nhất là các ngành côngnghiệp chế biến sâu, đồng thời giảm tỷ trọng ngành khai khoáng để phát triển bền vững gắn kết với bảo vệmôi trường Khu vực dịch vụ được cơ cấu lại theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, tập trung đầu tư cơ

sở vật chất và phát triển đa dạng các sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm có năng lực cạnh tranh Trong đó, một

số ngành dịch vụ được hiện đại hóa, hình thành các sản phẩm dịch vụ chất lượng cao như dịch vụ y tế, bảohiểm đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngtrong 5 năm qua liên tục tăng cao Tính chung 5 năm 2016- 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thudịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành đạt 21.887 nghìn tỷ đồng, bình quân mỗi năm tăng 9,4%, bao gồm:Bán lẻ hàng hóa đạt 16.664,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,1% tổng mức và bình quân mỗi năm tăng 10,7%;dịch vụ lưu trú ăn uống đạt 2.559,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,7% và tăng 5%; du lịch lữ hành và dịch vụ khácđạt 2.663,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,2% và tăng 5,7% Hoạt động xuất nhập khẩu đạt nhiều kết quả quantrọng, năm 2020 tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt 545,4 tỷ USD, tăng 5,3%,tương ứng tăng 27,4 tỷ USD về số tuyệt đối so với năm 2019 Tính chung giai đoạn 2016-2020, kim ngạchxuất khẩu hàng hóa tăng bình quân 11,8%/năm; nhập khẩu hàng hóa tăng bình quân 9,6%/năm Cơ cấu laođộng có sự dịch chuyển theo hướng tích cực Tỷ trọng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tổng sốlao động cả nước giảm mạnh, từ 41,6% năm 2016 xuống còn 33,1% năm 2020, giảm 8,5 điểm phần trăm sovới năm 2016 (đạt mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2016-2020, tỷ trọng dưới 40%) Lao động trong khu vựccông nghiệp và xây dựng tăng nhanh, năm 2016 chiếm 25,2% lao động cả nước, đến năm 2020 chiếm30,8%, tăng 5,6 điểm phần trăm so với năm 2016 (đạt mục tiêu giai đoạn 2016-2020 chiếm khoảng 25%-30%) Khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất từ 33,3% năm 2016 lên 36,1% trong năm 2020, tăng 2,9điểm phần trăm Bên cạnh đó, các cân đối lớn của nền kinh tế trong giai đoạn 2016-2020 được bảo đảm, gópphần củng cố nền tảng vĩ mô, tạo nguồn lực cho phát triển Ước tính tổng thu ngân sách 5 năm 2016-2020đạt 6.915 nghìn tỷ đồng, gấp 1,6 lần giai đoạn 2011-2015 Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP có

xu hướng giảm trong giai đoạn 2016-2020, tình hình cân đối ngân sách Trung ương và địa phương đượcđảm bảo, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát trong giới hạn Độ mở của nền kinh tế tăng nhanh,tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ so với GDP năm 2016 đạt 184,7%; năm 2020 ước đạt209,3% Điều này chứng tỏ Việt Nam đã tăng cường hội nhập, khai thác được thế mạnh của kinh tế trongnước, tham gia sâu, rộng vào thị trường thế giới

4 Năm2021:

Tại họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý IV năm 2021, Tổng cục Thống kê cho biết GDPnăm 2021 ước tính tăng 2,58% Trong đó, quý I tăng 4,72%, quý II tăng 6,73%, quý III giảm 6,02%; quý

IV tăng 5,22% so với năm trước Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp

và thủy sản tăng 2,9%, đóng góp 13,97% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khuvực công nghiệp và xây dựng tăng 4,05%, đóng góp 63,80%; khu vực dịch vụ tăng 1,22%, đóng góp

Trang 13

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

22,23%

Cụ thể, trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, năng suất của phần lớn cây trồng đạt khá so với năm trước,chăn nuôi tăng trưởng ổn định, kim ngạch xuất khẩu một số nông sản năm 2021 tăng cao góp phần duy trì nhịptăng trưởng của cả khu vực Ngành nông nghiệp tăng 3,18%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm vào tốc độ tăngtổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,88%,; ngành thủy sản tăng 1,73%.Trongkhu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng củatoàn nền kinh tế với tốc độ tăng 6,37%, đóng góp 1,61 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêmcủa toàn nền kinh tế Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,24% Ngành khai khoáng giảm 6,21% do sảnlượng dầu mỏ thô khai thác giảm 5,7% và khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 19,4% (đặc biệt trong năm 2021,giá xăng dầu có sức tăng khá lớn) Ngành xây dựng tăng 0,63%

Một năm dịch bệnh nặng nề đã tác động tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, vẫn có nhiều điểmsáng giúp kinh tế Việt Nam phần nào phục hồi sau thời điểm khó khăn nhất của quý III Xuất nhập khẩu là điểmsáng nhất khi tổng kim ngạch đạt hơn 668 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước Trong đó, xuất khẩu tăng19%; nhập khẩu tăng 26,5% và cán cân thương mại quý IV đã đổi chiều từ nhập siêu sang xuất siêu, qua đógiúp cán cân thương mại hàng hóa cả nước thặng dư khoảng 4 tỷ USD Kết quả này tiếp tục đưa Việt Nam trởthành quốc gia xuất siêu 6 năm liên tiếp

Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp từ cuối tháng 4/2021 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại

và dịch vụ Tăng trưởng âm của một số ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn đã làm giảm mức tăng chung của khuvực dịch vụ và toàn bộ nền kinh tế Riêng ngành y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt tốc độ tăng cao nhất trongkhu vực dịch vụ với mức tăng 42,75% Bên cạnh đó, hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,42%,đóng góp 0,52 điểm phần trăm; ngành thông tin và truyền thông tăng 5,97% Về sử dụng GDP năm 2021, tiêudùng cuối cùng tăng 2,09% so với năm 2020; tích lũy tài sản tăng 3,96%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng14,01%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,16%

Đánh giá nhóm: Mức độ tăng trưởng GDP trong năm 2021 có những biến động mạnh do ảnh hưởng sâu sắc

của đại dịch Covid 19 Tuy nhiên, dù ở nửa đầu năm có chiều hướng tăng trưởng tích cực và ở quý IV cuối năm

đã có những dấu hiệu phát triển đi lên, nhưng rất khó để đảo chiều tổng mức tăng trưởng GDP bởi sự giảm

Trang 14

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

quá sâu của quí III ở mức hơn 6% Dù vậy, nhưng nhìn chung ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có GDP tăng trưởng ở mức khá Trong diễn biến căng thẳng của đại dịch, và sự ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế thị trường Việt Nam trên mọi phương diện nhưng mức tăng trưởng cuối cùng vẫn

ở mức dương

II Mức sống:

1 Năm 2010:

Giá cả nhiều hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng tăng cao trong những tháng cuối năm cùng với thiên tai liên tiếp xảy ra

đã ảnh hưởng đến đời sống dân cư Trong năm 2010, trên địa bàn cả nước có 796,2 nghìn lượt hộ thiếu đói với3067,8 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói Để giúp đỡ người dân khắc phục khó khăn do thiếu đói, các cấp, cácngành và tổ chức đoàn thể từ trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói trên 42 nghìn tấn lương thực

và gần 64 tỷ đồng Trong dịp Tết Nguyên đán Canh Dần, lãnh đạo Đảng và Nhà nước, chính quyền địa phương,các cơ quan, đoàn thể và cá nhân đã hỗ trợ, thăm hỏi, động viên và tặng quà các hộ nghèo, người già cô đơn,người tàn tật, trẻ mồ côi và các đối tượng chính sách xã hội với tổng trị giá gần 890 tỷ đồng

Cùng với hoạt động trên, các ngành, các cấp và tổ chức đoàn thể đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đóchú trọng nâng cao hiệu quả các chương trình hỗ trợ cho nông dân và hộ nghèo để phát triển sản xuất kinh doanh,tăng thu nhập Chương trình 135 giai đoạn 2006–2010 (Giai đoạn II) được thực hiện trên địa bàn 50 tỉnh với 369huyện, 1958 xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu và 3274 thôn bản đặc biệt của 1291 xã khu vực IIvới số vốn ngân sách trung ương cấp 14 nghìn tỷ đồng Đến nay Chương trình cơ bản kết thúc và đạt được nhữngkết quả quan trọng, góp phần phát triển kinh tế- xã hội và ổn định đời sống nhân dân các xã, thôn, bản đặc biệtkhó khăn vùng đồng bào dân tộc và vùng miền núi Theo báo cáo sơ bộ, tổng vốn giải ngân của Chương trình 135giai đoạn II đạt 97,1% tổng vốn đầu tư

Cũng trong năm 2010, đã có 43,6 nghìn ngôi nhà được xây mới và sửa chữa dành cho các đối tượng và gia đìnhchính sách; 1,9 triệu lượt học sinh, sinh viên của hơn 1,7 triệu lượt hộ gia đình được vay vốn hỗ trợ học tập.Chính sách tín dụng ưu đãi cho sinh viên tăng từ 800 nghìn đồng/sinh viên/tháng lên 860 nghìn đồng/sinhviên/tháng; mức lương tối thiểu tăng từ 650 nghìn đồng/tháng lên 730 nghìn đồng/tháng đã góp phần cải thiệnđời sống nhân dân Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 ước tính 10,6%, giảm so với mức 12,3% năm 2009

2 Giai đoạn 2011 – 2015:

Nhận xét: Ở giai đoạn này, an sinh xã hội và mức sống dân cư được đảm bảo, nhiều lĩnh vực cuộc sống

được cải thiện một cách rõ rệt

Theo kết quả Khảo sát mức sống hộ gia đình do Tổng cục Thống kê tiến hành hai năm một lần, thu nhập bìnhquân 1 người 1 tháng theo giá hiện hành đã tăng từ 1387 nghìn đồng năm 2010 lên 2000 nghìn đồng năm 2012

và 2637 nghìn đồng năm 2014 Ước tính năm 2015 đạt 2850 nghìn đồng/người/tháng, gấp 2,06 lần so với năm

2010, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra là gấp 2-2,5 lần Chi tiêu bình quân 1 người 1 tháng vào các năm tương ứngcũng tăng từ 1211 nghìn đồng lên 1603 nghìn đồng và 1888 nghìn đồng Ngoài chi tiêu cho đời sống hằng ngày,nhiều hộ gia đình còn có tích lũy xây dựng nhà ở, mua sắm đồ dùng lâu bền và các tiện nghi sinh hoạt khác.Diện tích nhà ở bình quân đầu người tăng từ 17,9 m2/người năm 2010 lên 19,4 m2/người năm 2012; 21,4m2/người năm 2014 và ước tính năm 2015 hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra là diện tích nhà ở bình quân đầungười chung cả nước đạt 22 m2, trong đó khu vực đô thị đạt 26 m2/người Tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền tăng từ98,4% năm 2010 lên 99,4% năm 2012 và 99,7% năm 2014 Tương tự, tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinhtăng từ 90,5% lên 91,0% và 93,0%; tỷ lệ hộ dùng điện cho sinh hoạt tăng từ 97,2% lên 97,6% và 98,3%; tỷ lệ

hộ có hố xí hợp vệ sinh tăng từ 75,7% lên 77,4% và 83,6%

Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 12,6% năm 2011xuống11,1% năm 2012; 9,8% năm 2013; 8,4% năm 2014 và 7,0%năm 2015, bình quân mỗi năm trong 5 năm 2011-2015tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,44 điểm phần trăm

Bảng: Tỷ lệ hộ nghèo 2011 – 2015 phân theo vùng

Trang 15

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

ĐB sông Cửu Long 11.6 10.1 9.2 7.9 6.5

Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội tiếp tục được bổ sung hoàn thiện, đã và đang phát huy tác dụng tích cựctrong việc thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ người nghèo Theo Báocáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, trong 5 năm 2011-2015, ngân sách Nhà nước đã chi 60 nghìn tỷđồng hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách; 35 nghìn tỷ đồng hỗ trợ điều kiện học tập chotrên 10 triệu lượt học sinh nghèo, học sinh là người dân tộc thiểu số; 5 nghìn tỷ đồng hỗ trợ 350 nghìn lao độngnghèo học nghề miễn phí; hỗ trợ tiền điện cho 11 triệu lượt hộ nghèo với số tiền trên 3500 tỷ đồng

Người có công với cách mạng được mở rộng đối tượng thụ hưởng và nâng mức hỗ trợ Trong 5 năm 2011-2015,Quỹ đền ơn đáp nghĩa đã huy động được 1433 tỷ đồng, góp phần xây mới 63,5 nghìn ngôi nhà tình nghĩa vànâng cấp 44,6 nghìn ngôi nhà tình nghĩa khác Mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công năm 2015 đã tăng71,2% so với năm 2010 Đến cuối năm 2015 có 98,5% hộ gia đình chính sách, người cócông có mức sống bằnghoặc cao hơn mức sống trung bình của hộ dân cư trên địa bàn cư trú; 98% số xã, phường được công nhận làmtốt công tác thương binh, liệt sĩ và người có công.Các đối tượng là người khuyết tật, tâm thần, người cô đơn, trẻ

em bị bỏ rơi và các đối tượng khác được các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm chăm sóc Tại thời điểm30/6/2015 cả nước có 402 cơ sở trợ giúp xã hội, trong đó 213 cơ sở công lập và 189 cơ sở ngoài công lập Các

cơ sở này thường xuyên nuôi dưỡng khoảng 42 nghìn đốitượng Tính chung, đến 31/12/2015 cả nước có 2,7triệu người hưởng trợ cấp xã hội, gấp trên 2 lần so với 31/12/2010

3 Giai đoạn 2016 – 2020:

Trong giai đoạn 2016-2019, cơ cấu thu nhập theo nguồn thu tiếp tục theo hướng tăng dần tỷ trọng thu nhập từtiền lương, tiền công (từ 46,7% lên 54,7%), giảm dần tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động nông, lâm nghiệp vàthủy sản (từ 16,6% xuống 11,8%) Tốc độ tăng thu nhập từ tiền lương, tiền công bình quân giai đoạn này đạt17,5%/năm, cao hơn tốc độ tăng thu nhập từ hoạt động phi nông, lâm nghiệp và thủy sản (10,3%/năm); các hoạtđộng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 0,3%/năm Chênh lệch về thu nhập giữa nhóm 20% số hộ có thu nhậpbình quân đầu người cao nhất so với nhóm 20% số hộ có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất có xu hướngtăng lên trong những năm qua nhưng thay đổi không nhiều, từ 9,7 lần năm 2014 lên 9,8 lần năm 2016, 10 lầnnăm 2018 và 10,2 lần năm 2019

Bảng: Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người 1 tháng giữa các nhóm hộ dân cư những năm 2016 – 2019

Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng (nghìn

Trang 16

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

Thu nhập bình quân đầu người tăng nhưng không đồng đều, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập vẫn còntồn tại rõ ràng và dễ nhận thấy Năm 2016 thu nhập bình quân đầu người ở khu vực thành thị là 4,6 triệuđồng/người/tháng trong khi khu vực nông thôn là 2,4 triệu đồng/người/tháng

Về chi tiêu, tính chung cả nước, chi tiêu theo giá hiện hành bình quân đầu người 1 tháng năm 2018 đạt 2.546nghìn đồng, tăng 18% so với năm 2016, bình quân mỗi năm tăng 8,6%, trong đó chi tiêu bình quân đầu người 1tháng ở khu vực nông thôn đạt 2.069 nghìn đồng, tăng 19,3%; khu vực thành thị đạt 3.496 nghìn đồng, tăng14,3% Tốc độ tăng chi tiêu thực tế bình quân đầu người (chi tiêu sau khi loại trừ yếu tố tăng giá) thời kỳ 2016-

2018 tăng 5,2%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng 4,3%/năm của thời kỳ 2014-2016 Cơ cấu chi tiêu theo chi đờisống và chi khác không có sự thay đổi đáng kể Tỷ trọng chi tiêu cho đời sống trong chi tiêu bình quân đầungười một tháng năm 2018 chiếm 93%, chi tiêu khác chiếm 7% (Hai tỷ trọng tương ứng của năm 2014 là 93,4%

và 6,6%, 2016 là 93,5% và 6,5%) Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh năm 2019 là 96,3%, trong

đó thành thị 99,4%, nông thôn 94,7%, vùng có tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh thấp nhất là Trung du

và miền núi phía Bắc 87,8%, hai vùng 155 có tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh cao nhất làvùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có cùng tỷ lệ 99,8% Năm 2018, tỷ lệ hộ dùng điện sinh hoạt (chỉtính số hộ sử dụng điện lưới) đạt 99%, trong đó thành thị đạt 99,9%; nông thôn 98,6%; tỷ lệ hộ có đồ dùng lâubền đạt 99,8%, trong đó thành thị đạt 99,9%; nông thôn đạt 99,8% Diện tích nhà ở bình quân đầu người của cảnước năm 2018 đạt 23,8m2 /người, tăng 1,6m2 so với năm 2016, trong đó khu vực thành thị là 26,2m2 /người;nông thôn là 22,6m2 /người

Thu nhập bình quân của người nghèo tăng 1,6 lần trong giai đoạn 2016- 2020 Người nghèo có khả năng laođộng được hỗ trợ sinh kế, phát triển sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt phù hợp với nhu cầu, đời sống vật chất vàtinh thần được cải thiện, nâng lên rõ rệt

4 Năm 2021:

Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế tiếp tục được đảm bảo; hoạtđộng sản xuất, kinh doanh vẫn được duy trì trong bối cảnh chịu tác động mạnh từ dịch bệnh Sản xuất nôngnghiệp cơ bản ổn định Chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là trong phòng, chống kiểm soátdịch bệnh được đẩy mạnh Cải cách thể chế tiếp tục được quan tâm, quyết liệt tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử

lý quy định pháp luật còn chồng chéo, không phù hợp với thực tiễn Đẩy mạnh cải cách tư pháp; cải cách thủtục hành chính, sắp xếp lại bộ máy cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp và cung ứng dịch vụ công Các lĩnhvực văn hóa, xã hội tiếp tục được quan tâm, tăng cường

Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tại một số khó khăn, hạn chế do diễn biến dịch bệnh kéo dài củadịch bệnh ảnh hưởng không nhỏ đến mọi mặt của nền kinh tế, khiến sản xuất, lưu thông hàng hóa, xuất khẩu bịđình trệ, đứt gãy, sức mua trong nước giảm sút Đời sống của người dân, người lao động còn nhiều khó khăn,nhất là tại khu vực thành thị bị tác động nặng nề như hoạt động sản xuất, kinh doanh bị đình trệ, suy giảm; kinh

tế vĩ mô đối mặt với một số rủi ro, thách thức; tình hình doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn; việc làm, sinh kế,đời sống Nhân dân, nhất là người lao động tại khu vực thành thị bị ảnh hưởng

Thu nhập bình quân tháng của lao động quý III năm 2021 là 5,2 triệu đồng, giảm 877 nghìn đồng so với quýtrước và giảm 603 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước Thu nhập bình quân tháng của lao động nam cao hơnlao động nữ 1,40 lần (6,0 triệu đồng so với 4,3 triệu đồng); thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thịcao hơn lao động ở khu vực nông thôn 1,35 lần (6,2 triệu đồng so với 4,6 triệu đồng) Diễn biến phức tạp củadịch Covid-19 đã tác động nghiêm trọng đến đời sống của người lao động Thu nhập bình quân của người laođộng Quý III năm 2021 thấp hơn đáng kể so với Quý II năm 2020 (5,2 triệu đồng so với 5,5 triệu đồng), trongkhi Quý II năm 2020 đã ghi nhận thu nhập bình quân của người lao động là mức thấp nhất trong vòng 10 nămtrở lại đây

Quý III năm 2021, hầu hết các ngành kinh tế đều ghi nhận mức sụt giảm thu nhập bình quân của người lao động

Trang 17

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

thu nhập bình quân tháng là 6,2 triệu đồng, giảm 1,0 triệu đồng, tương ứng giảm 14,3% so với quý trước; laođộng khu vực công nghiệp và xây dựng có mức thu nhập bình quân là 5,8 triệu đồng, giảm 906 nghìn đồng,tương ứng giảm 13,5% so với quý trước Những diễn biến khó lường của dịch Covid-19 lần thứ tư đã tác độngtới khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản Đây là khu vực có nhiều yếu tố khởi sắc và ghi nhận tốc độ tăngtrưởng ổn định về thu nhập bình quân người lao động tương trong thời gian vừa qua Tuy nhiên, đến quý IIInăm 2021 thu nhập bình quân của người lao động chỉ là 3,4 triệu đồng, giảm 340 nghìn đồng, tương ứng giảm9,2% so với quý trước Thu nhập bình quân của người lao động trong một số ngành kinh tế vốn đã chịu tác động

từ các đợt dịch Covid-19 lần trước, quý III năm 2021 tiếp tục gặp nhiều khó khăn hơn với mức thu nhập bìnhquân giảm sâu so với quý trước Trong đó, lao động ngành vận tải, kho bãi có thu nhập bình quân giảm 20,3%,tương ứng giảm 1,6 triệu đồng; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống có thu nhập bình quân giảm 21,2%, tương ứnggiảm 1,2 triệu đồng so với quý trước Thu nhập bình quân của lao động làm công ăn lương quý III năm 2021 là6,0 triệu đồng, giảm 795 nghìn đồng so với quý trước và giảm 525 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước Thunhập bình quân của lao động nam làm công hưởng lương cao hơn lao động nữ 1,16 lần (tương ứng 6,4 triệuđồng so với 5,5 triệu đồng); thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị cao hơn 1,20 lần so với thunhập của lao động ở nông thôn (tương ứng 6,6 triệu đồng so với 5,5 triệu đồng)

III CPI, lạm phát:

 Năm 2010:

 Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2010 tăng 1,98% so với tháng trước, mức tăng cao nhất các tháng trong nămnay Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có chỉ số giá tiếp tục tăng vàtăng cao nhất với mức 3,31% so với tháng trước (Lương thực tăng 4,67%; thực phẩm tăng 3,28%); tiếp đến

là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,53%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,81%; đồ uống và thuốc

lá tăng 1,3% Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng thấp hơn, ở mức dưới 1% gồm: Thiết bị và

đồ dùng gia đình tăng 0,86%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,51%; giao thông tăng 0,45%; thuốc và dịch

vụ y tế tăng 0,41%; giáo dục tăng 0,07% Riêng nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá giảm 0,02%

 Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2010 so với tháng 12/2009 tăng 11,75% Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm

2010 tăng 9,19% so với bình quân năm 2009

Biểu đồ CPI qua các tháng trong năm 2010 so với năm 2009

 Các yếu tố tác động đến lạm phát xuất phát từ 3 nguyên nhân chính: cung tiền tăng quá mức, giá hànghóa thế giới tăng cao đột ngột, và sức cầu về hàng hóa trong nước tăng trong khi sản xuất chưa đáp ứngkịp trong đó cung tiền được xem là nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở Việt Nam

Trang 18

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

cao hơn rất nhiều so với các quốc gia khác trong cùng thời kỳ, cụ thể như với các nước trong khu vựcASEAN( tăng từ quý III/2009 đến quý IV/2010, từ 0,4% lên 5,3% , mặc dù cùng chịu chung cú sốc tăng)giá của hàng hóa thế giới

 Giai đoạn 2011-2015:

 Cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu ảnh hưởng tới Việt Nam và kéo lạmphát về mức 7% trong năm 2009 Tuy nhiên, đợt lạm phát hai con số thứ 2 lại bắt đầu từ tháng 9năm 2010, 42 trước cả khi tác động của khủng hoảng giảm xuống Đợt lạm phát cao này kéo dài 13tháng đến tháng 10 năm 2011 khiến cho lạm phát lên đến 11,75% trong năm 2010 và 18,13% trongnăm 2011 Trước tình hình lạm phát như trên, ngày 24 tháng 02 năm 2011 Chính phủ đã ban hànhNghị quyết số 11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế

vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội với nhiều giải pháp quan trọng

 Triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các Nghị quyết và giải pháp kiềm chế và kiểm soát lạmphát, kinh tế nước ta đã từng bước được cải thiện và tương đối ổn định, tỷ lệ lạm phát liên tục giảm.Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 so với cùng kỳ năm trước đã giảm từ 2 con số năm 2011 (18,13%)xuống mức 1 con số (6,81% năm 2012; 6,04% năm 2013; 1,84% năm 2014 và 0,60% năm 2015).Lạm phát cơ bản giảm từ 13,62% năm 2011 xuống 8,19% năm 2012; 4,77% năm 2013; 3,31% năm

2014 và 2,05% năm 2015

Trang 19

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

 Giai đoạn 2016-2020:

 Giai đoạn 5 năm 2016-2020, tình hình giá cả Việt Nam có nhiều biến động và chịu ảnh hưởngtiêu cực của các nhân tố như: căng thẳng thương mại Mỹ - Trung gia tăng, dịch Covid-19 diễn biếnphức tạp tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời củaChính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các mặt hàng quan trọng, thiết yếu như dịch vụ y tế, dịch vụ giáodục, xăng dầu, điện… được thực hiện điều chỉnh tiệm cận dần theo giá thị trường, phù hợp trongtừng giai đoạn, nhờ đó công tác quản lý điều hành giá, kiểm soát lạm phát của Chính phủ đã đạtđược những thành công đáng kể, chỉ tiêu CPI thực hiện đều thấp hơn kế hoạch Bình quân năm giaiđoạn 2016-2020 CPI tăng 3,15%, thấp hơn mức tăng 7,65%/năm của giai đoạn 2011-2015

 Năm 2016, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 tăng 4,74% so với tháng 12/2015, đạt mục tiêudưới 5% Quốc hội đề ra CPI bình quân năm 2016 tăng 2,66% so với bình quân năm 2015, bìnhquân mỗi tháng CPI tăng 0,39% Năm 2017, CPI bình quân tăng 3,53% so với năm 2016 và tăng2,6% so với tháng 12 năm 2016, thấp hơn mục tiêu 4% Quốc hội đề ra Trong 2 năm 2016 và 2017lạm phát tăng chủ yếu do Chính phủ điều hành giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục và tăng mức lươngtối thiểu vùng áp dụng cho người lao động ở các doanh nghiệp Bên cạnh đó, việc tăng giá điện sinhhoạt và những ảnh hưởng của thiên tai cũng tác động không nhỏ đến tỷ lệ lạm phát Việt Nam năm2016-2017 Lạm phát cơ bản giảm từ 1,83% năm 2016 xuống 1,41% năm 2017

 Năm 2018 tiếp tục là năm thành công trong việc kiểm soát lạm phát, CPI bình quân năm 2018tăng 3,54% so với năm 2017, đạt chỉ tiêu Quốc hội đề ra; CPI tháng 12/2018 tăng 2,98% so vớitháng 12 năm 2017, bình quân mỗi tháng tăng 0,25% Mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ CPI bìnhquân năm 2018 dưới 4% đạt được nhờ sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự phối hợpchặt chẽ giữa các Bộ, ngành trong việc xây dựng và đề xuất các kịch bản điều hành giá CPI bìnhquân năm 2019 tăng 2,79% so với năm 2018, là mức tăng bình quân năm thấp nhất trong 3 năm liêntiếp; CPI tháng 12/2019 tăng 5,23% so với tháng 12/2018 CPI năm 2019 tăng chủ yếu do giá điệnsinh hoạt điều chỉnh tăng, nhu cầu tiêu dùng điện cao vào dịp Tết và thời tiết nắng nóng trong quý II

và quý III/2019; các địa phương điều chỉnh tăng giá dịch vụ giáo dục theo lộ trình và giá dịch vụ y

tế, dịch vụ khám chữa bệnh Lạm phát cơ bản bình quân tăng từ 1,48% năm 2018 lên 2,01% năm2019

 Bước sang năm 2020, CPI bình quân tăng 3,23% so với năm trước, chủ yếu do giá các mặt hàng thựcphẩm tăng 12,28% so với năm trước (làm CPI chung tăng 2,61 điểm phần trăm), trong đó riêng giá thịt lợn tăng57,23% (làm CPI chung tăng 1,94 điểm phần trăm); bên cạnh đó, ảnh hưởng của dịch Covid-19 cũng khiến giámột số mặt hàng y tế tăng cao và tại một số thời điểm, một bộ phận người dân tập trung đi mua hàng dự trữ nhuyếu phẩm nên có những tác động nhất định đến tâm lý chung toàn xã hội Nhìn chung, mặt bằng giá năm 2020tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, ngay từ tháng Một đã tăng 6,43%, ảnh hưởng đến công tác quản lý,điều hành giá của năm 2020, dẫn đến việc kiểm 60 soát lạm phát theo mục tiêu dưới 4% Quốc hội đặt ra gặpnhiều khó khăn, thách thức Tuy nhiên, với sự chỉ đạo, điều hành sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,

sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương, mức tăng của CPI được kiểm soát dần qua từng tháng, đến cuốinăm 2020, CPI bình quân đạt mức tăng 3,23%, đạt mục tiêu Quốc hội Lạm phát cơ bản bình quân năm 2020tăng 2,31% so với bình quân năm 2019

Trang 20

NHÓM 17 TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KTE203.8

 Năm 2021 (6 tháng đầu năm):

 Giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào tăng theo giá thế giới; giá điện, nước sinh hoạt tăng theo nhucầu tiêu dùng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng 0,19%

so với tháng trước, tăng 1,62% so với tháng 12/2020 và tăng 2,41% so với tháng 6/2020 Bình quân

6 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm2016; lạm phát cơ bản 6 tháng tăng 0,87%

 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 1,62% so với tháng12/2020 và tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2020 CPI bình quân quý II tăng 0,45% so với quý trước

và tăng 2,67% so với cùng kỳ năm 2020 CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 1,47% so vớibình quân cùng kỳ năm 2020

 Lạm phát cơ bản tháng 6/2021 tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 1,14% so với cùng kỳ nămtrước Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 0,87% so với bình quân cùng kỳ năm2020

 Bình quân 6 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất

kể từ năm 2016 CPI bình quân quý II tăng 0,45% so với quý trước và tăng 2,67% so với cùng kỳnăm 2020 Lạm phát cơ bản tháng 6/2021 tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 1,14% so với

Ngày đăng: 18/05/2022, 18:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình trên cho thấy có cải thiện tốc độ tăng GDP theo các quý trong năm 2010. Tốc độ tăng GDP quý I đạt 5,83%, quý II là 6,4%, quý III tăng lên 7,14% và dự đoán quý IV sẽ đạt 7,41% - TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021
Hình tr ên cho thấy có cải thiện tốc độ tăng GDP theo các quý trong năm 2010. Tốc độ tăng GDP quý I đạt 5,83%, quý II là 6,4%, quý III tăng lên 7,14% và dự đoán quý IV sẽ đạt 7,41% (Trang 4)
Đánh giá nhóm: Đến năm 2010, Việt Nam đã có những bước phát triển đáng mong đợi sau tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, nhưng thực tế, chất lượng tăng trưởng không cao, thể hiện ở tính hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, tăn - TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021
nh giá nhóm: Đến năm 2010, Việt Nam đã có những bước phát triển đáng mong đợi sau tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, nhưng thực tế, chất lượng tăng trưởng không cao, thể hiện ở tính hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, tăn (Trang 5)
gian này. Không chỉ vậy, tình hình căng thẳng ở biển Đông diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định của nước ta và khu vực - TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021
gian này. Không chỉ vậy, tình hình căng thẳng ở biển Đông diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định của nước ta và khu vực (Trang 6)
Trước tình hình đó, nhà nước đã kịp thời đưa ra các chính sách tài khóa (miễn, giảm, hoặc gia hạn nộp thuế thu nhập cho doanh nghiệp) và chính sách tiền tệ (giảm lãi suất, gỡ bỏ trần lãi suất dài hạn …) để khắc phục khó khăn trong sản xuất, kinh doanh và - TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021
r ước tình hình đó, nhà nước đã kịp thời đưa ra các chính sách tài khóa (miễn, giảm, hoặc gia hạn nộp thuế thu nhập cho doanh nghiệp) và chính sách tiền tệ (giảm lãi suất, gỡ bỏ trần lãi suất dài hạn …) để khắc phục khó khăn trong sản xuất, kinh doanh và (Trang 7)
Bảng: Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người 1 tháng giữa các nhóm hộ dân cư những năm 201 6– 2019 Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng (nghìn - TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021
ng Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người 1 tháng giữa các nhóm hộ dân cư những năm 201 6– 2019 Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng (nghìn (Trang 15)
 Giai đoạn 5 năm 2016-2020, tình hình giá cả Việt Nam có nhiều biến động và chịu ảnh hưởng tiêu cực của các nhân tố như: căng thẳng thương mại Mỹ - Trung gia tăng, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam - TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021
iai đoạn 5 năm 2016-2020, tình hình giá cả Việt Nam có nhiều biến động và chịu ảnh hưởng tiêu cực của các nhân tố như: căng thẳng thương mại Mỹ - Trung gia tăng, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam (Trang 19)
Tổng cục Thống kê đánh giá, tình hình lao động, việc làm quý IV/2020 có nhiều dấu hiệu khởi sắc so với quý trước nhưng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm tính chung cả năm 2020 cao hơn năm 2019 trong khi số người có việc - TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021
ng cục Thống kê đánh giá, tình hình lao động, việc làm quý IV/2020 có nhiều dấu hiệu khởi sắc so với quý trước nhưng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm tính chung cả năm 2020 cao hơn năm 2019 trong khi số người có việc (Trang 25)
Bảng Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và ASEAN 2011- 2019 - TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021
ng Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và ASEAN 2011- 2019 (Trang 28)
 Nhận diện tình hình: Từ năm 2016 trở lại đây, trong năm 2019 nói riêng, nền kinh tế Việt Nam nhìn chung phát triển tương đối ổn định và có cải thiện khá rõ nét - TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021
h ận diện tình hình: Từ năm 2016 trở lại đây, trong năm 2019 nói riêng, nền kinh tế Việt Nam nhìn chung phát triển tương đối ổn định và có cải thiện khá rõ nét (Trang 28)
 Mô hình tăng trưởng kinh tế thay đổi chưa rõ nét, chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa được như kỳ vọng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm - TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021
h ình tăng trưởng kinh tế thay đổi chưa rõ nét, chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa được như kỳ vọng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm (Trang 36)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w