Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, nhất là yêu cầu đổi mới căn bản, toàn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Đắk Lắk, ngày……tháng…….năm 2021
Người cam đoan
Đoàn Thị Loan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, học viên xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học TS.Nguyễn Minh Sản đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến khoa học trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Học viên cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Khoa Chính sách công cùng toàn thể các thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện cho học viên hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
Cuối cùng học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Sự động viên giúp đỡ của thầy, cô giáo, cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp là nguồn động viên quý báu cho học viên hoàn thành luận văn này
Đắk Lắk, ngày……tháng…….năm 2021
Người cam đoan
Đoàn Thị Loan
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT 8
VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC NGÀNH GIÁO DỤC 8
1.1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách công 8
1.2 Khái quát về viên chức và quản lý viên chức ngành giáo dục 12
1.3 Khái quát tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục 28
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT 40
VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC NGÀNH GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK 40
2.1 Tổng quan về thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk và đội ngũ viên chức ngành giáo dục tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk 40
2.2 Thực trạng chủ thể và thực tiễn tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dụcthành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk 42
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH 67
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC NGÀNH GIÁO DỤC 67
Trang 6TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK 67
3.1 Yêu cầu và quan điểm tăng cườngthực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dụctại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk 67
3.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk 69
Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 86
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng đội ngũ viên chức giáo dục thành phố Buôn Ma Thuột 41 Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ viên chức giáo dục thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay 48 Bảng 2.3 Trình độ Ngoại ngữ, Tin học của đội ngũ viên chức giáo dục thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay 49 Bảng 2.5 Bảng tổng hợp kết quả sau kiểm tra công tác quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở công lập năm 2017 - 6/ 2021 57
Phụ lục 1.Bảng thông kê đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên các trường Mần non.;
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các Văn kiện quan trọng của Đảng trong các giai đoạn trước đây, Cương lĩnh năm 2011 đã đưa ra các quan điểm, định hướng lớn về phát triển giáo dục và Đào tạo:
“Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển Đổi mới căn bản
và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu xã hội” Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội 2011-2020 xác định: "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt" Các văn kiện quan trọng khác của Đảng, Nhà nước trong nhiệm kỳ Đại hội XI, XII tiếp tục cụ thể hóa chủ trương đổi mới giáo dục và đào tạo
Nhận thức được vai trò quan trọng của đội ngũ viên chức ngành giáo dục, Hội nghị Trung ương 6 khóa XI chỉ rõ: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
là một yêu cầu khách quan và cấp bách”, đòi hỏi phải: xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý… trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân, tiếp tục cần được cụ thể hóa trong từng giai đoạn”
Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế
và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, nhất
là yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, thì việcthực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk hiện nay việc thực thi chính sách, pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập như còn thiếu tính đồng bộ, tính thống nhất; chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục nằm ở nhiều văn bản; nội dung điều chỉnh còn chung chung, chưa hoàn toàn phù hợp; số lượng định biên và cơ cấuviên chức ngành giáo dụccòn gò bó, cứng nhắc; có nơi thiếu, nơi thừa, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của từng cơ sở đào tạo, đặc biệt
ở những vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ; các quy định về
Trang 10quản lý viên chức ngành giáo dục còn phân tán, chồng chéo, thiếu thống nhất, chưa
có sự phân cấp, phân quyền rõ ràng rành mạch; tiêu chuẩn đối với viên chức ngành giáo dục còn nhiều mâu thuẫn và chưa ăn khớp; công tác đào tạo, bồi dưỡng viên chức ngành giáo dục chậm được đổi mới, tiền lương, phụ cấp và các đãi ngộ khác đối với viên chức ngành giáo dục chưa được giải quyết một cách cơ bản, còn nhiều bất hợp lý; nhiều vấn đề mới phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục chưa được điều chỉnh, bổ sung kịp thời
Để tạo được một hệ thống chính sách quản lý viên chức ngành giáo dục có
sự đổi mới cơ bản, có hệ thống quy phạm, nguyên tắc, định hướng và mục đích pháp lý đầy đủ, rõ ràng, đồng bộ, thống nhất, có tính khả thi và hiệu quả cao đáp ứng được các yêu cầu đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền, đặc biệt là yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận, pháp lý cần phải giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn Vì vậy, việc nghiên cứu
đề tài: “Thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục tại
thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk” là yêu cầu tất yếu khách quan, cấp thiết
cả về lý luận, pháp lý và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: “Thực hiện chính sách
pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk” cho thấy các nhà khoa học đã tiếp cận vấn đề theo nhiều cách, với những
cấp độ khác nhau:
Christian Batal (2002) “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” đã trình bày cơ sở lý luận và các phương pháp tổ chức điều hành nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước có hiệu quả
John W Boudreau (2005) “Quản trị nguồn nhân lực” đề cập đến một loạt các vấn
đề về quản lý nguồn nhân lực như: phương pháp chẩn đoán trong quản lý nguồn nhân lực; những điều kiện bên ngoài tác động đến quản lý nhân sự; tuyển chọn, đào tạo nhân viên; hệ thống tiền lương, các khoản trợ cấp
Trang 11Building offcial management manual (xây dựng sổ tay quản lý viên chức) hoặc Building Department Administration (xây dựng các cơ quan hành chính) của Tổ chức ICC (International Code Council)
Ở Việt Nam, đã có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về viên chức ở những cấp độ và nội dung khác nhau, cụ thể:
TS Thang Văn Phúc, TS Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thu Huyền (2004)
“Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới” là một cuốn sách tham khảo, giới thiệu về tổ chức nhà nước, bộ máy hành chính, lịch sử nền công
vụ, chế độ quản lý công chức của tám nước trên thế giới: Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Vương quốc Anh, Mỹ; giới thiệu những chế độ chính sách của mỗi nước như: chế độ tuyển chọn, đào tạo, thi tuyển đánh giá đề bạt, bãi nhiệm, lương bổng, phụ cấp, chế độ luân chuyển công chức, sử dụng nhân tài, tăng cường giám sát…
TS Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phương đồng chủ biên (2005), “Cơ
sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức” đã phân tích vai trò, đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với việc hoàn thiện thể chế quản lý cán bộ, công chức, viên chức và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại
TS Nguyễn Minh Phương (2005), Bộ Nội vụ: Đề tài cấp Bộ “Luận cứ khoa học phân định công chức với viên chức” đã phân tích thực trạng phân định công chức với viên chức ở nước ta từ 1945 đến nay và đưa ra những nhận xét, đánh giá, so sánh giữa công chức với viên chức thông qua các nội dung quản lý như tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, tiền lương v.v… Xây dựng những quan điểm, nguyên tắc và các tiêu chí phân định công chức với viên chức
GS.TS Phạm Hồng Thái (2009) về “Sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 1 đã bàn đến cách tiếp cận khi nghiên cứu xây dựng Luật Viên chức; phân loại và đề xuất kết cấu, bố cục của dự Luật viên chức
Trang 12TS Trần Anh Tuấn (2011) “Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 8
Ths Lê Minh Hương (2012) “Một số vấn đề về tuyển dụng, sử dụng và quản
lý viên chức theo Nghị định số 29/NĐ-CP của Chính phủ” Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 5
Nguyễn Thu Hằng (2013), Quản lý nhà nước đối với viên chức y tế ngànhxây
dựng ở Việt Nam hiện nay, luận văn thạc sĩ Chính sách công, Học viện Hành
chính.Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLNN đối với viên chức ngành y tế thông qua việc phân tích, làm rõ khái niệm, nội dung, phương pháp, công cụ của QLNN đối với viên chức ngành y tế,khẳng định của sự cần thiết của QLNN đối với viên chức y tế, đồng thời tổng kết kinh nghiệm trong quản lý viên chức y tế của các nghành, lĩnh vực khác nhau để lược thuật những giá trị tương đồng và rút ra bài học kinh nghiệm cho QLNN đối với viên chức y tế ngành xây dựng;luận văn đã phân tích QLNN đối với viên chức y tế ngành xây dựng ở Việt Nam trong thời gian vừa qua để đánh giá về những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng này; trên cơ sở đóluận văn đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường QLNN đối với viên chức y tế ngành xây dựng ở Việt Nam trong thời gian tới
Nguyễn Ngọc Thuý (2018), Quản lý viên chức ngành y tế - từ thực tiễn bệnh
viện Phụ sản Trung ương, luận văn thạc sĩ Chính sách công, Học viện Hành chính
Quốc gia Luận văn đã xây dựng cơ sở lý luận về quản lý viên chức; Phân tích thực trạng quản lý viên chức ngành y tế tại bệnh viện Phụ sản Trung ươngvàđánh giá về những kếtquả đạt được, chỉ rõ những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong quản lý viên chức ngành y tế tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, qua đó đề xuất các quan điểm vả giải pháp góp phần tăng cường quản lý viên chức ngành y tế tại bệnh viện Phụ sản Trung ương
Tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài báo trong chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng vềthực hiện chính sách pháp
Trang 13luật về quản lý viên chức ngành giáo dục tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên biệt về thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên biệt về thực hiện chính sách pháp luật
về quản lý viên chức ngành giáo dục tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk dưới góc độ chính sách công.Với kết quả nghiên cứu của luận văn, chúng tôi hy vọng
sẽ góp phần khắc phục tình trạng nêu trên
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Luận văn hướng tới làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của chính sách pháp luật
về quản lý viên chức ngành giáo dục; phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đó tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, qua đóluận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm nhằm thực hiện tốt chính sách pháp luật về quản lý viên
chức ngành giáo dụctại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên đây, luận văn có nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận của chính sách pháp luật về
quản lý viên chức ngành giáo dục thông qua việc luận giải, làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò viên chức ngành giáo dục; phân tích rút ra khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, chủ thể thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
Thứ hai, luận văn phân tích thực trạng thực hiệnchính sách pháp luật về quản
lý viên chức ngành giáo dục tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, để đánh giá chung về những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế, bất cập này
Trang 14Thứ ba, luận văn đề xuất các quan điểm và giải phápbảo đảmthực hiện chính
sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dụctại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Dưới góc độ tiếp cận của khoa học chính sách công về thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức, luận văn xác định phạm vi nghiên cứu về không gian làtại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; phạm vi về thời gian từ năm 2017 đến nay; phạm vi nội dung là thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục gắn với thẩm quyền của UBND thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bao gồm: viên chức giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ
sở
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách pháp luật về quản lý viên chức nói chung, chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục nói riêng Luận văn có kế thừa, phát triển những kết quả và kinh nghiệm về thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục của các công trình khoa học có liên quan
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Các phương pháp tác giả sử dụng trong luận văn gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, lịch sử, thống kế, so sánh, xã hội học, dự báo để chọn lọc những tri thức khoa học nhằm thực hiện mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 156 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, góp phần bổ các luận cứ khoa học vào sự phát triển của khoa học chính sách công, nâng cao nhận thức lý luận, kinh nghiệm thực tiễn về
tổ chứcthực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục, đồng thời làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trong lịch sử, hiện tại và tương lai
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý trong hoạch định, thực thi chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục, tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo đại học, sau đại học và bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
Chương 2: Thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dụctại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Quan điểm và giải thực hiện chính sách pháp pháp luật về quản
lý viên chức ngành giáo dục tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC NGÀNH GIÁO DỤC 1.1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách công
1.1.1 Một số khái niệm
Chính sách: “Chính sách” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến, tuy nhiên
đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về định nghĩa chính sách Từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary) định nghĩa, “chính sách” là một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách… Với cách giải thích này, chính sách không chỉ là một quyết định mà nó còn là một đường lối, một phương hướng hành động.David Easton (năm 1953), định nghĩa chính sách… bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động phân phối của các giá trị.Theo
từ điển tiếng Việt, “Chính sách là chiến lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào một đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”[36, tr.157] Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của một chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”[35, tr.475]
Chính sách công: Chính sách công: Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác
nhau về chính sách công, có một số định nghĩa rất phức tạp nhưng cũng có một số định nghĩa rất đơn giản Thomas Dye (năm 1972) định nghĩa “chính sách công là bất
kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”[54] Ông William Jenkins (năm 1978) định nghĩa “Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền”[55] Theo James Anderson (năm 1984) đưa ra định nghĩa chung hơn về chính sách công Ông cho rằng, “chính sách công là một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các hoạt động để giải
Trang 17quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm”[56] B.Guy Peters (năm 1990) định nghĩa cụ thể hơn: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân”.[16, tr.41] Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính cho rằng, “Chính sách công là chiến lược sử dụng các nguồn lực để làm dịu bớt những vấn đề của quốc gia hay những mối quan tâm của nhà nước Chính sách công cho phép chính phủ đảm nhiệm vai trò của người cha đối với cuộc sống của nhân dân Nó tạo thời cơ, giữ gìn hạnh phúc và bảo
vệ an toàn Tổ quốc” [41, tr 99-100] Một số tác giả của Tập bài giảng Chính trị học của Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” [49, tr.257] Theo tác giả Nguyễn Hữu Hải trong “Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công”, ông cho rằng “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [13, tr.14]
Ở Việt Nam, Chính sách công được hiểu là công cụ để thực hiện hóa đường lối, chủ trương của Đảng nhằm xây dựng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [8, tr.70] Quá trình Đảng ta lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ xuất hiện những vấn đề mà Nhà nước phải giải quyết bằng chính sách Như vậy, Chính sách công có vai trò quan trọng trong việc quản lí, điều hành xã hội và chính sách công được ban hành phải đảm bảo phù hợp định hướng chính trị mà Đảng ta đã xác định Theo Văn Tất Thu trong bài báo Bản chất, vai trò của chính sách công được đăng tải ngày 27 tháng 01 năm 2017 trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước xác định: chính sách công có vai trò định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế - xã hội, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế - xã hội theo các mục tiêu chung, phát huy mặt tích cực đồng thời khắc phục hạn chế của nền kinh tế thị trường, tạo lập các cân đối trong phát triển, kiểm soát, phân bổ các nguồn lực trong xã hội, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển, từ đó thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các
Trang 18ngành liên quan Với vai trò, ý nghĩa đó, việc ban hành, kiểm soát, đánh giá chính sách là những khâu quan trọng trong quản lí, điều hành các lĩnh vực công [35]
Thực hiện chính sách công: là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn
đời sống xã hội thông qua việc ban hành các quy định, thủ tục, chương trình, dự án…
và thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu của chính sách được ban hành Thực hiện chính sách công là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể ban hành chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu nhất định mà chủ thể đặt ra Đây là khâu có ý nghĩa quan trọng nhằm duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý nhà nước và đạt mục tiêu chính sách đề ra
1.1.2 Tổ chức thực hiện chính sách công
Tổ chức thực hiện chính sách công là một khâu quan trọng hợp thành quy trình thực hiện chính sách Thực hiện chính sách công có vai trò to lớn trong quy trình thực hiện chính sách công, thể hiện:
Thứ nhất, thực hiện chính sách công là giai đoạn biến ý chí, thái độ ứng xử của nhà nước với các đối tượng quản lý thành hiện thực, hay nói cách khác đây là quá trình đưa ý đồ của nhà nước vào thực hiện trong đời sống xã hội
Thứ hai, Thực hiện chính công là việc từng bước hiện thực hóa mục tiêu của chính sách công Thực hiện chính sách công bao gồm các hoạt động có tổ chức do chủ thể thực hiện nhằm hướng tới đạt được các mục đích và mục tiêu được chủ thể tuyên bố trong chính sách Trong quá trình thực hiện chính sách, các cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền tiến hành thiết lập các quy định, chương trình, dự án và các thủ tục liên quan để hiện thực hóa mục đích, mục tiêu của chính sách cũng như tiến hành các hoạt động để thực hiện các quy định, chương trình, dự án, thủ tục đã đề ra
Thứ ba, Thực hiện chính sách là khâu kiểm định tính đúng đắn của chính sách
đã ban hành.Trên thực tế, khi một chính sách được ban hành để triển khai thực hiện trong thực tiễn phải đảm bảo các tiêu chuẩn của một chính sách tốt và được chủ thể ban hành thừa nhận.Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện chính sách vào trong đời sống
xã hội sẽ có những vấn đề đặt ra đôi khi chủ thể ban hành chính sách không thể dự đoán trước Chính vì vậy, thực hiện chính sách là khâu cung cấp những bằng chứng thực tiễn về việc kết quả thực hiện của các chính sách đó có đạt được mục đích, mục tiêu chính sách ban hành hay không, các giải pháp đề ra trong chính sách đưa vào áp
Trang 19dụng có thực sự phù hợp với vấn đề mà chính sách hướng tới giải quyết hay không Tính đúng đắn của chính sách công được đánh giá thông qua xã hội và đối tượng thụ hưởng khẳng định
Thứ tư, Thực hiện chính sách công là khâu giúp chính sách công ngày càng hoàn thiện hơn.Bởi vì, chính sách công ban hành lần đầu là sự định hướng về mục tiêu, giải pháp để giải quyết các vấn đề công Trên cơ sở của chính sách lần đầu, các
cơ quan hành chính nhà nước các cấp theo thẩm quyền tiến hành cụ thể hóa các mục tiêu, giải pháp đó thành chương trình, dự án, các thủ tục cụ thể cho phù hợp điều kiện
cụ thể để thực hiện chính sách Trong quá trình thực hiện chính sách, những người thực hiện sẽ đưa ra những đề xuất điều chỉnh chính sách phù hợp với đời sống xã hội, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng các chính sách trong thời gian tới
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách công, gồm có các khâu sau đây:
- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công: là khâu phức tạp,
thực hiện trong thời gian dài, vì vậy đòi hỏi các chính sách phải được lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động
- Phổ biến, tuyên truyền chính sách công: là nhằm giúp cho đối tượng và mọi
người dân hiểu về mục đích, yêu cầu, tính đúng đắn của chính sách trong từng điều kiện, hoàn cảnh nhất định và tính khả thi của chính sách để họ tự giác tham gia thực hiện
- Phân công phối hợp thực hiện chính sách công: Tổ chức thực hiện chính
sách công cụ thể trong thực tế thường có sự phân công cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp thực hiện Khi thực hiện phân công, phối hợp cần thực hiện theo tiến trình,
có kế hoạch một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính sách
- Duy trì chính sách công: là những hoạt động nhằm đảm bảo cho chính sách
tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế
- Điều chỉnh chính sách công: Đây là một hoạt động cần thiết trong quá trình
tổ chức thực hiện chính sách để chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý
và tình hình thực tế
- Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách: Kiểm tra, theo dõi
phải sát sao tình hình tổ chức thực hiện chính sách để kịp thời bổ sung, hoàn thiện
Trang 20chính sách, đồng thời chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách, giúp nâng
cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách đề ra
- Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách công: Đây là quá
trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực hiện chính sách Cơ sở để thực hiện đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách trong cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và nội dung, quy chế được xây dựng, các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước với các
tổ chức xã hội, các văn bản quy phạm khác
Bên cạnh việc xem xét kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước thì trong công tác đánh giá, tổng kết còn xem xét các đối tượng tham gia thực hiện chính sách, đó là người thụ hưởng lợi ích trực tiếp, gián tiếp từ chính sách, họ là tất
cả các thành viên trong xã hội với tư cách công dân Thước đo để đánh giá đối tượng
là tinh thần hưởng ứng các mục tiêu chính sách, ý thức chấp hành những cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong điều kiện về không gian, thời gian cụ thể
1.2 Khái quát về viên chức và quản lý viên chức ngành giáo dục
1.2.1 Quan niệm về viên chức
Từ trước đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm viên chức.Ở nhiều quốc gia trên thế giới, thuật ngữ viên chức được sử dụng phổ biến nhưng khái niệm viên chức được hiểu rất khác nhau Điều này là do tính chất đặc thù về thể chế chính trị - hành chính của mỗi quốc gia và phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử phát triển Tuy nhiên hầu hết đều có một quy định chung là: viên chức bao gồm những người làm việc trong các tổ chức cung cấp dịch vụ sự nghiệp công do Nhà nước lập
ra như y tế, giáo dục, văn hoá Những người hoạt động chính trị do bầu cử, người phục vụ trong hệ thống cơ quan hành pháp hay hoạt động sản xuất kinh doanh không phải là viên chức
Ở Việt Nam, trải qua các thời kỳ khác nhau, nội hàm của khái niệm viên chức cũng có sự thay đổi lớn.Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, do yêu cầu của cuộc kháng chiến nên nước ta chưa có điều kiện để xây dựng nền hành chính mang tính phục vụ dịch vụ công và vì thế đội ngũ viên chức nhà nước chưa quy
Trang 21định.Từ đầu những năm 60 đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, ở nước ta không tồn tại khái niệm viên chức riêng biệt mà thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, không phân biệt những người hoạt động quản lý nhà nước, hoạt động cung cấp dịch vụ công và hoạt động sản xuất kinh doanh Tất cả những người được tuyển dụng vào biên chế, làm việc trong các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, xã hội, nhà máy, công trường, xí nghiệp, đều được gọi chung là cán bộ, công nhân viên chức và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Đến năm 1998, ngay cả khi Pháp lệnh cán bộ, công chức được ban hành thì quy định những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, của Đảng, Nhà nước, các
tổ chức chính trị - xã hội đoàn thể được gọi chung trong một cụm từ là “cán bộ, công chức”, vẫn chưa có sự phân định những người làm việc trong các cơ quan hành chính
và đơn vị sự nghiệp Chính vì suốt một thời gian dài khái niệm cán bộ, công chức, viên chức chưa được phân định rõ ràng nên việc áp dụng thể chế quản lý các đối tượng này là như nhau Chỉ tới năm 2003, sau khi Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998 được ban hành và đặc biệt được đánh dấu bởi các Nghị định 116, 117/2003/NĐ-CP thì khái niệm viên chức mới có sự phân biệt tương đối rõ với các khái niệm cán bộ, công chức.Điều 2 của Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước xác định: “Viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật”
Như vậy, khái niệm viên chức đã được hình thành, phát triển và ngày càng hoàn thiện gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước, với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân
Khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003, chúng ta đã bước đầu thực hiện việc phân định người thuộc biên chế trong cơ quan hành chính với biên chế trong đơn vị sự nghiệp công lập Việc phân định này đã tạo
Trang 22cơ sở để tiến hành đổi mới cơ chế quản lý đối với công chức trong các cơ quan Nhà nước và viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước Qua quá trình xác lập
và quản lý đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp, đến năm 2010 Luật viên chức đã được ban hành để điều chỉnh đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Tuy nhiên, phải đến khi Luật Viên chức được ban hành (Luật số 58/2010/QH12) thì khái niệm Viên chức mới được nêu một cách cụ thể:“Viên chức
là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” (Điều 2, Chương I).tại Điều 2 của Luật Viên chức 2019 tiếp tục quy định “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo
vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Từ khái niệm trên, để xác định một người là viên chức có thể căn cứ vào các tiêu chí như sau:
Một là, công dân Việt Nam Công dân Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch 2008 ( sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức
2019 sửa đổi được xác định là: người mang quốc tịch Việt Nam Tiêu chí này cũng tương tự như cán bộ, công chức Mặc dù, theo quan điểm của nhiều nhà khoa học quy định viên chức phải là công dân Việt Nam là một quy định quá chặt chẽ Nếu như cán
bộ, công chức công việc mang tính chính trị - hành chính đòi hỏi phải là công dân Việt Nam để đảm bảo an ninh trật tự thì đối với viên chức là những người gắn liền với trình độ, chuyên môn cao thì việc sử dụng viên chức là người nước ngoài trở thành một nhu cầu quan trọng đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn cao như giáo dục hay y tế [; 9]
Hai là, nơi làm việc
Viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập Đây cũng là điểm khác biệt
so với cán bộ, công chức khi các đối tượng này chủ yếu làm việc trong cơ quan nhà
Trang 23nước, tổ chức chính trị xã hội ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện (trừ một số công chức là lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập).Theo khoản 1 Điều 9 Luật
Viên chức năm 2010, đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là “…tổ chức do cơ quan
có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” Dịch vụ công bao gồm các hoạt động phục vụ nhu cầu chung
của xã hội, các quyền và lợi ích cơ bản hợp pháp của con người và công dân như giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, bảo hiểm, an sinh xã hội
Thời kỳ bao cấp, Nhà nước là chủ thể độc quyền trong việc tổ chức và trực tiếp cung cấp dịch vụ công bằng nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước, những người làm việc ở đây hưởng lương từ ngân sách nhà nước Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và theo định hướng XHCN, để nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội trong điều kiện cạnh tranh của thị trường và nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước có giới hạn, Nhà nước đã tiến hành xã hội hoá các dịch vụ công thông qua việc huy động, tổ chức
sự tham gia rộng rãi, chủ động của người dân và các tổ chức vào hoạt động cung cấp dịch vụ công Tuy nhiên vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ cônglà rất quan trọng nên Nhà nước vẫn tự tổ chức ra các đơn vị cung cấp dịch vụ công cho xã hội Và các đơn vị sự nghiệp công lậplà các tổ chức do Nhà nước lập ra và vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực: Giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học
Trang 24tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức ngày 25 tháng 9 năm 2020 của chính phủ cũng tiếp tục quy định rõ Hợp đồng làm việc có hai loại: có thời hạn và không thời hạn Việc xác định viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng là điểm mới trong tư duy quản lýnhân sự của nhà nước Hợp đồng làm việc là căn cứ để viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc
tế, cùng với cải cách hành chính, Nhà nước tiến hành cải cách lĩnh vực sự nghiệp công
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động sự nghiệp công, khắc phục tình trạng hành chính hóa, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động sự nghiệp công, cần phải thay đổi cách tuyển dụng, cơ chế, chế độ, chính sách đối với viên chức nhà nước; không áp dụng cách thức tuyển dụng vào làm việc suốt đời mà theo chế độ hợp đồng; tạo quyền chủ động cho các đơn vị sự nghiệp công và qua đó đòi hỏi viên chức nhà nước phải không ngừng phấn đấu, rèn luyện và học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình Nếu người viên chức không đáp ứng được yêu cầu, cũng như căn cứ vào nhu cầu, khả năng của hai bên thì hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc của họ có thể bị chấm dứt bất kỳ lúc nào
Việc kí hợp đồng làm việc căn cứ vào nhu cầu và viên chức sẽ được tuyển
dụng theo vị trí việc làm Vị trí việc làm được hiểu là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn
với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lí tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập” (Điều 7 Luật Viên chức 2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2012; Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức 2019 sửa đổi ) Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính thường xuyên, liên
tục chứ không bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời Để được tuyển dụng vào
vị trí việc làm thì phải thông qua một trong hai phương thức tuyển dụng: thi tuyển
hoặc xét tuyển Vàviệc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị
trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp
Trang 25công lập” (Điều 20 Luật Viên chức 2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2012; Luật Cán
bộ, công chức và Luật Viên chức 2019 sửa đổi)
Bốn là, viên chức hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật khác với cán bộ, công chức lương hưởng từ ngân sách của Nhà nước Do vậy, tiền lương mà viên chức nhận được phụ thuộc vào sự thỏa thuận của viên chức và bên tuyển dụng và khoản thu của của đơn vị sự nghiệp công lập Nếu viên chức có trình độ cao và đơn vị sự nghiệp công việc có nguồn thu cao hơn nguồn chi thì lương và thu nhập tăng thêm của viên chức sẽ cao và ngược lại Hiện nay, lương của viên chức vẫn tính theo bảng lương về ngạch, bậc do Nhà nước ban hành Tuy nhiên căn cứ vào nguồn thu thì các đơn vị sự nghiệp công lập có thể chi trả thu nhập tăng thêm hoặc thưởng nhân dịp lễ, tết
Năm là, phân loại viên chức
Có rất nhiều cách phân loại khác nhautheo những tiêu chí khác nhau Có một
số cách phân loại viên chức hay được sử dụng như sau:
- Phân loại theo lĩnh vực hoạt động:
+ Viên chức hoạt động trong lĩnh vực y tế
+ Viên chức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục
+ Viên chức hoạt động trong lĩnh vực khoa học
+ Viên chức hoạt động trong lĩnh vực văn hóa
- Phân loại theo trình độ đào tạo:
+ Viên chức có trình độ giáo dục đại học trở lên
+ Viên chức có trình độ giáo dục nghề nghiệp
+ Viên chức có trình độ dưới giáo dục nghề nghiệp
- Phân loại theo cấp quản lý:
+ Viên chức làm việc trong các tổ chức sự nghiệp công lập trung ương;
+ Viên chức làm việc trong các tổ chức sự nghiệp công lập cấp tỉnh;
+ Viên chức làm việc trong các tổ chức sự nghiệp công lập cấp huyện
- Theo vị trí việc làm, viên chức được phân loại như sau:
Trang 26+ Viên chức quản lý: là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn
vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức
vụ quản lý
+ Viên chức không giữ chức vụ quản lý: bao gồm những người chỉ thực hiện chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập
- Theo chức danh nghề nghiệp, viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp như sau:
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng I
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng II
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng III
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV
Việc phân loại viên chức có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng, quản lý và
sử dụng viên chức có hiệu quả Nó là cơ sở để tuyển chọn, bố trí người vào làm việc phù hợp với từng vị trí việc làm trong các tổ chức sự nghiệp, đáp ứng yêu cầu của công việc Bên cạnh đó việc phân loại viên chức cũng giúp cho việc xác định tiền lương, các chế độ, chính sách đãi ngộ một cách hợp lý, chính xác và nó cũng là cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện hoạt động đào tạo bồi dưỡng viên chức theo yêu cầu công việc
Như vậy, đồng thời với việc Luật Cán bộ, công chức phân định “cán bộ” và công chức, Luật Viên chức cũng đã làm rõ được khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức
1.2.2 Quản lý viên chức ngành giáo dục
Để làm rõ thuật ngữ quản lý viên chức ngành giáo dục, trước hết phải xem xét cụm từ “viên chức ngành giáo dục”.Lao động của viên chức không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn, nghiệp vụ
Luật Viên chức đã quy định: “Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện
công việc hoặc nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Trang 27về viên chức và các văn bản có liên quan” Nghề nghiệp là chuyên môn, nghiệp vụ
được đào tạo để người viên chức kiếm sống và sinh nhai Chức nghiệp hay chức vụ nghề nghiệp được hiểu là ngạch, bậc chuyên môn nghiệp vụ được phân loại, xếp hạng trên cơ sở trình độ chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo, kinh nghiệm và năng lực thực tiễn của viên chức
Tính chuyên môn nghề nghiệp là đặc điểm chung của lao động và hoạt động của viên chức Nghề nghiệp là công việc chuyên môn, nghiệp vụ để người viên chức kiếm sống và sinh nhai.Mỗi viên chức làm việc trong các ngành, nghề lĩnh vực sự nghiệp công khác nhau đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp tương ứng Không có chuyên môn nghiệp vụ chung cho tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực sự nghiệp công Tính chuyên nghiệp, chuyên môn hóa cao là đặc điểm, là yêu cầu trong hoạt động của viên chức sự nghiệp.Sự chuyên môn hóa các hoạt động của con người
đã làm xuất hiện các ngành trong đời sống xã hội Nền kinh tế quốc dân của bất kỳ quốc gia nào cũng được chia thành các ngành để quản lý Sự phân chia các mặt hoạt động xã hội thành ngành là kết quả phân công lao động xã hội xảy ra đồng thời với quá trình phát triển sản xuất và chuyên môn hóa các hoạt động khác nhau của con người Cũng từ sự phân công lao động trong xã hội dẫn đến quy định sự phân công lao động trong quản lý
Từ phân tích trên có thể hiểu: Viên chứcngành giáo dục là công dân Việt Nam
được tuyển dụng theo vị trí làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập và thực hiện các chức trách, nhiệm vụ theo quy định pháp luật
Căn cứ vào yếu tố chuyên môn, xác định đối tượng được coi là viên chức ngành giáo dục tương đối rộng khi bao gồm cả những người làm công tác giảng dạy lẫn các hoạt động khác phục vụ hoạt động giảng dạy trong các đơn vị sự nghiệp công lập ví dụ như viên chức hành chính, tổng hợp, nhân sự
Để làm rõ hơn nội hàm cụm từ quản lý viên chức ngành giáo dục, cần xác định
rõ thuật ngữ quản lý
Trang 28Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo
góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên.Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển
ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội
Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc
Theo Mác quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất Ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc
độ mục đích của quản lý
Theo các nhà khoa học của Việt Nam thì "Quản lý là một quá trình hiện thực
hóa, những đường lối chủ trương chiến lược thông qua việc thực hiện các chưc năng
Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu
Do đó, quản lý viên chức ngành giáo dục là sự tác động có tổ chức và bằng
các công cụ quản lý khác nhau của các chủ thể có thẩm quyền đối với đội ngũ viên chức ngành giáo dục nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức giáo dục đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ của ngành
Từ khái niệm quản lý viên chức ngành giáo dục có thể hiểu xác định một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, mục đích quản lý viên chức ngành giáo dục
Trang 29Quản lý con người đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của một tổ chức, bởi vậy việc quản lý tốt đội ngũ viên chức nhằm làm cho hoạt động của
tổ chức có hiệu quả, thực hiện tốt nhất chức năng cung cấp dịch vụ công với chất lượng ngày càng cao cho xã hội trong quá trình thực hiện chính sách phát triển kinh
tế - xã hội của Nhà nước Vì vậy, mục đích của quản lý viên chức ngành giáo dục là nhằm bảo đảm đáp ứng trước hết các mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị; sau đó làcác yêu cầu, nhiệm vụ của ngành cho được thực hiện một cách tốt nhất thông qua việc thu hút, sử dụng, duy trì và phát triển đội ngũ viên chức trong các đơn vị này một cách có hiệu quả
Thứ hai, công cụ quản lý viên chức ngành giáo dục
Để quản lý viên chức, các chủ thể quản lý có thể sử dụng các công cụ khác nhau như: chính sách, pháp luật, kế hoạch, quy hoạch Quy định pháp lý được cụ thể hoá trong hệ thống các văn bản pháp luật từ Luật, Nghị định, Thông tư Các chính sách để quản lý ví dụ như chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ, chính sách thu hút nhân tài Đồng thời để quản lý viên chức hiệu quả không thể không xây dựng các kế hoạch, quy hoạch theo từng giai đoạn ngắn hạn, dài hạn để có định hướng phát triển nhân sự và tổ chức
Thứ ba, nội dung quản lý viên chức ngành giáo dục
Hoạt động quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm rất nhiều nội dung, từ việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch viên chức, quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đến tuyển dụng, sử dụng, đánh giá viên chức và phát triển đội ngũ
Căn cứ theo Điều 44 Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012(sửa đổi, bổ sung theo NĐ 161/2018/NĐ-CP) về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức,có thể xem xét nội dung quản lý viên chức bao gồm:
(1) Xây dựng kế hoạch, quy hoạch viên chức
Kế hoạch là một chương trình hành động cụ thể mà các chủ thể quản lý vạch
ra để đạt đến các mục tiêu quản lý Kế hoạch thường có những khoảng thời gian nhất định (6 tháng, 1 năm, 5 năm, 10 năm ) Kế hoạch bao gồm những mục tiêu
Trang 30cụ thể và những giải pháp hành động cụ thể được lựa chọn để đạt được những mục tiêu này
Quy hoạch viên chức là hoạt động phát hiện sớm nguồn viên chức có khả năng, triển vọng về lãnh đạo, quản lý đưa vào quy hoạch để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng tạo nguồn chức danh lãnh đạo, quản lý đáp ứng nhiệm vụ của đơn vị và cơ quan Mục đích của quy hoạch viên chức nói riêng và quy hoạch cán bộ nói chung là tạo sự chủ động và hoạch định tầm nhìn chiến lược trong công tác quản lý, khắc phục sự hẫng hụt trong đội ngũ lãnh đạo, quản lý; bảo đảm tính kế thừa, chuyển tiếp liên tục giữa các thế hệ; đồng thời là căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lãnh đạo, quản lý kế cận
Quy hoạch và kế hoạch là những công cụ quan trọng của quản lý Sau khi quy hoạch và kế hoạch được phê chuẩn, chúng là những căn cứ pháp lý để hướng dẫn hoạt động và đánh giá hoạt động của các chủ thể tham gia thực thi quy hoạch và kế hoạch đề ra
(2) Quy định tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp viên chức; xác định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng viên chức làm việc tương ứng
Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức là căn cứ, cơ sở để tiến hành lựa chọn, tuyển dụng, sử dụng viên chức vào vị trí phù hợp năng lực, sở trường.Đây là
cơ sở cho việc xác định vị trí việc làm và cũng như rà soát lại tổ chức bộ máy, đội ngũ viên chức và xác định từng vị trí trong tổ chức gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị thuộc Bộ y tế
(3) Tổ chức thực hiện việc tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc, bố trí, phân công nhiệm vụ, biệt phái viên chức; Tổ chức thực hiện thay đổi chức danh nghề nghiệp
Tuyển dụng viên chức là quá trình lựa chọn người thích hợp nhất trong số những người dự tuyển để đưa vào một vị trí công việc còn trống trong đơn vị Hoạt động tuyển dụng viên chức được thực hiện tốt sẽ giúp đơn vị lựa chọn được người tài giỏi, góp phần nâng cao chất lượng lao động và hiệu quả hoạt động của đơn vị Việc
Trang 31tổ chức tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc, bố trí, phân công nhiệm vụ, biệt phái, kiểm tra và đánh giá viên chức là công việc thường xuyên của nhà quản lý góp phần thực hiện nhiệm vụ đặt ra của đơn vị
Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập hoặc người đứng đầu đơn vị sử dụng viên chức chịu trách nhiệm phân công nhiệm vụ, kiểm tra việc thực hiện nhiệm
vụ của viên chức, bảo đảm các điều kiện cần thiết để viên chức thực hiện nhiệm vụ
và các chế độ, chính sách đối với viên chức Việc phân công nhiệm vụ cho viên chức phải bảo đảm phù hợp với chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý được bổ nhiệm
và yêu cầu của vị trí việc làm Phân công công việc cho viên chức bao gồm phân công công việc thường xuyên và phân công công việc đột xuất Hoạt động phân công công việc cho viên chức muốn đạt được hiệu quả cao cần gắn liền với kết quả của công tác xác định vị trí việc làm Đồng thời chú ý giao cho viên chức công việc phù hợp với kiến thức, kỹ năng hiện có cũng như khả năng phát triển của họ trong tương lai Phân công công việc phải gắn liền với trao quyền tự quyết tương ứng
Thay đổi chức danh nghề nghiệp là việc viên chức được bổ nhiệm một chức danh nghề nghiệp khác phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm đang đảm nhiệm.Việc thay đổi chức danh nghề nghiệp của viên chức được thực hiện như sau: Khi chuyển từ chức danh nghề nghiệp này sang chức danh nghề nghiệp khác cùng hạng phải thực hiện thông qua việc xét chuyển chức danh nghề nghiệp; Khi thăng hạng từ hạng thấp lên hạng cao hơn liền kề trong cùng ngành, lĩnh vực phải thực hiện thông qua việc thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp
(5) Tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với viên chức
Mức lương cơ sở đối với viên chức được quy định trong Nghị định 38/2019/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang Viên chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp là đơn vị có thu nên ngoài lương, viên chức còn hưởng thu nhập tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị; ngoài ra còn các hệ số phụ cấp, hệ số nghề Nhìn chung lương, chế độ, chính sách đãi ngộ viên
Trang 32chức là cơ sở để thu hút nguồn lao động, là một trong những động lực để viên chức làm việc
Việc đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện đối với viên chức trước khi bổ nhiệm chức vụ quản lý, thay đổi chức danh nghề nghiệp hoặc nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp
Nội dung, chương trình, hình thức, thời gian đào tạo, bồi dưỡng viên chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức vụ quản lý, chức danh nghề nghiệp, yêu cầu bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp
Hình thức đào tạo, bồi dưỡng viên chức gồm:
+ Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ quản lý;
+ Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp;
+ Bồi dưỡng nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp
(6) Tổ chức thực hiện việc kiểm tra và đánh giá viên chức, khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức
Đánh giá viên chức là khâu quan trọng trong công tác quản lý.Đánh giá viên chức kịp thời, chính xác là cơ sở để thực hiện tốt công tác bổ nhiệm, quy hoạch, quản lý, sử dụng và thực hiện chính sách đối với viên chức Kết quả đánh giá viên chức còn giúp cho công tác đề bạt, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật
Về phân loại đánh giá viên chức, căn cứ vào kết quả đánh giá, viên chức được phân loại đánh giá theo các mức như sau: a) Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; b) Hoàn thành tốt nhiệm vụ; c) Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực; d) Không hoàn thành nhiệm vụ Kết quả phân loại đánh giá viên chức được lưu vào hồ sơ và thông báo đến viên chức được đánh giá Viên chức 02 năm liên tiếp hoàn thành nhiệm
vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 02 năm liên tiếp, trong đó 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm
vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bố trí công tác khác
Viên chức 02 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết thôi việc
Trang 33Mục đích của đánh giá viên chức để làm căn cứ tiếp tục bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức
Căn cứ đánh giá viên chức bao gồm các cam kết trong hợp đồng làm việc đã
ký kết và quy định về đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử của viên chức Cụ thể, viên chức được đánh giá dựa theo các nội dung:
+ Kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã ký kết;
+ Việc thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp;
+ Tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân, tinh thần hợp tác với đồng nghiệp và việc thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức;
+ Việc thực hiện các nghĩa vụ khác của viên chức
Bên cạnh những nội dung trên, viên chức quản lý còn được đánh giá dựa theo các tiêu chí:
+ Năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; + Kết quả hoạt động của đơn vị được giao quản lý, phụ trách
Việc đánh giá viên chức được thực hiện hàng năm; khi kết thúc thời gian tập sự; trước khi ký tiếp hợp đồng làm việc; thay đổi vị trí việc làm; xét khen thưởng, kỷ luật, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng
Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau: Khiển trách;Cảnh cáo;Cách chức;Buộc thôi việc
Viên chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức này còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan Hình thức
kỷ luật cách chức chỉ áp dụng đối với viên chức quản lý Quyết định kỷ luật được lưu vào hồ sơ viên chức
(7) Giải quyết thôi việc và nghỉ hưu đối với viên chức
Viên chức được giải quyết thôi việc trong các trường hợp sau: Viên chức có đơn
tự nguyện xin thôi việc được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản; Viên
Trang 34chức đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc; Đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức
Viên chức chưa được giải quyết thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Đang bị xem xét xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Chưa làm việc đủ thời gian cam kết với đơn vị sự nghiệp công lập khi được cử đi đào tạo hoặc khi được xét tuyển; Chưa hoàn thành việc thanh toán các khoản tiền, tài sản thuộc trách nhiệm của viên chức đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế
Viên chức có nguyện vọng thôi việc có văn bản gửi người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu đồng ý cho viên chức thôi việc thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ra quyết định chấm dứt hợp đồng làm việc; nếu không đồng ý cho viên chức thôi việc thì trả lời viên chức bằng văn bản và nêu rõ lý do
Khi chấm dứt hợp đồng làm việc, viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội
Viên chức không được hưởng trợ cấp thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp: Bị buộc thôi việc; Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc; Chấm dứt hợp đồng làm việc
Nghỉ hưu là việc viên chức hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật Thời điểm nghỉ hưu là ngày 01 của tháng liền kề sau tháng viên chức đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định Thời điểm nghỉ hưu được tính lùi lại khi có một trong các trường hợp sau: Không quá 01 tháng đối với một trong các trường hợp: Thời điểm nghỉ hưu trùng với ngày nghỉ Tết Nguyên đán; viên chức có vợ hoặc chồng, bố, mẹ (vợ hoặc chồng), con
từ trần, bị Tòa án tuyên bố mất tích; bản thân và gia đình viên chức bị thiệt hại do thiên tai, địch họa, hỏa hoạn; Không quá 03 tháng đối với trường hợp bị bệnh nặng hoặc bị tai nạn có giấy xác nhận của bệnh viện; Không quá 06 tháng đối với trường hợp đang điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành, có giấy xác nhận của bệnh viện
Trang 35Viên chức được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về lao động
và pháp luật về bảo hiểm xã hội
Trước 06 tháng, tính đến ngày viên chức nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý viên chức phải thông báo bằng văn bản về thời điểm nghỉ hưu; trước 03 tháng, tính đến ngày viên chức nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý viên chức ra quyết định nghỉ hưu
(8) Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê và quản lý hồ sơ viên chức
Định kỳ hàng năm, hoặc theo yêu cầu đột xuất của Bộ Nội vụ, cơ quan quản
lý viên chức chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc lập báo cáo thống kê số lượng, chất lượng công chức, danh sách và tiền lương công chức của năm trước báo cáo cơ quan chính sách công chức vào ngày 31/3 của năm sau theo biểu mẫu thống nhất
(9) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo việc thi hành quy định của pháp luật về viên chức
Đối với việc thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo việc thi hành quy định của pháp luật về viên chức được thực hiện theo Luật Thanh tra 2010, Luật Khiếu nại
2012, Luật Tố cáo 2018, Luật Viên chức 2012 Thông qua thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo người lao động mà cụ thể là các viên chức có cơ sở để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu bị xâm phạm
Cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thanh tra, kiểm tra việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý
Bộ Nội vụ thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức theo quy định của pháp luật có liên quan
Các bộ, cơ quan ngang bộ thanh tra việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp của viên chức thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý
Như vậy có tất cả 9 nội dung quản lý viên chức Trong các nội dung này tuỳ thuộc vào tình hình đơn vị mà có nội dung thực hiện mang tính thường xuyên, có nội dung không được thực hiện liên tục (ví dụ giải quyết khiếu nại, tố cáo chỉ phát sinh
Trang 36khi có đơn khiếu nại, tố cáo) Trên cơ sở các nội dung quản lý viên chức, các chủ thể
có thẩm quyền tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
1.3 Khái quát tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
1.3.1 Khái niệm thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
Để làm rõ thuật ngữ này cần luận giải xuất phát từ thuật ngữ “thực hiện pháp luật” Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo quy tắc xử sự chung mà Nhà nước
đã quy định vào tình huống cụ thể đó thông qua hành vi thực tế hợp pháp của mình Hay nói cách khác, những đòi hỏi cấm đoán hay cho phép của pháp luật đối với các
tổ chức, cá nhân đã được biểu hiện thành các hành vi thực tế thực hiện quyền, nghĩa
vụ của các chủ thể pháp luật Dưới góc độ pháp lý thì, thực hiện pháp luật là hành vi pháp luật (hành động hoặc không hành động) hợp pháp, nghĩa là nó được tiến hành phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi trong phạm vi các quy định của pháp luật
Nếu như thực hiện pháp luật do rất nhiều chủ thể khác nhau thực hiện bao gồm
cơ quan nhà nước và cá nhân, tổ chức trong xã hội nhưng đối với tổ chức thực hiện pháp luật xét dưới góc độ thuật ngữ “tổ chức” thì chủ thể là cơ quan nhà nước phù hợp và đầy đủ thẩm quyền hơn
Thực tế đã cho thấy có những trường hợp không có sự can thiệp của Nhà nước thì nhiều quy định của pháp luật sẽ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng
Tổ chức thực hiện pháp luậtlà việc Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật đưa ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Do đó tổ chức thực hiện pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực của cơ quan Nhà nước Biểu hiện rõ nét nhất là các chủ thể pháp luật khi thực hiện các quy định của pháp
Trang 37luật có sự can thiệp của Nhà nước hay của cán bộ, công chức có thẩm quyền, đảm bảo cho các quy phạm pháp luật được thực hiện triệt để, hiệu lực và hiệu quả khi tác động vào các quan hệ xã hội
Trên phương diện lý luận về Nhà nước và pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật Vì thế, tổ chức thực hiện pháp luậtkhông thể phát huy được hiệu lực trong hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật khi thiếu sự bảo đảm của Nhà nước, các cơ chế cũng như cơ sở pháp lý của nó
Từ những phân tích trên có thể xác định: thực hiện chính sách pháp luật về
quản lý viên chức ngành giáo dụclà hoạt động có mục đích của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục, làm cho các quy định pháp luật vận hành trong đời sống xã hội
Thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dụccó những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, tổ chức thực hiện pháp luật quản lý viên chức ngành giáo dục là hoạt
động mang tính quyền lực Nhà nước Điều này thể hiện ở chỗ: Hoạt động thực thi pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành tiến hành thông qua các hoạt động được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật như tổ chức việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thanh tra, kiểm tra, xử lý kỉ luật Trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật mọi khía cạnh, mọi tình tiết đều phải được xem xét cẩn trọng, dựa trên
cơ sở các quy định, yêu cầu của quy phạm pháp luật được xác định để ra các yêu cầu
cụ thể Như vậy pháp luật là cơ sở xuất phát điểm để các cơ quan Nhà nước có quyền lực thực hiện chức năng của mình Trong phạm vi luận văn nghiên cứu tổ chức thực hiện pháp luật do cơ quan hành chính nhà nước tiến hành Ngoài ra với đặc thủ của
hệ thống chính trị Việt Nam, các đơn vị sự nghiệp công lập với quan niệm rộng cũng được hiểu là cơ quan nhà nước (xuất phát từ góc độ cơ sở vật chất, tài chính do Nhà nước đầu tư, nhân sự là viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước)
Trang 38Thứ hai, thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục,
trong đó các bên có quyền và nghĩa vụ liên quan đều phải tuân theo những hình thức
và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định Pháp luật về viên chức quy định về cơ sở, hình thức, điều kiện, trình tự thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quy trình thực hiện pháp luật
Thứ ba,thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
đòi hỏi tính sáng tạo Bởi vì đó là quá trình vận dụng cái chung (các quy phạm pháp luật để áp dụng vào các vụ việc, tình huống cụ thể Điều này đòi hỏi người có thẩm quyền thực thi pháp luật phải vận dụng cái chung phù hợp với cái riêng rất phong phú, đa dạng và phức tạp Tuy nhiên, xã hội luôn vận động, biến đổi và phát triển nên không phải lúc nào pháp luật cũng dự liệu hết được mọi tình huống trong thực tế nảy sinh Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định còn chồng chéo, chưa đồng bộ, chưa rõ ràng thì yêu cầu chủ thể tổ chức thực hiện pháp luậtphải biết vận dụng một cách sáng tạo linh hoạt, không dập khuôn máy móc Để đạt tới điều đó đòi hỏi người tổ chức thực hiện pháp luậtphải có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp,
có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức trong sáng và có trình độ chuyên môn cao
1.3.2 Chủ thể thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
Hoạt động quản lý viên chức trong ngành giáo dục được thực hiện bởi các
cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tổ chức quản lý các đơn vị này và của chính các đơn vị sự nghiệp với tư cách là người sử dụng trực tiếp viên chức Trên cơ sở đó các cơ quan quản lý viên chức bao gồm:
Các Bộ quản lý chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành;
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Trang 39Các đơn vị sự nghiệp công lập
Lưu ý: Nếu các đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc đơn vị
sự nghiệp công lập, đơn vị sự nghiệp thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu sẽ chịu sự quản lý của các tổ chức này;
Các chủ thể quản lý viên chức đồng thời cũng là chủ thể tổ chức thực hiện pháp
luật về quản lý viên chức.Theo Điều 49Nghị định 29/2012/NĐ-CP 12 tháng 4 năm 2012
( sửa đổi, bổ sung Nghị định 161/2018/NĐ-CP) về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức, đơn vị sự nghiệp công lập có 2 loại: đơn vị được giao quyền tự chủ và đơn vị chưa giao quyền tự chủ Với mỗi loại, thì thẩm quyền quản lý viên chức có những quy định khác nhau Theo đó,
(i) Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ, có thẩm quyền:
- Thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước đối với viên chức theo phân cấp;
- Thực hiện tuyển dụng, ký và chấm dứt hợp đồng làm việc, biệt phái viên chức theo phân cấp;
- Bố trí, phân công nhiệm vụ và kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng viên chức theo phân cấp;
- Thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng, kỷ luật theo quy định;
- Thực hiện việc lập hồ sơ và lưu giữ hồ sơ cá nhân của viên chức thuộc phạm
vi quản lý theo quy định;
- Giải quyết thôi việc, nghỉ hưu đối với viên chức theo phân cấp;
- Ký kết hợp đồng vụ, việc đối với viên chức đã nghỉ hưu;
- Thống kê và báo cáo cơ quan, tổ chức cấp trên về số lượng, chất lượng đội ngũ viên chức thuộc phạm vi quản lý theo quy định;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật
Trang 40(ii) Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ, ngoài các nhiệm vụ và quyền hạn trên còn được giao các nhiệm vụ quyền hạn sau:
- Quyết định danh mục vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp
và số lượng người làm việc theo quy định của Đảng và của pháp luật;
- Tổ chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật;
- Quyết định cử viên chức tham dự các cuộc hội thảo, hội nghị, nghiên cứu khảo sát và học tập kinh nghiệm ở nước ngoài theo phân cấp”
Như vậy theo thẩm quyền, các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ tổ chức thực hiện các quy định pháp luật trên
Cụ thể theo quy định của Luật Viên chức: chủ thể quản lý nhà nước về viên chức Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục, UBND tỉnh và cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh Trong đó Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về viên chức Những chủ thể này sẽ tiến hành thực hiện chính sách pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước
về viên chức Theo đó Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về viên chức, có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về viên chức để Chính phủ trình Quốc hội,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xây dựng trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển đội ngũ viên chức; phân công, phân cấp quản lý viên chức; hướng dẫn phương pháp xác định vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp; chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ viên chức; chế độ tiền lương; chính sách đối với người có tài năng; các quy định về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, khen thưởng,
kỷ luật, chấm dứt hợp đồng làm việc, thôi việc và nghỉ hưu đối với viên chức; Kiểm tra việc thực hiện tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; ban hành quy chế tổ chức thi tuyển, xét tuyển viên chức, quy chế tổ chức thi thăng hạng, xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức; thẩm định chương trình khung bồi dưỡng theo tiêu