2 BỘ TƯ PHÁP ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI MÔN HỌC PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI MÔI TRƯỜNG ĐỀ TÀI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Lớp Hà Nội, Tháng 52022 MỤC LỤC I KHÁI QUÁT CHUNG 2 1 Khái niệm Luật môi trường 2 1 1 Khái niệm về Môi trường 2 1 2 Khái niệm Luật môi trường 3 2 Ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường 4 3 Tại sao cần ra đời Luật bảo vệ môi trường? 4 4 Vai trò của pháp luật trong bảo vệ môi trường 5 II CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT.
Trang 1ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÔN HỌC: PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI & MÔI TRƯỜNG
ĐỀ TÀI: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA LUẬT MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 5/2022
Trang 2I KHÁI QUÁT CHUNG 2
1 Khái niệm Luật môi trường 2
1.1 Khái niệm về Môi trường 2
1.2 Khái niệm Luật môi trường 3
2 Ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường 4
3 Tại sao cần ra đời Luật bảo vệ môi trường? 4
4 Vai trò của pháp luật trong bảo vệ môi trường 5
II CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN 6 1 Giai đoạn trước 1986 6
1.1 Một số đặc điểm 6
1.2 Các văn bản pháp luật 7
1.3 Một số ưu và nhược điểm trong thời kì này 8
2 Từ 1986 đến nay 9
2.1 Bối cảnh: 9
2.2 Các văn bản pháp luật được ban hành 9
2.3 Tình trạng phát triển của luật môi trường từ 1986 đến nay 11
III HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM 13 1 Thực trạng việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay 13
2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi Luật Bảo vệ môi trường 15 KẾT LUẬN 17
Danh mục tài liệu tham khảo: 18
Trang 41 Khái niệm Luật môi trường
1.1 Khái niệm về Môi trường
Có rất nhiều quan niệm về định nghĩa môi trường, có thể kể đến một số định nghĩa như sau:
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người,
có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật
- Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao gồm con người và có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người, thiên nhiên Môi trường được tạo ra bởi các yếu tố như đất, nước, không khí, núi, rừng, sông, các khu chế xuất, khu dân cư, trong đó:
Các thành tố tự nhiên đất nước, không khí, núi, rừng các yếu tố này xuất hiện, đồng thời tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người, dù con người có tác động vào các yếu tố này thì nó vẫn phát triển theo quy luật tự nhiên.
Các thành tố nhân tạo như khu dân cư, khu chế xuất các yếu tố này do con người tạo ra, nó tồn tại và phát triển phụ thuộc vào ý chí của con người, con người tạo ra nó vì mục đích phục vụ nhu cầu cuộc sống
- Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể
tự nhiên mà ở đó, cá thể, quần thể có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình Từ định nghĩa này ta có thể phân biệt được đâu là môi trường của loài này mà không phải của loài khác
Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn
bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cách hữu hình, và vô hình (tập quán, niềm tin ) Trong đó con người sống bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình
Trang 5Theo Khoản 1 Đều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2020 của Việt Nam định nghĩa môi trường “ bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên”.
1.2 Khái niệm Luật môi trường
Theo các nhà luật học Austrslia, luật môi trường ưu tiên điều chỉnh các vấn đề sau:
+ thiết lập các cơ chế hành chính để bảo vệ các lợi ích chung về một môi trường an toàn, lành mạnh, thoải mái.
+ bảo tồn các giống loài + thúc đẩy việc chuẩn bị và thực hiện kế hoạch, thực hiện các cơ chế bảo vệ
và thực thi.
+ thiết lập các thủ tục xem xét khiếu nại.
Khái niệm môi trường được các nhà lập pháp mở rộng để bao hàm tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố của môi trường, các hệ thống sinh thái tự nhiên, các cấu trúc do người tại ra hay biến đổi nên phạm vi của các chế định điều chỉnh ngày càng rộng hơn Từ phạm vi của môi trường ta có thể đưa ra định nghĩa như sau: Luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người.
2 Ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chúng ta, nếu môi trường bị ô nhiễm hay bị hủy hoại thì chúng ta cũng phải sống trong môi trường thiếu trong sạch với nhiều hệ
Trang 6lụy kéo theo
Môi trường trong sạch thì sức khỏe, cuộc sống của chúng ta mới lâu dài Môi trường xung quanh cho ta sự sống, là điều kiện để ta tồn tại và phát triển Bảo vệ môi là việc cấp thiết và đó là nhiệm vụ của tất cả người dân chứ không riêng ai bởi đó là môi trường sống của tất cả chúng ta
3 Tại sao cần ra đời Luật bảo vệ môi trường?
Khi việc bảo vệ chưa được ý thức rõ, chưa trở thành thách thức của xã hội thì luật môi trường chưa được chú trọng nhiều
Sự phát triển kinh tế là động lực phát triển của các quốc gia thì khi này các quốc gia sẵn sàng bắt tay vào khai thác và khai thác hết mọi nguồn tài nguyên để phục vụ thúc đẩy đất nước trên con đường theo đuổi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Môi trường chưa phải là thách thức khi mà vấn đề phát triển cũng như dân số chưa đạt tới con số báo động Việc khai thác quá mức nhanh chóng dẫn đến việc cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm mất cân bằng sinh thái và đó cũng là nguyên nhân dẫn đến các thiên tai khốc liệt xảy
ra Hậu quả đó không chỉ xảy ra ở một quốc gia nào đó mà toàn thế giới cùng gánh chịu.
Ta có thể thấy hiện nay, những trận lũ lụt thiên tai xảy ra với số lượng không hề nhỏ, mỗi khi có thiên tai xảy ra ta có thể thấy rằng thực tế mọi người hay nói rằng “mẹ thiên nhiên nổi giận”, nhưng chẳng biết được là tại sao lại có những trận thiên tai như vậy, chẳng nhận thức được nó đều là hậu quả của những việc khai thác tài quá mức đặc biệt là rừng Như ta biết thì rễ cây, rừng có vai trò rất lớn trong việc giữ đất, chống xói mòn
Môi trường sống không chỉ của con người mà các hệ thảm thực vật cũng ngày càng
bị ô nhiễm nghiêm trọng Ta có thể thấy các bệnh liên quan đến đường hô hấp ngày một gia tăng dẫn đến việc quả tải ở các bệnh viện điều trị
Vì tất cả những lý do trên mà vấn đề bảo vệ môi trường được chú trọng hơn bao giờ hết ở mỗi quốc gia và trên toàn cầu, đó cũng là một thách thức lớn Luật môi trưởng ra đời
Trang 7như một biện pháp giải quyết thách thức đó Luật môi trường xuất hiện sớm ở các nước phát triển, nơi các thách thức môi trường trở nên quyết liệt hơn do tốc độ công nghiệp hóa,
ô nhiễm công nghiệp Luật môi trường chỉ thực sự có hiệu quả khi hệ thống pháp luật được thống nhất, rõ ràng, đầy đủ và đặc biệt là có sức răn đe Cũng chính vì đó mà khi xây dựng luật bảo vệ môi trường ta có nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Pháp luật môi trường không chỉ dừng lại ở phạm vi trong một quốc gia mà nó còn lan rộng ra toàn thế giới, để bảo vệ tốt môi trường thì sự ra đời của các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường nói chung cũng rất quan trọng Nó tạo nên sự ràng buộc trách nhiệm bảo vệ môi trường của các quốc gia với nhau Sự ra đời của luật bảo vệ môi trường là hệ quả tất yếu trên con đường phát triển bền vững của nhân loại
4 Vai trò của pháp luật trong bảo vệ môi trường.
Pháp luật đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường Môi trường bị hủy hoại chủ yếu là do sự phá hoại của con người Vậy nên khi muốn bảo vệ môi trường thì phải tác động đến con người đầu tiên
Một số ý nghĩa của pháp luật trong bảo vệ môi trường:
Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi khai thác và
sử dụng các yếu tố của môi trường Môi trường vừa là điều kiện sống, vừa là đối tượng của
sự tác động hàng ngày của con người dẫn đến sự thay đổi rất nhiều hiện trạng của môi trường theo chiều hướng suy thoái Pháp luật với tư cách là công cụ điều tiết các hành vi của các thành viên trong xã hội có tác dụng rất lớn trong việc định hướng quá trình khai thác và sử dụng môi trường hiệu quả Con người sử dụng, khai thác theo những tiêu chuẩn nhất định thì sẽ hạn chế được những tác hại, ngăn chặn sự suy thoái
Pháp luật quy định các chế tài hình sự, kinh tế, hành chính để buộc các các nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường Việc đưa ra các tiêu chuẩn để định hướng hành vi khai thái và sử
Trang 8dụng môi trường có ý nghĩa quan trọng Bằng các chế tài hình sự, hành chính, dân sự, pháp luật tác động tới những hành vi vi phạm Các chế tài hình sự, hành chính, dân sự được sử dụng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường vừa có tác dụng ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật môi trường vừa có tác dụng giáo dục công dân tôn trọng pháp luật bảo vệ môi trường
II CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN
1 Giai đoạn trước 1986
1.1 Một số đặc điểm.
Ta có thể đất nước ta bị tàn phá nặng nề sau nhiều cuộc chiến tranh kéo dài, do đó đất nước phải đối phó với muôn vàn khó khăn và thách thức Khi đó dân trí của ta còn thấp, tỷ lệ mù chữ vẫn còn nhiều, đất nước bị tàn phá nặng nề, và thực hiện khôi phục kèm với xây dựng kinh tế đất nước Trước những tình trạng hậu quả đó, ta chỉ nghĩ đến việc nhanh chóng phục hồi và xây dựng nên kinh tế dẫn đến nạn khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng vào đầu những năm 80
Trong bối cảnh xã hội như vậy đã không cho phép đất nước ta chú ý nhiều đến vấn
đề môi trường Tất cả những cố gắng trong thời kỳ đó đều tập chung vào việc chiến thắng
đế cuốc Mỹ, giành độc lập dân tộc Tiếp đó là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nên vấn đề môi trường cũng không được chú trọng vì mối quan tâm của Đảng và Nhà nước
ta bấy giờ là hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế thoát khỏi sự khủng hoảng kinh tế xã hội đang hoành hành từ thời gian sau chiến tranh đến năm 1986, khi chính sách đổi mới được khởi xướng
Như vậy một mặt là do bối cảnh xã hội, mặt khác thì cũng là do khi đó tình trạng ô nhiễm suy thoái môi trường chưa thể hiện rõ rệt và ở mức độ cao Sự ô nhiễm trong các đô thị và vùng nông thôn chưa đến mức báo động số lượng ô tô, xe máy, các thiết bị, máy móc
Trang 9có chất thải dioxin chưa được sử dụng nhiều như hiện nay Các loại phân bón, thuốc trừ sâu sử dụng trong sản xuất nông nghiệp được sử dụng ở mức hạn chế chứ không lạm dụng quá nhiều như bây giờ Do đó dẫn tới tình trạng là ít người quan tâm đến việc phải bảo vệ môi trường
Hệ thống pháp luật của Việt Nam những năm trước 1986 chưa phải là hệ thống pháp luật hoàn thiện Cơ chế bao cấp với sự ngự trị của hệ thống chỉ tiêu kế hoạch trong các quan hệ kinh tế, xã hội đã hạn chế sự phát triển của pháp luật Mặc dù đã có văn bản pháp luật điều chỉnh song các quy định chỉ liên quan đến một số khía cạnh của bảo vệ môi trường chứ chưa trực tiếp bảo vệ các yếu tố môi trường Các quy định pháp luật về môi trường trong thời kì này được ban hành chủ yếu bằng hình thức dưới luật
1.2 Các văn bản pháp luật
Trong giai đoạn này, mặc dù nhà nước đã có những ý tưởng về việc bảo vệ môi trường song việc thể chế hóa các ý tưởng này chưa được toàn diện nhưng phải công nhận
sự cố gắng đó qua một số văn bản sau:
+ Sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 21/12/1949 quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng, đây được coi là văn bản pháp luật sớm nhất đề cập đến vấn đề môi trường.
+ Điều đáng chú ý nhất trong giai đoạn này là việc coi bảo vệ môi trường là đòi hỏi hiến định Điều 36 Hiến pháp 1980 quy định “các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống”
+ Bên cạnh đó cũng có một số văn bản khác của Chính phủ tuy không chính thức điều chỉnh các vấn đề môi trường song có thể coi là liên quan đến các vấn đề môi trường:
- Nghị quyết 36/CP ngày 11/03/1961 của Hội đồng chính phủ về việc
Trang 10quản lí, bảo vệ tài nguyên dưới lòng đất
- Chỉ thị số 127/CP ngày 24/05/1971 của Hội đồng Chính phủ về công tác điều tra cơ bản tài nguyên và điều kiện thiên nhiên
- Nghị quyết số 183/CP ngày 25/09/1966 về công tác trồng cây gây rừng
- Chỉ thị số 07/TTg ngày 16/01/1964 về thu tiền bán khoán lâm sản và thu tiền nuôi rừng
- Pháp lệnh về bảo vệ rừng được ban hành ngày 11/09/1972
=> Các văn bản thời kì này chủ yếu được ban hành dưới luật.
1.3 Một số ưu và nhược điểm trong thời kì này
2 Từ 1986 đến nay
2.1 Bối cảnh:
Khủng hoảng kinh tế xã hội cuối những năm 70 và đầu những năm 80 đã dẫn đến nhữngcuộc cải cách kinh tế sâu sắc bằng việc xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp và chuyển sang cơ chếkinh tế thị trường có định hướng XHCN Bên cạnh việc mang lại những kết quả tốt đẹp, kinh tế
Trang 11thị trường cũng là nguyên nhân của nhiều hiện tượng kinh tế xã hội tiêu cực, trong đó có suy thoáimôi trường Vì chạy theo lợi nhuận, làm giàu bằng mọi giá nên các nguồn tài nguyên của đất nước
bị khai thác bừa bãi.Quá trình đô thị hóa dưới tác động của kinh tế thị trường cũng làm tăng sức
ép môi trường ở các thành phố và thị xã Lượng khí thải từ các máy móc thiết bị này đã làm chomôi trường, nhất là môi trường đô thị bị ô nhiễm Sức ép của vấn đề ô nhiễm môi trường tăng lêncùng với việc sử dụng rộng rãi các hóa chất trừ sâu bệnh, các chất kích thích tăng trọng Nhữngcơn lũ quét diễn ra liên tục ở những nơi rừng bị phá trụi … Tất cả những nguyên nhân trên đãlàm cho vấn đề bảo vệ môi trường trở thành thách thức lớn của xã hội
2.2 Các văn bản pháp luật được ban hành
Kể từ 1986, đặc biệt là những năm đầu của thập kỉ 90, bảo vệ môi trường trở thành nguyêntắc hiến định Luật môi trường được coi là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống pháp luật ViệtNam Ngay từ năm 1986, Chiến lược bảo tồn quốc gia được soạn thảo và 5 năm sau, vào năm
1991 Việt Nam đã thông qua Kế hoạch Hành động Quốc gia về Môi trường và Phát triển bềnvững (NPESD), ngay trước khi Hội nghị Rio diễn ra Bốn năm tiếp theo, hai kế hoạch được soạnthảo, đó là Kế hoạch Hành động Môi trường Quốc gia, đón trước các yêu cầu bắt buộc của Ngânhàng Thế giới (WB); và Kế hoạch Hành động Đa dạng sinh học (BAP) sau khi Việt Nam phêchuẩn Công ước Đa dạng Sinh học, năm 1993 Ngoài ra, nhiều chương trình cải cách luật pháp và
Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường Mặc dù còn chưa đồng bộ, nhưng các văn bản này đã góp phần tích cực vào
Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 10/1/1994 Đây là thời điểm mà công tác Bảo
vệ môi trường của Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới, phát triển cả về chất và lượng.Cùng với Luật bảo vệ môi trường, và một loạt các văn bản pháp luật quan trọng đã được ban hành
từ trước 1990 như: Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân (1989), Pháp lệnh về thu thuế tài nguyên(1989), Pháp lệnh Bảo vệ đê điều (1989), Pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (1989); từ năm
1986 đến nay Nhà nước Việt Nam đã ban hành thêm nhiều bộ luật, pháp lệnh khác có liên quanđến công tác Bảo vệ môi trường, đó là: Hiến pháp sửa đổi (2001) ; Bộ Luật Hình sự sửa đổi
Trang 12(1999); Luật Khoa học và Công nghệ; Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991); Luật Đất đai (1993);Luật Dầu khí (1993); Luật Khoáng sản (1996); Luật Tài nguyên nước (1998); Luật Đầu tư nướcngoài (1997); Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (1999); Pháp lệnh Thú y (1993); Pháp lệnhBảo vệ và kiểm dịch thực vật (1993); Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ (1996);
Pháp lệnh Phí và lệ phí (2001) Để thúc đẩy quá trình pháp chế hoá công tác bảo vệ môitrường và phát triển bền vững, sau Luật Bảo vệ môi trường, hàng loạt các Nghị định, Chỉ thị,Thông tư cấp Bộ và liên Bộ, và các Quyết định liên quan, đã được ban hành, tạo thành một hệthống các quy định dưới luật, phục vụ việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường
Nghị định 175/CP năm 1994 của Chính phủ đã cụ thể hoá trách nhiệm của chính quyềntrung ương và địa phương trong việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường; lần đầu tiên đưa vào ápdụng một loạt các quy định liên quan đến công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM), kiểmtoán đối với các cơ sở mới của quốc gia và áp dụng kiểm soát xuất, nhập khẩu và vận chuyển cácloài quý hiếm Đồng thời, Nghị định này đã đề xuất quyền thanh tra và áp dụng các khoản lệ phí
và phạt hành chính môi trường, tuy nhiên khái niệm này vẫn còn gây tranh cãi và khó đưa vào ápdụng
Nghị định 26/CP, ban hành năm 1996, đã nâng khung phạt hành chính đối với các vi phạmpháp luật môi trường liên quan đến những lĩnh vực: ĐTM và kiểm soát môi trường; bảo tồn tàinguyên thiên nhiên; buôn bán các loài quý hiếm; khai thác mỏ; cũng như hàng loạt những hành vi
Tháng 6 năm 1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 36-CT/TW về Tăng cường bảo vệ môitrường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chỉ thị phản ánh mức độ cam kếtcao của Nhà nước đối với Bảo vệ môi trường Chỉ thị đề ra một Chương trình hành động bao gồm:xây dựng chiến lược quốc gia về Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững thời kỳ 2001-2010;hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường; đưa các vấn đề môi trường vào
hệ thống giáo dục quốc dân; xây dựng Nghị định của Chính phủ về đa dạng hoá đầu tư cho côngtác Bảo vệ môi trường; xây dựng kế hoạch giải quyết các nguyên nhân sâu xa của ô nhiễm môitrường nghiêm trọng do các xí nghiệp công nghiệp gây ra; và sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường,góp phần quan trọng trong nỗ lực bảo vệ môi trường của quốc gia