1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu vấn đề tự sát trong kinh giáo giới channa ( bài kinh 144)

16 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 467,77 KB
File đính kèm Tìm Hiểu Vấn Đề Tự Sát Trong Kinh.rar (437 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu Luận Tư Tưởng Phật Giáo Nguyên Thủy Và Đại Thừa Tìm Hiểu Vấn Đề Tự Sát Trong Kinh Giáo Giới Channa (Kinh 144) Nguyễn Thanh Hải Trang 116 Mục Lục Mục Lục 1 I Dẫn nhập 2 II Nội dung kinh Giáo giới Channa 3 III Cơ sở lý thuyết và các quan điểm về tự sát 5 1 Quan điểm của tâm lý học về tự sát 5 2 Quan điểm Xã hội học về tự sát 6 3 Pháp Luật Việt Nam đối với “Quyền được Chết” 7 4 Tạm kết 8 IV Tìm hiểu về vấn đề tự sát trong Đạo Phật 8 1 Quan điểm về vấn đề tự sát trong Đạo Phật 8 2 Ngài Channa.

Trang 1

Mục Lục

Mục Lục 1

I Dẫn nhập 2

II Nội dung kinh Giáo giới Channa 3

III Cơ sở lý thuyết và các quan điểm về tự sát 5

1 Quan điểm của tâm lý học về tự sát 5

2 Quan điểm Xã hội học về tự sát 6

3 Pháp Luật Việt Nam đối với “Quyền được Chết” 7

4 Tạm kết 8

IV Tìm hiểu về vấn đề tự sát trong Đạo Phật 8

1 Quan điểm về vấn đề tự sát trong Đạo Phật 8

2 Ngài Channa có phạm giới sát sinh hay không? 13

3 Tạm kết 14

V Kết Luận 15

Tài liệu tham khảo 15

Trang 2

I Dẫn nhập

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)1 cứ 40 giây lại có một người trên thế giới chết vì tự sát Đây là một trong số những sự thật giật mình

về việc tự sát của con người Chết do tự sát chiếm mức độ cao thứ 132 trong các nguyên nhân gây ra cái chết cho loài người, số người chết vì tự tử còn nhiều hơn tất cả nạn nhân của các cuộc chiến tranh và thảm họa tự nhiên hàng năm3 Trẻ con và thanh niên dưới 35 tuổi chiếm tỷ lệ tự tử cao nhất4,

và nam giới tự tử nhiều gấp 3, 4 lần nữ giới5 Có khoảng 10-20 triệu vụ tự sát không thành xảy ra mỗi năm trên toàn thế giới6 Ở Ấn Độ và một số dân tộc khác, thời xưa người đàn bà khi chồng qua đời thì tự sát để chết theo chồng Theo suy nghĩ cá nhân, cho dù kinh điển không ghi lại, nhưng chắc Phật chống lại tục lệ xấu đó

Vấn đề tự sát ở đây khi đưa ra bàn thảo chỉ thu hẹp ở trường hợp của một nhà sư tự sát vì bạo bệnh, và xoay quanh hai điểm chính:

- Tìm hiểu về nội dung bài Kinh Giáo Giới Channa

- Tìm hiểu về vấn đề tự sát trong Đạo Phật

Cụ thể, trong kinh Kinh giáo giới Channa (kinh số 144- Channovāda sutta) trong bộ kinh Trung bộ do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch

1 Tổ chức Y tế Thế giới viết tắt WHO (tiếng Anh: World Health Organization) hoặc OMS (tiếng Pháp: Organisation mondiale de la santé) là một cơ quan của Liên Hiệp Quốc, WHO đóng vai trò thẩm quyền điều phối các vấn đề sức khỏe và y tế cộng đồng trên bình diện quốc tế

2 Bruce Gross, Forrensic Examiner, Summer, 2006

3 Thông tin trên internet, Nguồn http://www.phunutoday.vn/giat-minh-voi-xu-huong-tu-tu-cua-con-nguoi-d80977.html

4 O'Connor, Rory; Sheehy, Noel (29 tháng 1 năm 2000) Understanding suicidal be haviour Leicester: BPS Books tr 33–37 ISBN 978-1-85433-290-5

5 Gelder et al, 2005 p169 Psychiatry 3rd Ed Oxford: New York

6 Bertolote JM, Fleischmann A (tháng 10 năm 2002) “Suicide and psychiatric diagnosis: a worldwide perspective” World Psychiatry 1 (3): 181–5 ISSN 1723-8617 PMC 1489848 PMID 16946849

Trang 3

II Nội dung kinh Giáo giới Channa

1 Lúc Thế Tôn trú ở tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana), thành Vương Xá (Ràjagaha), Tôn giả Channa (Xiển Đà), đã đoạn trừ chấp thủ ngã, đang lâm trọng bệnh, rất đau đớn, Tôn giả muốn tự kết liễu mạng sống Tôn giả

Xá Lợi Phất (Sàriputta) cùng Tôn giả Ma Ha Câu Hi La (Mahacunda) đến thăm và khuyên Tôn giả Channa nhẫn nại chạy chữa thuốc thang (dược liệu), tiếp tục sống, nhưng Tôn giả Channa vẫn không thay đổi ý định kết thúc mạng sống của mình

“Tôn giả Sariputta nói với Tôn giả Channa:

-Này Hiền giả Channa, mong rằng Hiền giả có thể kham nhẫn! Mong rằng Hiền giả có thể chịu đựng! Mong rằng khổ thọ được giảm thiểu không có gia tăng, và sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng!

-Thưa Hiền giả Sariputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng Sự thống khổ của tôi gia tăng không có giảm thiểu, và sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu Thưa Hiền giả Sariputta, tôi sẽ đem dao (cho tôi) Tôi không còn muốn sống

-Tôn giả Channa, chớ có đem lại con dao! Tôn giả Channa, hãy tiếp tục sống! Chúng tôi muốn Tôn giả Channa tiếp tục sống Nếu Tôn giả Channa không có các món ăn tốt lành, tôi sẽ đi tìm các món ăn tốt lành cho Tôn giả Channa Nếu Tôn giả Channa không có các dược phẩm tốt lành, tôi

sẽ đi tìm các dược phẩm tốt lành cho Tôn giả Channa Nếu Tôn giả Channa không có người thị giả thích đáng, tôi sẽ hầu hạ Tôn giả Channa Tôn giả Channa chớ có đem lại con dao! Tôn giả Channa hãy tiếp tục sống! Chúng tôi muốn Tôn giả Channa tiếp tục sống

-Thưa Hiền giả Sariputta, không phải tôi không có các món ăn tốt lành, cũng không phải tôi không có các dược phẩm tốt lành Cũng không phải tôi không có thị giả thích đáng Thưa Hiền giả Sariputta, trong một thời gian dài, tôi đã hầu hạ bậc Ðạo Sư, làm cho (bậc Ðạo sư) được đẹp lòng,

Trang 4

không phải không được đẹp lòng Thưa Hiền giả Sariputta, thật là thích đáng cho người đệ tử hầu hạ bậc Ðạo Sư, làm cho (bậc Ðạo Sư) được đẹp lòng, không phải không được đẹp lòng Tỷ-kheo Channa đem lại con dao không có phạm tội Thưa Hiền giả Sariputta, hãy thọ trì như vậy!”

2 Tôn giả Sàriputta mạo muội xin ý kiến cho phép của Tôn giả Channa nêu

lên một số câu hỏi xem Tôn giả Channa có nhìn vạn hữu: “Cái này không

phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta” không?

Tôn giả Channa xác nhận tự mình đã thấy như thế, đã thấy sự đoạn diệt trong 18 giới, trong sở kiến, sở văn, sở tri Tôn giả Sàriputta liền tiếp lời

giáo giới: “Do vậy, này Hiền giả Channa, lời dạy này của Thế Tôn cần

được tác ý: Ai có chấp trước là có dao động Ai không chấp trước thì không dao động Không dao động thì khinh an Có khinh an thì không hy cầu; không hy cầu thì không khứ lai; không khứ lai thì không tử sinh; không tử sinh thì không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời Như vậy là đoạn tận khổ đau”

3 Sau khi từ giã Tôn giả Channa, tôn giả Sàriputta đã trình sự việc lên Thế Tôn Thế Tôn dạy:

- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã đem dao lại (cho mình), sanh xứ của

Tôn giả ấy là gì? Ðời sống tương lai là gì?

-Này Sariputta, có phải trước mặt Ông, Tỷ-kheo Channa đã tuyên bố sự không phạm tội?

-Bạch Thế Tôn, có một ngôi làng của dòng họ Vajji (Bạt-kỳ) tên là Pubbajira Tại đấy, có những gia đình thân hữu, những gia đình hộ trì Tôn giả Channa, những gia đình cần được viếng thăm

-Này Sariputta, có những gia đình ấy là những gia đình thân hữu, những gia đình hộ trì Tỷ-kheo Channa, những gia đình cần được viếng thăm Này Sariputta, cho đến nay, Ta không nói rằng Tỷ-kheo Channa có phạm tội Này Sariputta, ai quăng bỏ thân này, và chấp thủ thân khác, Ta nói rằng

Trang 5

người ấy có phạm tội kheo Channa không có (chấp thủ) như vậy Tỷ-kheo Channa đem con dao lại (cho mình), không có phạm tội

Thế Tôn thuyết giảng như vậy Tôn giả Sariputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy”

III Cơ sở lý thuyết và các quan điểm về tự sát

Tự sát7 hay tự tử, tự vẫn là hành động của một người cố ý gây ra cái chết cho chính mình8 Hành động này được tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau như dùng thuốc độc, vũ khí, rơi từ độ cao, dùng dao, dùng súng, nhảy xuống sông,v.v

1 Quan điểm của tâm lý học về tự sát

Theo nhà tâm lý học người Mỹ, Edwin S Shneidman9, tự sát là hành động

tự làm tổn thương, cố ý chấm dứt sinh mạng của bản thân Tự tử không phải

là một chứng bệnh; tự tử không phải là do sự bất bình thường về mặt sinh học; nó cũng không phải là một hành động vô đạo đức, và không phải là một hành vi phạm pháp trong hầu hết các quốc gia trên thế giới10 Trong cuốn sách Definition of Suicide xuất bản năm 1985, Edwin S Shneidman đã định nghĩa tự tử như sau: Tự tử là một hành động tự kết liễu sự sống của bản thân một cách có ý thức Ở đây, người ta phải đối mặt với một tình cảnh vô cùng khó khăn, phức tạp và họ nhận thấy rằng tự sát là giải pháp tốt nhất để giải quyết khó khăn đó11

7 Tiếng hoa:自殺, có nghĩa là "tự giết", tiếng Anh: suicide bắt nguồn từ tiếng Latin: Suicidium từ chữ suicaedere nghĩa là "giết chính mình"

8 Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia; nguồn

https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%B1_s%C3%A1t

9 Edwin S Shneidman (1918 - 2009) là một nhà tâm lý học về lâm sàng học người Mỹ , nhà tự tử và nhà giải phẫu học Cùng với Norman Farberow và Robert Litman, vào năm 1958, ông thành lập Trung tâm Phòng chống Tự sát Los Angeles, nơi mà những người đàn ông này có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu tự tử và phát triển một trung tâm khủng hoảng và các phương pháp điều trị để ngăn ngừa tử vong

10 Antoon A Leenaars (2004), Psychotherapy with suicidal people, John Wiley & Sons, New Delhi, p.3

11 Shneidman, E (1985), Definition of suicide, John Wiley & Sons, New York, p.203

Trang 6

Charles Bagg, một chuyên gia tâm lý người Anh, cho rằng, tự tử là hành động cướp đi sinh mạng của bản thân một cách có chủ tâm, và hành động này có thể là hậu quả của những chứng bệnh tâm thần và cũng có thể là hậu quả của những động cơ khác nhau; những động cơ này không nhất thiết phải liên quan đến các chứng bệnh tâm thần, nhưng chúng mạnh hơn cả bản năng sinh tồn của con người12

2 Quan điểm Xã hội học về tự sát

Theo Durkheim13, tự sát là cái chết do kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ họat động tích cực hay tiêu cực của cá nhân chống lại chính bản thân mình mà cá nhân đó biết là hành động đó sẽ tạo ra kết cục như vậy Dựa vào tính chất của sự đòan kết xã hội, Durkheim phân ra bốn loại tự sát14:

- Tự sát vị kỉ: cá nhân hòa nhập xã hội kém, xảy ra khi cá nhân bị bỏ rơi, không được quan tâm đến và cá nhân sống chỉ vì bản thân mình Đây là kiểu tự sát do chủ nghĩa cá nhân quá lớn, quá mạnh gây ra

- Tự sát vị tha: cá nhân hòa nhập xã hội ở mức độ rất cao, quên đi bản thân mình, tự sát vì lợi ích của nhóm Theo Durkheim, tự sát vị tha có thể diễn ra dưới hình thức bắt buộc trong một hoàn cảnh nhất định mà

cá nhân không thể làm khác được Đó có thể là quy định, quy ước của nhóm

- Tự sát phi chuẩn mực: là hình thức được Durkheim nhấn mạnh nhất khi nghiên cứu về tự sát Hình thức tự sát này xảy ra khi cá nhân ở

12 Antoon A Leenaars (2004), Psychotherapy with suicidal people, John Wiley & Sons, New Delhi, p.3

13 Émile Durkheim (1858 - 1917) là một nhà xã hội học người Pháp nổi tiếng, người đặt nền móng xây dựng chủ nghĩa chức năng (functionlism) và chủ nghĩa cơ cấu (structuralism); người đã góp công lớn trong

sự hình thành bộ môn xã hội học và nhân chủng học Những công sức của ông trong việc thực hiện và biên tập tạp chí (L'Année Sociologique) đã giúp xây dựng xã hội học thành một môn khoa học xã hội được chấp nhận trong giới hàn lâm Trong suốt cuộc đời mình, Durkheim đã thực hiện rất nhiều bài thuyết trình và cho xuất bản vô số sách xã hội về các chủ đề như giáo dục, tội phạm, tôn giáo, tự tử và nhiều mặt khác của

xã hội Ông được coi là một trong những nhà sáng lập môn xã hội học và là một nhân vật nổi bật của chủ nghĩa đoàn kết

14 Trương Văn Vỹ , Tự Tử Như Là Một Hành Vi Lệch Lạc – Quan Điểm Của Emile Durkheim Về Sai Lệch Chuẩn Mực Xã Hội, tạp chí phát triển KH&CN – ĐH Quốc gia TP.HCM; tập 14- số X1-2011, trang 85-93

Trang 7

trong tình huống nhiễu loạn, hỗn độn, khủng hoảng, mất phương hướng do các quy tắc xã hội cũ bị phá vỡ nhưng các quy tắc xã hội mới chưa hình thành

3 Pháp Luật Việt Nam đối với “Quyền được Chết”

Tại Việt Nam, quyền được chết không được pháp luật nước này quy định, tuy nhiên trong quá trình xây dựng luật vẫn có những ý kiến đề nghị thể chế hóa quyền này vào luật Vào năm 2004, Quốc hội Việt Nam đã có một buổi thảo luận về Bộ luật Dân sự (sửa đổi) Nhiều ý kiến đề xuất đưa những vấn đề mới nảy sinh trong xã hội như: quyền được chết, hiến nội tạng, xác định lại giới tính, mang thai hộ vào trong luật15 PGS TS Phùng

Trung Tập cho rằng: "Câu hỏi được đặt ra bao trùm toàn bộ những quan

niệm về sự sống và chết của cá nhân Trước hết, nhân loại tồn tại có ý nghĩa là sự sống và mỗi người sinh ra đều có quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc trong sự phát triển của xã hội Pháp luật không nên quy định cho cá nhân một loại quyền được chết hay quyền được lựa chọn cách chết hay phương thức chết! Theo tôi, mọi cái chết chứa đựng tính cưỡng bức hay có chủ tâm đều là những cái chết không bình thường và bất thường

Vì hệ quả của những cái chết như vậy thường kéo theo nhiều vấn đề mang tính không tích cực và còn ảnh hưởng đến tâm lý của những người khác Con người là thực thể của tự nhiên, cho nên sự sống và cái chết hãy để chúng diễn ra một cách tự nhiên (vấn đề phòng bệnh, chữa bệnh luôn luôn được coi trọng)"16

Điều 19 của Hiến pháp năm 2013 quy định: "Mọi người có quyền sống

Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật" Ngoài ra, không có bất cứ quy định nào về “quyền được

15 Nguồn internet vnexpress.net/gl/xa-hoi/2004/11/3b9d 8a33/

16 Nguồn internet https://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/luat-su-phan-bac-de-xuat-quyen-duoc-chet-3204678.ht ml

Trang 8

chết” Ngoài ra, Việt Nam đã gia nhập Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị từ ngày 24/9/1982, Khoản 1 điều 6 Công ước ghi rằng

“mọi người đều có quyền cố hữu là được sống Quyền này phải được pháp

luật bảo vệ Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện” Theo

pháp luật Việt Nam, chỉ có thể tước đoạt cuộc sống của người khác thông qua việc tòa án xét xử và cho thi hành án phạt tử hình

4.Tạm kết

Theo quan điểm giới các ngành khoa học và pháp luật, tự sát không có tội như nó để lại ấn tượng sâu sắc với cộng đồng xã hội, là hiện tượng lệch lạc

xã hội, nhất là đối với văn hóa phương đông và Việt Nam là tội bất hiếu, phụ lòng công dưỡng dục sinh thành của cha mẹ Tự sát có thể tạm phân thành tiêu cực (sử dụng ma túy, chán đời, thất tình …) và tích cực (hy sinh thân mình vì lý tưởng, niềm tin…) Đối với Phật giáo, cũng có các vị Tỳ kheo đã

tự sát khi đã chứng đắc hay chưa chứng đắc Thánh Đạo và Thánh Quả như ngài Channa trong Kinh Giáo giới Channa (kinh số 144) sẽ được tìm hiểu chi tiết ở phần sau

1 Quan điểm về vấn đề tự sát trong Đạo Phật

Theo giới luật Tỳ Kheo17, thì việc hủy hoại, làm thương tổn, hay đầy đọa thân xác của mình đều là những việc Đức Phật không cho phép Tự hủy họai thân xác tức là tự sát, là phạm giới luật, đi ngược lại giáo lý của đạo Phật về các phương diện: (1) ngăn trở nỗi ước muốn giải thoát, (2) bỏ mất cơ hội may mắn được làm người vì tái sanh làm thân người là điều rất khó và chỉ

có loài người mới có nhiều khả năng để thành tựu sự nghiệp giải thoát khỏi

17 Năm giới của Cư sĩ, mười giới của Sa Di, đến 250 giới của Tỳ kheo, 348 giới của Tỳ kheo ni , tất cả đều

là Thanh Văn Giới Bồ Tát Giới hay còn gọi là Đại Thừa Giới gồm 10 giới Trọng và 48 giới Khinh, bao gồm hai phần: có phần thì tác là phạm, có phần không tác cũng phạm, tức là cần phải làm, nếu không làm thì phạm (chỉ trì và tác trì) Đối với Thanh Văn Giới có làm mới phạm (tác phạm)

Trang 9

khổ đau, sinh tử, luân hồi, (3) huỷ hoại tinh thần từ bi, bình đẳng và (4) tạo

sự liên hệ lẫn nhau giữa nhân và quả trong hiện tại cũng như trong tương lai qua định luật duyên khởi

Tự sát đề cập ở đây được hiểu là hành động do chán nản cuộc sống, chán nỗi khổ đau của thân tâm và thiếu nghị lực đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống cũng như đánh mất hy vọng và niềm tin nơi chính mình Nguyên nhân khác dẫn đến việc tự sát đối với những người tu hành là do thiếu công phu tu trì, không rõ đường đi của luật Nhân Quả, chưa chứng ngộ thực tướng của vạn pháp, mà chỉ hiểu một cách lệch lạc rằng sau khi tự sát sẽ được giải thoát Ví dụ như thời đức Phật còn tại thế, có một số Tỳ kheo tu pháp bất

tịnh quán, nên chán ngấy nỗi khổ của thân bèn tự sát “Có trường hợp một

nhóm Tỳ-kheo tự gây tai họa cho mình do phản ứng quá đà và tâm thần tán loạn Đức Phật đã dạy chư Tỳ-kheo tại Vesàli về sự bất tịnh của thân cùng khuyến giáo chư vị quán thân vô thường và bất tịnh Sau đó Ngài nhập thất

để độc cư thiền định Khi Ngài trở lại, Ngài kinh ngạc khi thấy số Tăng chúng địa phương ấy giảm sút Tỳ-kheo Ànanda giải thích: nhiều Tỳ-kheo quá chán ngán bản thân sau khi đức Phật giảng Pháp, nên đã tự kết liễu đời mình! Đức Phật lập tức triệu tập một buổi họp chư Tăng và đề nghị chư vị thay đổi phương pháp bằng cách thực hành niệm hơi thở”18

Tuy nhiên, nếu một vị Tỳ kheo lấy công phu tu trì, chuyên tinh thiền định,

đã nhiếp phục được tâm tham, sân, si, biết rõ đường đi của nhân qủa và biết

rõ sau khi xả bỏ báo thân này sẽ không tiếp tục sinh thân khác thì không phạm lỗi, tức không vi phạm giới luật Cả hai hệ kinh điển Pàli của Nam Tông và Sanskrit của Bắc Tông đều nhắc đến ba trường hợp tự sát như vậy

18 H.W Schumann (1982) - Nguyên Tâm Trần Phương Lan dịch Việt (1997); Ðức Phật Lịch Sử (The Historical Buddha) Nguồn https://www.budsas.org/uni/u-ducphatlichsu/dpls -04d.htm

Trang 10

của các Tỳ-kheo Cù Đề Ca (Godhika)19, Bạt Ca Lê (Vakkali)20 và Channa21

Đó là ba trường hợp của ba vị Tỳ kheo tự sát xảy ra trong thời đức Phật Theo kinh, cả ba vị Tỳ kheo đều là những vị tu sĩ thuộc hàng trưởng lão, chuyên cần tinh tấn thiền định và đều tự sát kết liễu thân mạng với “tâm vô trụ”, với “thức không an trú” Các ngài đều biết rõ sau khi xả bỏ xác thân này là sẽ không tiếp tục sinh thân khác Các ngài biết rõ đường đi của Nhân Quả Các ngài đã đi với tâm vô trụ, với tâm bất sinh và vì thế, theo lời của đức Phật dạy, các Ngài đã không phạm lỗi và đã vào Niết Bàn

Cụ thể trường hợp ngài Channa, Kinh Trung Bộ 14422 và kinh Tạp A Hàm

4723 kể rằng Tỳ kheo Channa bị thân bệnh đau đớn, khổ sở, bức bách, khó chịu đựng nổi, nên muốn dùng dao tự sát Được tin, Tôn giả Xá Lợi Phất cùng Tôn giả Ma Ha Câu Hi La đến thăm và xét hỏi Phật Pháp Sau khi chất vấn về căn trần thức và vấn đề sanh tử, Tỳ kheo Channa, mặc dầu thân bệnh đau đớn nhưng vẫn trả lời thông suốt những câu hỏi của hai Ngài và vẫn tỏ

ý muốn được kết liễu thân mạng Sau đó Tỳ kheo Channa đã dùng dao tự kết liễu đời mình Hai vị Tôn gỉa Xá Lợi Phất và Ma Ha Câu Hi La không phản

19 - Thích Minh Châu, Kinh Tương Ưng Bộ Tập 1 Phẩm 3 Samyutta Nikàya, Phật Lịch 2537 – 1993

http://www.thuvienhoasen.org/tu1-04.htm

- Thích Đức Thắng, Kinh Tạp A-Hàm, Quyển 39 (Kinh 1091) Hán dịch: Tống, Tam Tạng Cầu-Na-Bạt-Đà-La, Việt dịch: Thích Đức Thắng - Hiệu đính & Chú thích: Thích Tuệ Sỹ

http://www.thuvienhoasen.org/kinhtapaham-39.htm

20 -Thích Minh Châu, Kinh Tương Ưng Bộ Tập 3 Samyutta Nikàya, (Đoạn V) Phật Lịch 2537 – 1993 http://www.thuvienhoasen.org/tu3-22e.htm

-Thích Đức Thắng (dịch) - Hiệu đính & Chú thích: Thích Tuệ Sỹ, Kinh Tạp A-Hàm, Quyển 47 (Kinh 1265) Hán dịch: Tống, Tam Tạng Cầu-Na-Bạt-Đà-La, Nguồn

http://www.thuvienhoasen.org/kinhtapaham-47.htm

21 -Thích Minh Châu, Kinh Trung Bộ Majjhima Nikàya Tập 3 Kinh số 144 - Kinh Giáo giới Channa,

http://www.thuvienhoasen.org/u-trung144.htm

-Thích Minh Châu, Kinh Tương Ưng Bộ Tập 3 Samyutta Nikàya, (Đoạn VIII) - Phật Lịch 2537 – 1993

http://www.thuvienhoasen.org/tu3-22e.htm

- Thích Đức Thắng (dịch) - Hiệu đính & Chú thích: Thích Tuệ Sỹ , Kinh Tạp A-Hàm, Quyển 47 (Kinh 1266) Hán dịch: Tống, Tam Tạng Cầu-Na-Bạt-Đà-La, nguồn http://www.thuvienhoasen.org/kinhtapaham-47.htm

22 Thích Minh Châu, Kinh Trung Bộ Majjhima Nikàya Tập 3 Kinh số 144 - Kinh Giáo giới Channa,

http://www.thuvienhoasen.org/u-trung144.htm

23 Thích Đức Thắng (dịch) - Hiệu đính & Chú thích: Thích Tuệ Sỹ , Kinh Tạp A-Hàm, Quyển 47 (Kinh 1266) Hán dịch: Tống, Tam Tạng Cầu-Na-Bạt-Đà-La, nguồn http://www.thuvienhoasen.org/kinhtapaham-47.htm

Ngày đăng: 18/05/2022, 15:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3]. Bertolote JM, Fleischmann A (tháng 10 năm 2002). “Suicide and psychiatric diagnosis: a worldwide perspective”. World Psychiatry 1 (3): 181–5. ISSN 1723-8617. PMC 1489848. PMID 16946849 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suicide and psychiatric diagnosis: a worldwide perspective
[6]. H.W. Schumann (1982) - Nguyên Tâm Trần Phương Lan dịch Việt (1997); Ðức Phật Lịch Sử (The Historical Buddha) Nguồn https://www.budsas.org/uni/u-ducphatlichsu/dpls-04d.htm Link
[7]. Thích Minh Châu, Kinh Tương Ưng Bộ Tập 1 Phẩm 3 Samyutta Nikàya, Phật Lịch 2537 – 1993 http://www.thuvienhoasen.org/tu1-04.htm Link
[8]. Thích Đức Thắng (dịch) - Hiệu đính & Chú thích: Thích Tuệ Sỹ, Kinh Tạp A-Hàm, Quyển 39 (Kinh 1091) Hán dịch: Tống, Tam Tạng Cầu-Na-Bạt-Đà- La, http://www.thuvienhoasen.org/kinhtapaham-39.htm Link
[9]. Thích Minh Châu, Kinh Tương Ưng Bộ Tập 3 Samyutta Nikàya, Phật Lịch 2537 – 1993 http://www.thuvienhoasen.org/tu3-22e.htm Link
[10]. Thích Đức Thắng (dịch) - Hiệu đính & Chú thích: Thích Tuệ Sỹ, Kinh Tạp A-Hàm, Quyển 47 (Kinh 1265) Hán dịch: Tống, Tam Tạng Cầu-Na-Bạt-Đà- La, Nguồn http://www.thuvienhoasen.org/kinhtapaham-47.htm Link
[14]. Tạng Luật-Tập Yếu- Lời Giải Thích Về Điều Lợi Ích Nguồn https://suttacentral.net/vn/pi-tv-pvr9 Link
[15]. HT. Hộ Tông; Nền Tảng Phật Giáo - Quyển III: Hành Giới; Nguồn: http://trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/HanhGioi/HanhGioi01.htm Link
[2]. O'Connor, Rory; Sheehy, Noel (29 tháng 1 năm 2000). Understanding suicidal behaviour. Leicester: BPS Books. tr. 33–37. ISBN 978-1-85433- 290-5 Khác
[4]. Antoon A. Leenaars (2004), Psychotherapy with suicidal people, John Wiley & Sons, New Delhi, p.3 Khác
[5]. Shneidman, E. (1985), Definition of suicide, John Wiley & Sons, New York, p.203 Khác
[13]. Tương Ưng Bộ Kinh’(Samyutta Nikāya).IV.I.xi.8 , ‘Kinh liễu tri nội xứ’(Ajjhattik-Āyatana-Pari-Jānana-Suttaṃ) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w