LỜI MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trước khi cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xảy ra, tình hình kinh tế, xã hội của đất nước có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống xã hội được cải thiện nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11012007 Cùng với chính sách mở cửa của nhà nước thì số lượng doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (nguồn vốn FDI) tăng lên một cách nhanh chóng cả.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trước khi cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xảy
ra, tình hình kinh tế, xã hội của đất nước có nhiều chuyển biến tích cực,đời sống xã hội được cải thiện nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào ngày
11/01/2007 Cùng với chính sách mở cửa của nhà nước thì số lượng doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(nguồn vốn FDI) tăng lên một cách nhanh chóng cả về số lượng, loại hình lẫn quy mô Điều đó gây lên sức ép lớn cho vấn đề quản lí của nhànước nói chung và quản lí của ngành Thuế nói riêng Mặt khác, từ năm
2009 đến nay, tình hình kinh tế Việt Nam gặp rất nhiều khó khan, tháchthức Hàng loạt doanh nghiệp trên phạm vi cả nước phải thu hẹp quy
mô, giải thể hoặc phá sản Việc quản lí thu thuế từ những doanh nghiệp này gặp rất nhiều khó khan Đây cũng là một thách thức lớn cho ngành Thuế
Công tác quản lí thuế nói chung và công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế nói riêng đối với một quốc gia là vô cùng quan trọng, đặc biệt là đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam vì thuế là nguồn thu chủyếu của NSNN và là công cụ quan trọng góp phần điều chỉnh các chínhsách vĩ mô của Nhà nước Do thuế có đặc điểm là khoản thu không hoàn trả trực tiếp và không liên quan đến lợi ích trực tiếp của NNT nên trong thực tế có nhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp… vẫn còn tâm lýchây ỳ nộp thuế, chiếm dụng tiền thuế, thậm chí còn trốn thuế làm cho
số nợ đọng thuế rất lớn, nhiều khoản nợ thuế tồn tại nhiều năm không
có khả năng thu, nhiều đối tượng có nợ thuế đã không còn tồn tại do bị giải thể gây thất thu không nhỏ cho NSNN Do vậy trong hệ thống quản
lý thuế thì quản lý nợ và cưỡng chế thuế là một khâu vô cùng quan trọng, một chức năng chính của quản lý thuế Công tác này có vai trò trong việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế, đôn đốc đối tượng nộp thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế cho NSNN nhằm chống thất thu thuế, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế
Trang 2Trước tình hình đó, Chi cục thuế quận Nam Từ Liêm đã triển khai côngtác quản lý thuế, trong đó có công tác quản lý thuế nợ và cưỡng chế thuế đặc biệt được chú trọng Thời gian qua cho thấy công tác quản lý
nợ ở chi cục thuế quận Nam Từ Liêm cũng đạt được nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên, trong quá trình triển khai công tác vẫn còn gặp một số khó khăn, vướng mắc nên tình trạng nợ đọng trong thời gian qua vẫn còn gây nhiều thất thu cho NSNN
Với đặc điểm trên địa bàn quận Nam Từ Liêm chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nên công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một vấn đề cấp bách, đòihỏi phải có những biện pháp khả thi hơn để thực hiện tốt công tác này
Xuất phát từ thực tế trên nên em đã chọn đề tài “ giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận Nam Từ Liêm” làm đề tài
cho Luận văn tốt nghiệp của mình
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn quận Nam Từ Liêm trong giai đoạn tới Những giải pháp này sẽ được đề xuất dựa trên những phân tích, đánh giá về thực trạng công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn quận Nam Từ Liêm giai đoạn 2012-2014
nợ và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn quận Nam Từ Liêm thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nợ và
Trang 3cưỡng chế nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn quận Nam Từ Liêm trong thời gian tới
3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý thuế nói chung, công tácquản lý nợ và cưỡng chế thuế nói riêng trên địa bàn quận Nam Từ Liêm
do Chi cục thuế quận Nam Từ Liêm quản lý từ năm 2012-2014
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, đánh giá, quy nạp, diễn dịch trên cơ sởvận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình
5. Kết cấu của đề tài
Đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương 1:Tổng quan về quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận Nam
Từ Liêm.
Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế
nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế quận Nam Từ Liêm.
Với những kiến thức lý luận và thực tiễn còn hạn chế và thời gian thựctập tại cơ sở không nhiều nên trong quá trình nghiên cứu không tránhkhỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo củathầy cô giáo, các cán bộ, công chức, viên chức thuế và các bạn đọc để
đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ THUẾ ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ
Trang 41.1. Nợ thuế và các ảnh hưởng của nợ thuế
1.1.1. Khái niệm
- Thuế là một khoản thu nhập được chuyển giao một cách bắt buộc
từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà Nước, do pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
- Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và
các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế màngười nộp thuế đã kê khai, cơ quan thuế đã tính; các cơ quanchức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế, cơ quanthuế xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuế và đã thôngbáo cho người nộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưanộp vào NSNN
- Tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnhlà các khoản tiền
thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoản phải nộp khácngười nộp thuế đã nộp nhưng có một số sai sót trên chứng từ nộptiền hoặc chứng từ chậm luân chuyển hoặc thất lạc, chờ ghi thu -ghi chi; cơ quan thuế đang điều chỉnh theo đúng quy định
- Người nợ thuế là các cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng nộp thuế
còn nợ các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp kháctheo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật
- Khoản nợ là số tiền thuế nợ được xác định theo từng lần phát
sinh
- Tiền phạt chậm nộp thuế là khoản tiền phạt được tính trên số
tiền thuế nợ và số ngày nợ thuế của một khoản nợ
- Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ là khoảng thời gian liên
tục tính theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm
số tiền nợ đó được nộp vào ngân sách nhà nước, bao gồm cảngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ Luật Lao động
Trang 5- Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày
tiếp theo ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật vềthuế
- Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày
khoản nợ được nộp vào ngân sách nhà nước; hoặc ngày có hiệulực thi hành của văn bản xoá nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng cáchình thức khác
1.1.2. Đặc điểm của nợ thuế
1.1.2.1 Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến
Như chúng ta biết, trong hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau, tuy nhiên các sắc thuế dù trực tiếp hay gián tiếp đều đánh vào thu nhập của các thể nhân hay pháp nhân trong nền kinh tế Nói cách khác, thuế là một hìnhthức phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà Nước Như vậy, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế Do đó, ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, người nộp thuế thường có xu hướng trốn hoặc tránh thuế.Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện các nước đang phát triển trong
đó có Việt Nam hiện nay, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của việc nộp thuế, chưa phê phán lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tíchcực cho cơ quan thuế để thu thuế theo đúng luật định
1.1.2.2 Nợ thuế quá hạn là hành vi vi phạm pháp luật thuế
Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà Nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN
Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn đề cập đến các vi phạm điều chỉnh như: mức nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế
Trang 6Như vậy hành vi nợ thuế quá hạn quy định của pháp luật là hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế bằng cách nộp chậm hoặc không nộp
số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo thời hạn quy định của pháp luật thuế
1.1.2.3 Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế
Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN còn nợ thuếmới chỉ là hành vi chây ỳ, chậm nộp tiền thuế khi quá hạn nộp theo quy định của pháp luật Tất nhiên, trong một số trường hợp, việc nợ thuế có thể là một hành vi nằm trong chuỗi hành vi trốn thuế, chẳng hạn như một số doanh nghiệp cố tình nợ một số tiền thuế lớn sau đó bỏ trốn không thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế
1.1.3. Phân loại nợ thuế
- Phân loại nợ thuế là việc phân chia nợ thuế thành những nhómkhác nhau theo những tiêu thức nhất định Hiện nay, việc phânloại nợ thuế được phân loại theo 6 tiêu thức chính là: thời gian
nợ, nội dung nợ, khả năng thu hồi nợ, tính chất nợ, đối tượng nợ
và sắc thuế nợ
- Phân loại nợ thuế là phương pháp quan trọng giúp cơ quan thuế nắm bắt sâu sắc địa điểm, tính chất, nguyên nhân của các khoản thuế nợ Qua đó, có biện pháp quản lý, đôn đốc, thu hồi nợ có hiệu quả
1.1.3.1 Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ
Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ dựa trên những thông tin về người nợ thuếtheo mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế thì
nợ thuế được phân loại thành: nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không có khả năng thu
- Nợ có khả năng thu
Trang 7Theo thống kê, khoản nợ thuộc nhóm này thường chủ yếu là các khoản nợ mới phát sinh sau thời hạn nộp thuế được quy định tại các văn bản pháp quy
về thuế.Do vậy, nợ có khả năng thu được hiểu là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vào NSNN nhưng đã hết thời hạn nộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp, đồng thời không thuộc nhóm nợ khó thu và nhóm nợ không có khả năng thu
Tùy thuộc vào tính chất, mục đích thu nợ của từng thời kì kinh tế xã hội thì cơquan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: nợ thuế chậm nộp dưới 30 ngày, nợ thuế chậm nộp từ 30 đến 90 ngày và nợ thuế quá
nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản
Khi người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì có thể có trường hợp cơ quanđiều tra đã phong tỏa tài khoản, sổ sách kế toán nên người nộp thuế không thểthực hiện việc nộp thuế hoặc người nộp thuế đã nộp thuế nhưng chưa phải nộp vào tài khoản của cơ quan điều tra nên trên sổ theo dõi thu nộp của cơ quan thuế vẫn báo nợ Khi người nộp thuế đang bị điều tra, khởi tố liên quan tới nghĩa vụ thuế hoặc không liên quan đến nghĩa vụ thuế thì cơ quan thuế phải tạm thời phân loại các khoản nợ của người nộp thuế này vào nhóm nợ khó thu để chờ kết luận cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền
Đối với người nộp thuế gặp khó khăn về tài chính, hoặc ngừng và tạm ngừng kinh doanh thì việc tiếp xúc với người nộp thuế để thu nợ là khó khăn
Trang 8nên phân loại vào nhóm này để có biện pháp quản lý theo dõi phù hợp Tương
tự với trường hợp nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản thì số tiền nợ của người nợ thuế đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sản doanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định của pháp luật thì cũng cần được phân vào nhóm này để cơ quanthuế có biện pháp quản lý thích hợp
- Nợ không có khả năng thu
Việc phân loại nợ vào nhóm này chủ yếu căn cứ vào tình trạng tồn tại của người nộp thuế Người nộp thuế hầu hết đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc không còn tồn tại trong thực tế, bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợp như nợ của người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể phá sản nhưng không làm thủ tục, trình tự giải thể phá sản đúng pháp luật nên chưa có
đủ căn cứ pháp lý để xử lý theo quy định của pháp luật Đặc điểm của trường hợp này là khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ dẫn đến không còn khả năng thanh toán Trường hợp người nộp thuế lâm vào tình trạng giải thể phá sản nhưng đang được cơ quan có thẩm quyền thụ lý để giải quyết cho phép khoanh nợ thì cũng phải đưa vào nhóm này để sau khi có quyết định khoanh
nợ thì sẽ chuyển sang nhóm nợ không có khả năng thu
Ngoài ra, nợ thuế của một loại đối tượng khác cũng có thể coi là không có khả năng thu, đó là nợ thuế các các doanh nghiệp bỏ trốn Hầu hết đây là các doanh nghiệp ma, chỉ thành lập để mua bán hóa đơn, không thực tế kinh doanh
1.1.3.2 Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế
Căn cứ vào nội dung các khoản nợ qua kê khai của người nộp thuế, qua các công tác thanh tra- kiểm tra của cơ quan thuế thì nợ thuế được chia thành:
Trang 9nợ thuế, phí thông thường; nợ phạt thuế, phí; và nợ thuế, phí truy thu phải nộpsau thanh tra kiểm tra.
- Nợ thuế, phí thông thường
Nợ trong nhóm này bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm số thuế, phí bị truy thu, bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện Thông thường trong nhóm nợ thuế, phí này cũng bao gồm nhiều khoản
nợ có tuổi và mức nợ khác nhau do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế
và các khoản nợ thuế này được theo dõi bên hồ sơ quản lý đối tượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế
- Nợ phạt thuế, phí
Theo Luật quản lý thuế hiện nay thì việc cơ quan thuế xử phạt thuế, phí đối với người nộp thuế vi phạm về thuế thì sẽ có nhiều loại vi phạm tương ứng với từng nội dung vi phạm, tương ứng với đó là các khoản nợ phạt phát sinh cho từng lần vi phạm Do vậy, trong nhóm nợ phạt thuế, phí này còn có thể chia ra thành các khoản mục nợ: nợ do phạt nộp chậm; nợ phạt thiếu thuế phải nộp; nợ phạt trốn thuế; nợ phạt vi phạm thủ tục về thuế
Việc phân loại thành các nhóm nợ nhỏ theo từng loại vi phạm như trên vừa
có tác dụng phân loại nợ, vừa có ý nghĩa thống kê vi phạm của người nộp thuế để cơ quan thuế có biện pháp quản lý hiệu quả
- Nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra
Đây là khoản nợ thuế mà cơ quan thuế sau quá trình kiểm tra, thanh tra đã phát hiện thêm số thuế phải nộp mà đơn vị bỏ sót ngoài sổ sách, không kê khai hoặc khai không chính xác ở tất cả các loại hồ sơ khai thuế trong năm tính thuế, ở thời điểm cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quy
Trang 10định số thuế này đã phải nộp vào NSNN nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc
cố tình đã kê khai sai để trốn thuế Số thuế này thường được thực hiện trên các biên bản kiểm tra, thanh tra và được các đoàn kiểm tra, thanh tra chốt lại
ở thời điểm 31/12 hàng năm để thể hiện tình hình thực hiện nghĩa vụ với NSNN của người nộp thuế
Việc thống kê, phân loại nhóm nợ này không phải là chính xác tuyệt đối bởi trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan thuế hàng năm thì không phải tất cả các đối tượng nộp thuế đều được thanh tra, kiểm tra Do vậy, số nợ thuộc nhóm nợ này chỉ phản ánh được số thuế phát hiện thêm đượccoi là nợ thuế của những người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên việc phân loại này cũng có ý nghĩa quan trọng giúp cơ quan thuế có những biện pháp quản lý thích hợp với nhóm nợ này đồng thời cũng giúp cơ quan thuế đánh giá được các mức độ vi phạm pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế trong từng thời kì cụ thể
1.1.3.3 Căn cứ vào thời gian nợ
- Nợ trong hạn
Nợ thuộc nhóm này bao gồm các khoản nợ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩuvẫn còn trong thời hạn nộp thuế Bên cạnh đó, còn có nợ thuế trong hạn do được gia hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật Ngoài ra nhằm thực hiện các biện pháp khuyến khích xuất khẩu thì thuế xuất khẩu hoặc nhập khẩu thường được cơ quan quản lý cho phép nộp chậm sau khi khai báo với cơ quan hải quan tại cửa khẩu, do đó các khoản này thường chưa được tính phạt nộp chậm mà phải được theo dõi như là các khoản nợ trong hạn nộp
- Nợ quá hạn
Ở đây nợ được phân loại như các khoản nợ thông thường theo tiêu thức phân loại theo khả năng thu hồi nợ Có nghĩa là những khoản nợ đến hạn trả
Trang 11theo quy định của pháp luật hoặc theo thông báo, được ghi trên quyết định của cơ quan thuế đến hạn nộp mà chưa nộp thì được coi là nợ thuế Theo tiêu thức phân loại theo thời gian nợ thì sẽ được coi là nợ quá hạn Tùy vào từng thời kì kinh tế mà người ta chia thành các khoản nợ nhỏ theo mức nợ, nhóm
nợ khác nhau để có biện pháp quản lý phù hợp
1.1.3.4 Căn cứ vào đối tượng nợ
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang ngày càng phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế góp phần đa dạng hóa nền kinh tế, thúc đẩy quá trình cạnh tranh và là động lực phát triển đất nước.Tuy nhiên về mặt quản lý của các cơ quan chức năng thì việc có nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh tế sẽ có nhiều khó khăn phức tạp
Vì vậy, căn cứ vào đối tượng nợ thuế thì người ta có thể chia thành các nhóm nợ khác nhau như sau:
- Nợ thuế của doanh nghiệp Nhà Nước
- Nợ thuế của doanh nghiệp dân doanh
- Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
- Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể
- Nợ thuế thu nhập của cá nhân
- Nợ thuế của các đối tượng khác
Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ nợ thuế của từng loại hình người nộp thuế.Để từ đó có biện pháp, chính sách khuyến khích các loại hình doanh nghiệp phát triển đồng thời nghiên cứu những bất cập của nhóm nợ khác để có phương pháp quản lý hoặc xử lý phù hợp
1.1.3.5 Căn cứ vào tính chất nợ
- Nợ chờ xử lý
Trang 12Nợ chờ xử lý là căn cứ vào tính chất của khoản nợ và áp dụng đối với đối tượng nộp thuế đang tồn tại để phân loại Các khoản nợ thuộc các trường hợp được đưa vào nhóm nợ chờ xử lý để theo dõi thường bao gồm:
Thứ nhất, nợ đang chờ điều chỉnh: là số tiền nợ thuế của người nợ thuế do người nợ thuế hoặc cơ quan thuế có sai sót khi kê khai thuế, tính thuế đang làm thủ tục để điều chỉnh lại hoặc do tạm tính số thuế phải nộp cao hơn số phát sinh Tức là, số tiền nợ do người nộp thuế đã kê khai số thuế tạm nộp hàng kỳ theo quy định nhưng thực tế thuế phát sinh phải nộp thấp hơn so với
số thuế đã kê khai tạm nộp, đang làm thủ tục điều chỉnh lại Ngoài ra, trong nhóm này còn có số tiền nợ do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc, tiền thuế đã nộp vào tài khoản thu NSNN nhưng do chứng từ luân chuyển chưa kịp thời hoặc thất lạc nên trên sổ thuế vẫn ghi nợ
Thứ hai, nợ đang xử lý miễn, giảm, xóa nợ: là số tiền nợ thuế của người nợthuế đang trong thời gian làm thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý miễn, giảm, xóa nợ theo quy định của pháp luật về thuế; cá nhân được cơ quan phápluật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản
để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ; nợ của người nợ thuế bị tuyên bố phá sản
đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt Khi người nộp thuế đang có nợ thuế do đến kỳ phải thực hiện kê khai đúng hạn nhưng theo quy định của pháp luật về thuế họ sẽ được miễn, giảm hoặc được xử lý cho ghi thu, ghi chi và đang làm thủ tục thì tạm thời đưa vào nhóm nợ chờ xử lý này để theo dõi chứ không áp dụng các biện pháp cưỡng chế thu nợ
Thứ ba, theo quy định của pháp luật về thuế và xử lý khiếu nại tố cáo thì trong quá trình khiếu nại khi cơ quan có thẩm quyền chưa đưa ra quyết định
xử lý, người nộp thuế vẫn phải nộp các khoản thuế vào NSNN Do đó, phát
Trang 13sinh thêm khoản nợ chờ xử lý do khiếu nại của người nộp thuế, xử lý thoái trảtiền thuế khi có quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền thì nợ này được đưa vào một trong hai nhóm nợ có khả năng thu hoặc nợ không có khả năng thu.
Thứ tư, nợ đang được khoanh nợ, giãn nợ là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đã được xử lý cho khoanh nợ, giãn nợ hoặc đang trong thời hạn làm các thủ tục tại cơ quan thuế đã được xử lý giãn nợ theo quy định
- Nợ thông thường
Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vào NSNN nhưng đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưa nộp vào NSNN và không thuộc các trường hợp thuộc nhóm nợ chờ xử lý nêu trên
- Nợ khó thu
Tương tự cách phân loại vào khả năng thu hồi nợ của đối tượng nợ thì nợ khó thu bao gồm nợ của các đối tượng giải thể, phá sản hoặc đang trong giai đoạn thực hiện các thủ tục giải thể, phá sản để giải quyết nợ theo trình tự của thủ tục giải thể, phá sản doanh nghiệp; hoặc nợ của đối tượng bỏ trốn, mất tích; nợ của đối tượng bị khởi tố là số tiền nợ của đối tượng nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế, đang thi hành án, đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật
Đối với những người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì việc thu nợ sẽ gặpnhiều khó khăn, người nộp thuế thường không có tiền trả nợ thuế hoặc không tìm được chủ doanh nghiệp, lúc này cơ quan thuế sẽ phải phụ thuộc vào kết quả xử lý của cơ quan có thẩm quyền khác, do đó sẽ không chủ động được trong việc đưa ra các biện pháp thu nợ kịp thời Chính vì vậy, việc phân loại các nhóm nợ này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý nợ đối với những trường hợp người nộp thuế trong tình trạng này
Trang 141.1.3.6 Căn cứ vào sắc thuế
Căn cứ vào tiêu thức này, nợ thuế được phân chia theo sắc thuế như: Nợ thuếGTGT, nợ thuế TTĐB, nợ thuế xuất khẩu, nợ thuế nhập khẩu, nợ thuế TNDN,
nợ thuế TNCN
Cách phân loại này, cho biết sắc thuế nào có số nợ cao, sắc thuế nào có số nợthấp Qua đó, tìm hiểu những quy đinh pháp lý và thủ tục hành chính thu nộpsắc thuế đó đã phù hợp hay chưa làm cơ sở hoàn thiện luật thuế và quản lýthuế
1.1.4. Ảnh hưởng của việc nợ thuế.
Có thể xem xét ảnh hưởng của việc nợ thuế dưới những khía cạchdưới đây:
Đối với việc chấp hành pháp luật thuế
Nợ thuế có thể được xem như một tiêu chí đánh giá ý thức chấphành nghĩa vụ nộp thuế của NNT có tốt hay không Thông qua việcxem xét tình hình nợ thuế của một chủ thể kinh tế thì có thể thấyđược ý thức tuân thủ pháp luật thuế của chủ thể đó Nếu chủ thểkinh doanh có ý thức tốt trong thực hiện nghĩa vụ thuế thể hiện quaviệc nộp thuế đúng hạn, tình trạng nợ thuế ít khi xảy ra Như vậy,dựa vào tình trạng nợ thuế mà có thể đánh giá được việc chấp hànhpháp luật thuế của NNT tốt hay chưa tốt để từ đó có thể đề ra nhữngbiện pháp xử lý phù hợp
Đối với nguồn thu ngân sách
Việc nợ đọng thuế kéo dài của các đơn vị, DN, hộ kinh doanh đãgây ảnh hưởng rất lớn tới việc hoạt động thu ngân sách Một thựctrạng thường xuyên xảy ra là các chủ thể kinh tế luôn tìm mọi cáchchiếm dụng tiền thuế, trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thuế và nhất làtình trạng chây ỳ của một số đối tượng nợ tiền thuế
Những tồn đọng kéo dài trong việc thu hồi nợ thuế đã trở thành vấn
đề cấp thiết cần giải quyết trong công tác thực hiện tăng số thu hàng
Trang 15năm của toàn ngành thuế cả nước Chỉ có hạn chế nợ thuế thì số thuvào ngân sách mới có thể đảm bảo đáp ứng số thu cho nhu cầu chitiêu công Cùng với những biện pháp mà ngành thuế sẽ thực hiện đểthu hồi nợ thuế, vấn đề cốt lõi nhất vẫn là ý thức của DN và NNTtrong việc thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi nộp thuế cho Nhà nước.
Đối với mục tiêu công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế
Mỗi chủ thể kinh tế có thực hiện hoạt động kinh doanh thì đều cótrách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế của mình.Ai cũng bình đẳngnhư ai và có trách nhiệm nộp đủ số thuế vào NSNN một cách đúnghạn
1.2. Quản lý nợ thuế và vai trò của quản lý nợ thuế
1.2.1 Khái niệm quản lý nợ thuế
Quản lý nợ thuế: Là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế
và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện cácbiện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ của NNT
1.2.1. Nội dung và vai trò của quản lý nợ thuế
1.2.1.1. Nội dung của quản lý nợ thuếMục tiêu cuối cùng của quản lý nợ thuế là đảm bảo thu đủ số thuế phảinộp của NNT vào NSNN theo quy định của pháp luật Để đạt được mụctiêu này, công tác quản lý nợ thuế phải thực hiện các nội dung cơ bảnsau:
− Thống kê và nắm bắt đầy đủ tình hình nợ thuế của NNT, số thuế phảinộp, số thuế đã nộp của NNT
− Phân tích và đánh giá thực trạng nợ thuế thông qua việc phân loại nợthuế, phân tích các nguyên nhân nợ thuế
− Thực hiện các biện pháp nhắc nhở, đôn đốc nộp tiền thuế và các khoảnthu khác do cơ quan thuế quản lý
1.2.1.2. Vai trò của công tác quản lý nợ thuếQuản lý nợ là khâu tiếp theo của quá trình quản lý kê khai và tínhthuế Quản lý nợ có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế,
cụ thể là:
Trang 16Thứ nhất, quản lý nợ thuế để quản lý, theo dõi tình hình thực hiện
nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế nộp cáckhoản thuế đầy đủ, kịp thời vào NSNN; đảm bảo công bằng xã hộikhi các cơ sở kinh doanh cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì phải nộpvào NSNN đúng hạn
Thứ hai, quản lý nợ thuế để đảm bảo quản lý tất cả các khoản thu
của Nhà nước, chống thất thoát NSNN Quản lý nợ thuế đảm bảocác chính sách thuế được thực hiện đúng và triệt để thông qua việc
cơ quan thuế có các tác động, can thiệp kịp thời và xử lý nghiêm cáctrường hợp có hành vi vi phạm thời hạn nộp thuế nhằm nâng cao ýthức tuân thủ của người nộp thuế
Thứ ba, việc quản lý nợ thuế để đảm bảo cơ quan thuế có biện pháp
thu nợ phù hợp, hiệu quả; mặt khác quản lý nợ là một thước đo đểđánh giá hiệu quả của công tác quản lý thu thuế, góp phần nâng caohiệu quả của các chức năng khác như: Thanh tra, kiểm tra chốngthất thu thuế
2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƯỠNG CHẾ THUẾ
2.1. Khái niệm cưỡng chế thuế
Nếu đến thời hạn quy định được ghi trong thông báo nợ thuế hoặc trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế nhưng cá nhânhoặc tổ chức vi phạm về thuế không tự nguyện chấp hành quyết định của cơ quan thuế thì bị bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế bằng các biện pháp cưỡng chế thuế
Cưỡng chế thuế là việc cơ quan thuế và các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng các biện pháp buộc người nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ thuế
Để công tác cưỡng chế thuế đạt hiệu quả tối đa và chi phí cưỡng chế
là tối thiểu thì thông thường việc cưỡng chế thuế chỉ được thực hiện sau khi cơ quan thuế đã áp dụng đầy đủ các biện pháp quản lý đôn đốc thu nợ của mình nhưng vẫn không thu đủ tiền nộp vào NSNN
Trang 17Vì vậy, để đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế thì cưỡng chế thuế được coi là công cụ bắt buộc để nâng cao hiệu lực của pháp luật thuế và để góp phần chống thất thu NSNN.
2.2. Nội dung và vai trò của cưỡng chế thuế
2.2.1. Nội dung của cưỡng chế thuếCưỡng chế thuế là một trong các công tác quan trọng áp dụng đốivới những người nợ thuế không tự nguyện chấp hành quyết định của
cơ quan thuế nhằm mục đích đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền vàoNSNN Do vậy, công tác cưỡng chế thuế cần tuân thủ theo nội dungsau:
Thông báo cho NNT biết trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ nộpthuế và những hậu quả có thể phải chịu nếu không thực hiện nghĩa
Thứ nhất, cưỡng chế thuế đảm bảo thực hiện nghiêm túc pháp luật
thuế, chống thất thu thuế có hiệu quả Bằng các hình thức và biện pháp phù hợp tác động đến lợi ích của người nộp thuế buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà Nước, không để xảy ra tình trạng cố tình dây dưa, chây ỳ không nộp thuế, hoạt động cưỡng chế thuế đảm bảo thực hiện nghiêm pháp luật thuế Khi các khoản thuế
và thu khác thuộc Ngân sách Nhà Nước được thu nộp vào NSNN nghĩa là công tác cưỡng chế thuế đã góp phần chống thất thu thuế cho NSNN
Trang 18Thứ hai, cưỡng chế thuế đóng vai trò cảnh báo qua đó thúc đẩy sự
tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế Việc cưỡng chế thuế thành công đối với những đối tượng cố tình chây ỳ không thực hiện nghĩa
vụ thuế sẽ phát đi một tín hiệu cảnh báo với chính những đối tượng này rằng, trong tương lai ý đồ cố tình không tuân thủ của họ sẽ không thực hiện được và còn bị thiệt hại hơn là tuân thủ tự giác Đồng thời, việc cưỡng chế thuế có hiệu quả cũng phát đi một tín hiệu cho những người nộp thuế khác biết về khả năng không thành công của sự cố tình không tuân thủ.Qua đó, cưỡng chế thuế thúc đẩy
sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế
Thứ ba, cưỡng chế thuế đảm bảo tính công bằng trong thực thi pháp
luật thuế.Nếu hai người nộp thuế ở cùng vào một điều kiện và hoàn cảnh như nhau nên số thuế phải nộp của họ là như nhau thì điều này phản ánh phần nào tính công bằng của pháp luật thuế một quốc gia.Tuy nhiên, khi số thuế phải nộp của người này được nộp vào NSNN còn của người khác thì lại không được nộp vào NSNN thì nghĩa vụ phải nộp như nhau trở nên vô nghĩa.Chỉ khi nào số thuế phải nộp như nhau đó đều thực sự được nộp vào NSNN thì mới đảmbảo tính công bằng thực sự của pháp luật thuế.Công tác cưỡng chế thuế có hiệu quả đảm bảo cho sự công bằng đầy đủ này được thực hiện bằng cách buộc những người có nghĩa vụ thuế phải thực hiện nghĩa vụ đó, nếu không sẽ chịu sự trừng phạt của pháp luật
3. DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH ĐỐI VỚI KINH
TẾ, XÃ HỘI
3.1. Khái niệm về doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trang 19- Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là môt bộ phận của nền kinh tế, lấy sở hữu tư nhân làm nền tảng, được tồn tại lâu dài, được bình đẳng trước pháp luật và có tính sinh lợi hợp pháp, chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật
Xuất phát từ hình thức sở hữu của DNNQD, Nhà nước không cấp vốn hoạt động cũng như không tái cấp vốn mà vốn hoạt động của DNNQD
là vốn do tư nhân tự bỏ ra hay một nhóm các thành viên là các tổ chức,
cá nhân góp lại Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật (được quy định trong luật doanh nghiệp) Mặt khác, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, DNNQD phải chịu trách nhiệm hữu hạn, vô hạn hay hỗn hợp cả vô hạn lẫn hữu hạn; điều đó tùy thuộc vào đặc trưng của từng loại hình sản xuất kinh doanh của DNNQD mà các cá nhân, tổchức tham gia trong đó
3.2. Phân loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- Nếu căn cứ vào mức độ trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì DNNQD bao gồm: các doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn ( công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần…), các doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn ( doanh nghiệp tư nhân…), các doanh nghiệp chịu trách nhiệm hỗn hợp ( công ty hợp vốn đơn giản là công ty trong đó có một thành viên nhận vốn chịu trách nhiệm vô hạn còn các thành viên góp vốn khác chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn góp
mà thôi
- Nếu căn cứ vào tính chất sở hữu vốn thì DNNQD bao gồm: doanh nghiệp sở hữu một chủ ( doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
Trang 20hữu hạn một thành viên), sở hữu nhiều chủ (công ty cổ phần, công ty TNHH 2 thành viên trở lên…)
Tuy nhiên, dù phân loại theo hình thức nào thì DNNQD cũng bao gồm các loại hình sau: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, nhóm công ty, công ty hợp danh
3.3. Đặc điểm của DNNQD ở Việt Nam
Tuy đa dạng về hình thức tổ chức kinh tế nhưng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có một số đặc điểm chung cơ bản sau:
Thứ nhất, các DNNQD có đặc điểm sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
Do gắn với sở hữu tư nhân nên thành phần kinh tế này gắn liền vớilợi ích cá nhân, đây là động lực thúc đẩy xã hội phát triển
Quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp không thuộc về nhà nước
mà thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp Do đặc điểm chung của cácchủ sở hữu đều hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên tình trạng trốn thuế, tránh thuế, nợ đọng thuế cũng xảy ra nhiều ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Thứ 2: về số lượng doanh nghiệp và phạm vi hoạt động.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp tuân theo nhu cầu, điều kiện của thị trường, không có định mức quy mô hoạtđộng nên số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất lớn và phân
bổ trên hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh với rất nhiều loại hình Với số lượng doanh nghiệp lớn và phạm vi hoạt động rộng đây cũng là đặc điểm gây không ít khó khăn cho công tác quản lý thuế, đặc biệt là công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế
Thứ 3: về trình độ quản lý, năng lực chuyên môn của DN NQD
Xã hội ngày một phát triển, do vậy trình độ, năng lực quản lý, chuyên môn ngày càng được nâng cao do có sự đào tạo bài bản Nhưng mặt bằng chung cho thấy phần lớn ở các DN NQD trình độ
Trang 21quản lý cán bộ, năng lực chuyên môn của các nhân viên có sự yếu hơn so với khối DN nhà nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài Điều này có thể thấy được từ việc yêu cầu đối với các ứng viên khi vào tuyển dụng nhân viên cho DN.
Thứ tư: về ý thức chấp hành pháp luật, đặc biệt là pháp luật Thuế.
Đặc điểm này phụ thuộc khá nhiều vào trình độ năng lực quản lý cũng như chuyên môn ở các DN Sự hiểu biết không đầy đủ dễ dẫn đến việc sai sót hoặc cố tình không thực hiện đúng quy định pháp luật
Với những đặc điểm trên, DN NQD mang lại nhiều khó khăn hơn
là thuận lợi trong quá trình quản lý thuế, đặc biệt là công tác quản
lý nợ và cưỡng chế thuế
3.4. Vai trò của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DN NQD có thể kinh doanh trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế được pháp luật cho phép như sản xuất, chế biến, gia công, thương mại, vận chuyển, du lịch,… trừ một số ngành mà nhà nước giữ độc quyền để đảm báo Quốc phòng, An ninh và ổn định chính trị đất nước
Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự hình thành và phát triển của các DN NQD có những đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của nền kinh tế Phát triển các DN NQD
có những đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của nền kinh tế Phát triển các DN NQD là giải pháp tạo ra thành quả tăng trưởng kinh tế chung, đổi mới bộ mặt kinh tế, xã hội, tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, góp phần nâng cao tổng thu nhập quốc nội, cải thiện đời sống nhân dân Với quy mô, loại hình doanh nghiệp đa dạng, khối DN NQD cũng là nơi tạo ra nhiều công ăn việc làm, tạo ra thu nhập cho người lao động, giúp giải quyết vấn
Trang 22đề lao động Theo chuyên đề thống kê sự phát triển của DN Việt Nam giai đoạn 2006-2011 cho thấy: thời điểm 31/12/2011 số lượng lao động làm việc trong doanh nghiệp là 10,9 triệu người, trong đó số lượng lao động của khối DN NQD là 6,7 triệu người, chiếm gần 61,3% số lượng lao động ở các DN.
Sự cho phép thành lập các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân cũng góp phần vào việc huy động được tối đa khả năng tiềm lực tài chính, kinh tế vào việc phát triển kinh tế, xã hội Tâm lý của phần lớn mọi người đều muốn được tự tay quản lý, sử dụng nguồnlực của mình hơn là việc giao cho người khác nắm quyền sử dụng.Điều này tạp điều kiện để các nguồn lực nhàn rỗi trong dân được huy động một cách triệt để và hiệu quả Kết quả thống kê sự phát triển doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2011 cho biết tính đến thời điểm 31/12/2011 số vốn huy động vào khu vực DN là 14.863 nghìn tỉ đồng gấp 4,4 lần so với lượng vốn thu hút vào khuvực DN năm 2006 Trong đó, riêng khối DN NQD thu hút 7.619 nghìn tỉ đồng chiếm 51,3% toàn DN và gấp 7,9 lần so với năm 2006
Sự tồn tại song song giữa các DN NQD với các DN nhà nước tạo
ra một môi trường cạnh tranh hơn, nâng cao tính năng động cho nền kinh tế Đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
4. QUY TRÌNH QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ THUẾ.
4.1. Quy trình quản lý nợ thuế
Toàn bộ nội dung và quy trình quản lý nợ thuế áp dụng cho cơ quan thuế các cấp được thể hiện khái quát qua sơ đồ sau:
Trang 23Bước 1: Lập
kế hoạch thu
nợ
- Xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý nợ năm
- Điều chỉnh chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý nợ năm
- Thực hiện chương trình chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm
Bước 2: Thực
hiện quản lý
nợ và xử lý nợ
- Phân công công chức quản lý nợ
- Phân loại nợ và lập sổ theo dõi nợ
- Thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ
- Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch thu nợ
4.2. Quy trình cưỡng chế thuế
Đối tượng bị cưỡng chế nợ thuế:
Theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam thì NNT sẽ bị ápdụng các biện pháp cưỡng chế nếu thuộc một trong những trường hợp sau:
− NNT nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế quá 90 ngày, kể từngày hết thời hạn nộp thuế, nộp tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế theo quyđịnh
− NNT nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế khi đã hết thời hạn giahạn nộp tiền thuế
− NNT còn nợ tiền thuế, tiền phạt có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn
Trang 24− Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác, người bảo lãnh nộp tiền thuếkhông chấp hành quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế theo quy địnhcủa luật QLT
− Người bảo lãnh việc nghĩa vụ nộp tiền thuế, tiền phạt thay cho NNT trongtrường hợp NNT không nộp tiền thuế vào tài khoản của NSNN hoặc trongtrường hợp phải nộp tiền thay cho NNT mà không nộp thay
− Kho bạc Nhà nước không thực hiện việc trích tài khoản của đối tượng bịcưỡng chế vào NSNN theo quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế của
cơ quan thuế
− Tổ chức, cá nhân có liên quan không chấp hành các quyết định xử lý vi phạmpháp luật về thuế của cơ quan có thẩm quyền
Trình tự áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế
Theo quy định của Luật quản lý thuế, nguyên tắc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế là phải áp dụng lần lượt các biện pháp cưỡng chế, nếu không
đủ điều kiện để áp dụng biện pháp thứ nhất thì mới áp dụng biện pháp thứ hai
và cứ như thế cho đến hết; không được tùy tiện bỏ qua biện pháp trước để tiếnhành biện pháp sau
Để thực hiện cưỡng chế thuế, cơ quan thuế hoặc cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền phải ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Ngày, tháng, năm ra quyết định; căn cứ ra quyết định cưỡng chế; họ tên, chức vụ, đơn vị người ra quyết định cưỡng chế;
họ tên, nơi cư trú, trụ sở của đối tượng bị cưỡng chế; lý do, biện pháp cưỡng chế; thời gian, địa điểm thực hiện cưỡng chế; cơ quan chủ trì thực hiện quyết định cưỡng chế; cơ quan có trách nhiệm phối hợp; chữ ký của người ra quyết định; dấu của cơ quan ra quyết định cưỡng chế
Trang 25Quyết định cưỡng chế hành chính thuế phải được gửi cho đối tượng bị cưỡng chế và tổ chức, cá nhân có liên quan trong thời hạn 05 ngày làm việc trước khi thực hiện cưỡng chế ; quyết định cưỡng chế phải được gửi cho cơ quan thuế cấp trên trực tiếp; trường hợp cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản thì quyết định phải được gửi cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thực hiện cưỡng chế trước khi thực hiện.
Quyết định cưỡng chế hành chính thuế có hiệu lực thi hành trong thời hạn
01 năm, kể từ ngày ra quyết định Trường hợp cá nhân,tổ chức bị cưỡng chế
cố tình trốn tránh, trì hoãn thi hành quyết định cưỡng chế thì thời hiệu thi hành được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh trò hoãn được chấm dứt.Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế chấm dứt hiệu lực kể từ khi tiền thuế, tiền phạt bị cưỡng chế đã được nộp đủ vào
NSNN Căn cứ đẻ chấm dứt hiệu lực của quyết định cưỡng chế thuế là chứng
từ nộp đủ tiền thuế, tiền phạt vào NSNN của người bị cưỡng chế có xác nhận của Kho bạc Nhà Nước hoặc cơ quan được pháp thu thuế, ngân hàng thương mại , tổ chức tín dụng khác trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế
Nội dung và trình tự thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế
Biện pháp 1: Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
Biện pháp này áp dụng đối với các trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có tiền gửi tại Kho bạc Nhà Nước, Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác
Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế trích tiền từ tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng khác có quyền thu thập, xác minh và yêu cầu ngân hàng, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng khác, tổ chức tài chính cung cấp các thông tin về tài khoản, số tiền hiện có
Trang 26trong tài khoản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế Đồng thời, người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm bảo mật những thông tin về tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế khi được ngân hàng, tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính khác cung cấp.
Biện pháp 2: Cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập
Sử dụng đối với trường hợp không áp dụng được hoặc đã áp dụng biện pháp trên nhưng chưa thu được hoặc thu chưa đủ số tiền trả nợ thuế Biện pháp này áp dụng đối với NNT bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế đang làm việc theo biên chế hoặc hợp đồng từ sáu tháng trở lên hoặc đang được hưởng trợ cấp hưu trí, mất sức
Tỷ lệ khấu trừ tiền lương, trợ cấp hưu trí hoặc mất sức đối với cá nhân không thấp hơn 10% và không quá 30% tổng tiền lương, trợ cấp hàng tháng của cá nhân đó; đối với những khoản thu nhập khác thì tỷ lệ khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế, nhưng không quá 50% tổng số thu nhập
Biện pháp 3: Cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kêbiên
Sử dụng đối với trường hợp không áp dụng được hoặc đã áp dụng các biệnpháp trên nhưng chưa thu được hoặc thu chưa đủ số tiền nợ thuế
Giá trị tài sản bị kê biên của đối tượng bị cưỡng chế tương đương với số tiền thuế đã ghi trong quyết định cưỡng chế và chi phí cho việc tổ chức thi hành cưỡng chế Việc kê biên tài sản phải được thông báo cho cá nhân, tổ chức bị kê biên tài sản, Ủy ban nhân dân xã nơi người đó cư trú hoặc tổ chức
có trụ sở đóng trên địa bàn hoặc cơ quan nơi người đó công tác trước khi tiến hành cưỡng chế 5 ngày, trừ trường hợp việc thông báo sẽ gây trở ngại cho việc tiến hành kê biên
Trang 27Biện pháp 4: Cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ.
Biện pháp này được áp dụng khi có đủ hai điều kiện sau đây: (i) Cơ quan quản lý thuế không áp dụng được 3 biện pháp cưỡng chế đã trình bày ở phía trên hoặc đã áp dụng nhưng chưa thu đủ số tiền nợ thuế, tiền phạt; (ii) Cơ quan quản lý thuế có căn cứ xác định bên thứ ba đang có khoản nợ hoặc giữ tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế
Biện pháp 5: Cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu
Sử dụng đối với trường hợp không áp dụng được hoặc đã áp dụng các biệnpháp trên nhưng chưa thu được hoặc chưa thu đủ số tiền nợ thuế và thực hiện đối với những người nợ thuế có hoạt động nhập khẩu hàng hóa, vật tư, thiết
bị Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi NNT có tiền thuế nợ quá hạn phải thông báo chậm nhất 5 ngày làm việc trước khi áp dụng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu
Biện pháp 6: Cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị
sử dụng
Được sử dụng đối với các trường hợp không áp dụng được hoặc đã áp dụng các biện pháp trên nhưng vẫn chưa thu được hoặc thu chưa đủ số tiền nợthuế và biện pháp này chỉ áp dụng đối với người nợ thuế đang sử dụng hóa đơn do Bộ Tài Chính phát hành hoặc hóa đơn tự in đăng ký sử dụng tại cơ quan thuế
Biện pháp 7: Thu hồi mã số thuế
Khi quyết định thành lập tổ cưỡng chế và quyết định cưỡng chế được công
bố, Bộ phận kê khai căn cứ quyết định thực hiện đóng mã số thuế và lập biên bản thu hồi mã số thuế Áp dụng lại mã số thuế khi người nợ thuế đã hoàn
Trang 28thành nghĩa vụ nộp tiền nợ thuế vào NSNN.Khi đó, cơ quan thuế lập biên bản
áp dụng lại mã số thuế cho người nợ thuế bị cưỡng chế tiếp tục sử dụng
Biện pháp 8: Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề
Sử dụng đối với các trường hợp không áp dụng được hoặc đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế trên nhưng chưa thu được hoặc chưa thu đủ số tiền nợ thuế, tiền phạt
Cơ quan thuế ban hành văn bản cưỡng chế thu hồi giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề trong thời gian không quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày xác định người nợ thuế phải
áp dụng biện pháp này
Qua việc nghiên cứu những vấn đề chung về công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế thì hành vi nợ thuế quá hạn là một hành vi vi phạm pháp luật thuế Là một trong những nguyên nhân gây thất thu cho NSNN, gây mất côngbằng xã hội, tạo tâm lý coi thường pháp luật thuế đối với những đối tượng nộp thuế Và ta cũng phân biệt được hành vi nợ thuế và hành vi trốn thuế để
NSNN Mối quan hệ này thể hiện qua một số điểm sau:
Trang 29Quản lý nợ là cơ sở để cơ quan thuế lựa chọn và thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế hiệu quả Thông qua các phương pháp phân loại nợ thì cơ quan thuế có thể xác định được những khoản nợ cần tập trung để thu nợ Đồng thời, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp cưỡng chế phù hợp với từng đối tượng nợ thuế, chẳng hạn như có những trường hợp qua phân loại nợ nhận thấy các khoản nợ thông thường chưa cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế, hoặc qua phân loại nợ xác định được những khoản nợ khó thu thì cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế như: trích tiền gửi ngân hàng, tổ chức tín dụng.Nhằm mục đích thu đủ tiền thuế vào NSNN.
Quản lý nợ thuế tốt dẫn đến việc đôn đốc thu nợ của cơ quan thuế đối với người nợ thuế phát huy hiệu quả sẽ làm cho số lượng các khoản nợ thông thường giảm Khi số lượng nợ chuyển sang nợ khó thu giảm đi nó sẽ làm cho khối lượng công việc cưỡng chế giảm, dẫn đến chi phí cưỡng chế thuế giảm Đồng thời, đạt được yêu cầu đặt ra là chi phí cưỡng chế thuế thấp nhất mà hiệu quả thu nợ lại là tối đa
Khi công tác cưỡng chế thuế được thực hiện có hiệu quả sẽ trực tiếplàm cho số nợ tiền thuế giảm và số lượng các khoản nợ đang theo dõi ở cơ quan thuế cũng sẽ giảm; tạo điều kiện cho cơ quan thuế tập trung nguồn lực vào các công tác khác như: tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, tăng cường công tác thanh tra- kiểm tra
Tóm lại, công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, bổ sung cho nhau cùng phát triển để đạt hiệu quả cao Do đó, trên thực tế việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản
lý nợ thuế cũng chính là để hoàn thiện vào nâng cao hiệu quả của công tác cưỡng chế thuế, góp phần nâng cao năng lực quản lý thuế nói chung
Trang 306. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ THUẾ ĐỐI VỚI DN NQD
Công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế trong quá trình thực hiện thường bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan nhất định
6.1 Nhóm yếu tố chủ quan
Nhóm yếu tố này chủ yếu xuất phát từ phía cơ quan quản lý thuế, cụthể như sau:
Thứ nhất, về quy trình quản lý nợ của cơ quan thuế Quy trình quản
lý nợ hợp lý hay không hợp lý sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác quản lý nợ thuế vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thao tác nghiệp vụ của cán bộ thuế
Thứ hai, các công cụ hỗ trợ quản lý thuế như hệ thống phần mềm hỗ
trợ về kê khai kế toán thuế, quản lý nợ thuế cũng là yếu tố quan trọng tác động đến công tác quản lý nợ
Thứ ba, chính sách, pháp luật là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế.Chính sách, pháp luật phải đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế Trong trường hợp người nộp thuế không có khả năng nộp thuế, nợ đọng kéo dài nhưng
cơ quan thuế vẫn phải tính phạt nộp chậm lại càng làm cho số nợ đọng tăng lên, sẽ càng làm cho việc quản lý thu nợ gặp nhiều khó khăn Khi đó việc đánh giá hiệu quả công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế lại càng không chính xác
Thứ tư, trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác quản lý nợ thuế
và cưỡng chế thuế Con người luôn là nhân tố quyết định đến mọi
sự thành bại của quản lý và đây cũng không phải là ngoại lệ
6.2 Nhóm yếu tố khách quan
Thứ nhất, tình hình kinh tế xã hội có ảnh hưởng nhất định đến công
tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế Giả sử khi tỉ lệ lạm phát tăng
Trang 31cao, Chính phủ sẽ phải thực hiện các chính sách tiền tệ thắt chặt, áp dụng mức lãi suất tín dụng cao làm cho giá cả các mặt hàng, nguyênliệu, đầu vào tăng Điều này sẽ làm cho chi phí sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp tăng dẫn đến hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp giảm nhiều và khi đó nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn không có khả năng nộp thuế đúng thời hạn hoặc cố ý chậm nộp thuế dù biết sẽ bị phạt chậm nộp từ phía cơ quan thuế.
Thứ hai, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan với cơ quan thuế
trong công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế rất quan trọng Nếu như các cơ quan chức năng không phối hợp hoặc phối hợp kémhiệu quả với cơ quan thuế để đôn đốc, cưỡng chế nợ thuế sẽ làm chocông tác thu nợ gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng đến nguồn thu
NSNN
Thứ ba, đặc điểm của nền kinh tế cũng là một yếu tố tác động đến
công tác đôn đốc thu nợ thuế và cưỡng chế thuế Theo thống kê của các nhà nghiên cứu về thuế khi nền kinh tế lạc hậu thì ý thức tuân thủ pháp lật của người nộp thuế thường không cao Do đó ý thức có tác động quan trọng đến hiệu quả của công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế Giả sử, ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế không tốt, cố tình chây ỳ không nộp thuế, hoặc trường hợp do chính sách quy định chưa rõ thì đối tượng nộp thuế sẽ lợi dụng điểm này để áp dụng tính thuế sai, khi cơ quan thuếphát hiện ra truy thu thì lại khiếu nại, cố tình không nộp
7. YÊU CẦU CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ THUẾ ĐỐI VỚI DN NQD
7.1. Yêu cầu của công tác quản lý nợ thuế
Quản lý nợ thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Trang 32Thứ nhất, trong quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng
thì yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất của công tác này là phải quản
lý đầy đủ không bỏ sót các khoản thu của NSNN Vì vậy, nếu quản
lý không chặt chẽ, không bao quát hết các khoản thu của NSNN, khi
đó sẽ gây ra khó khăn cho việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế
Thứ hai, phải đảm bảo quản lý chính xác các khoản nợ để cơ quan
thuế có các biện pháp quản lý phù hợp Để thực hiện yêu cầu này, bên cạnh việc phân loại nợ theo các tiêu thức đã trình bày ở phần trên thì các tiêu thức phân loại phải được kết hợp với nhau một cáchhợp lý; qua đó cơ quan thuế sẽ đánh giá, xem xét và đưa ra các biện pháp thu nợ phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực, trong từng thời
kỳ phát triển kinh tế xã hội
Thứ ba, phải đảm bảo thu nợ kịp thời,tránh thất thu NSNN Yêu cầu
này là yêu cầu xuyên suốt của công tác quản lý nợ và là mục tiêu của công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế trong toàn ngành nói chung và của Chi cục thuế Quận Nam Từ Liêm nói riêng
7.2. Yêu cầu của công tác cưỡng chế thuế
Công tác cưỡng chế thuế chỉ đạt được hiệu quả khi xác định đúng mục tiêu và phải đảm bảo các yêu cầu cụ thể sau:
Thứ nhất, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật
Nhà Nước Yêu cầu này đòi hỏi khi ban hành các quyết định cưỡng chế phải đảm bảo được thực hiện thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương
Thứ hai, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính hiệu quả của cơ quan
quản lý thuế.Có nghĩa là khi thực hiện một quyết định cưỡng chế thuế thì cơ quan thuế phải đảm bảo tính hiệu quả cao mà chi phí thực hiện cưỡng chế là tối thiểu Muốn thực hiện được điều này, đòi hỏi trước khi ban hành các quyết định thực hiện cưỡng chế thuế cần
Trang 33tính đến các yếu tố có thể ảnh hưởng đến công tác thực hiện cưỡng chế như thời gian, địa điểm, hình thức cưỡng chế Bên cạnh đó, cơ quan thuế cần cân nhắc kỹ lưỡng từng trường hợp nợ thuế và xác định trường hợp nào thực hiện biện pháp cưỡng chế nào là hợp lý.
Thứ ba, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính tuân thủ pháp luật của
người nộp thuế, thông qua cưỡng chế thuế góp phần nâng cao tính hiệu quả của pháp luật, đồng thời góp phần răn đe, nâng cao ý thức tuân thủ của đối tượng nộp thuế
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ ĐỐI VỚI DN NQD TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN NAM TỪ LIÊM
2.1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ
MÁY CHI CỤC THUẾ QUẬN NAM TỪ LIÊM
2.1.1. Đặc điểm kinh tế-xã hội quận Nam Từ Liêm
Vị trí địa lý:
- Trước tháng 12/2013, quận Nam Từ Liêm từng là 1 phần của quận Nam Từ Liêm Vào 27/12/2013, căn cứ theo nghị quyết 132/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính quận Nam Từ Liêm để thành lập 2 quận và 23 phường thuộc thành phố Hà Nội; chính Phủ đã ban hành nghị định thành lập quận Nam Từ Liêm thuộc vào các quận nội thành
- Chính phủ quyết nghị thành lập quận Nam Từ Liêm trên cơ sở toàn bộdiện tích tự nhiên và dân số của các xã: Mễ Trì, Mỹ Đình, Trung Văn, Tây Mỗ, Đại Mỗ; một phần diện tích tự nhiên và dân số của xã Xuân Phương (536,34 ha và 34.052 nhân khẩu phần phía Nam Quốc lộ 32); một phần diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Cầu Diễn (137,75 ha
và 23.279 nhân khẩu phần phía Nam Quốc lộ 32 và phía Đông sông Nhuệ)
Quận Nam Từ Liêm có 3.227,36 ha diện tích tự nhiên và 232.894 nhân khẩu
Quận NamTừ Liêm có 10 đơn vị hành chính (10 phường):
Phường Cầu Diễn, Phường Mỹ Đình 1, Phường Mỹ Đình 2, Phường
Mễ Trì, Phường Phú Đô, Phường Trung Văn, Phường Tây Mỗ, Phường Đại Mỗ, Phường Phương Canh, Phường Xuân Phượng
Trang 34 Các địa điểm nổi tiếng:
- Trung tâm Hội Nghị Quốc Gia, Đại lộ Thăng Long, Khu đô thị Mễ Trì Manor, Keangnam Hanoi Landmark Town, Sân vận động quốc gia
Mỹ Đình, Bảo tàng Hà Nội, Cung triển lãm Quốc Gia
- Quận Nam Từ Liêm nằm ở vị trí cửa ngõ phía Tây của thành phố HàNội, giữa các tuyến giao thông trọng điểm: Đường vành đai 3,vành đai 4 Quận Nam Từ Liêm cũng là nơi khởi đầu của Đại lộ Thăng Long nối trung tâm Hà Nội tới các huyện: Hòa Lạc, Thạch Thất, HoàiĐức, đi Hòa Bình và quốc lộ 32 đi thị xã Sơn Tây Quận này cũng nằm bên Sông Nhuệ
- Địa giới hành chính: phía bắc giáp với quận Bắc Từ Liêm, phía đông giáp với Quận Cầu Giấy, quận Thanh Xuân, phía tây giáp huyệnHoài Đức, phía nam giáp Quận Hà Đông
Về kinh tế:
Theo khảo sát cho thấy: quận Nam Từ Liêm đang là nơi có nguồn cung văn phòng mới “khổng lồ” chỉ trong khoảng 3 năm gần đây đã vươn lên thành khu vực dẫn đầu về nguồn cung
Quận Nam Từ Liêm có vị trí quan trọng trong đời sống , kinh tế, chính trị văn hóa cả nước, là vị trí thuận lợi cho các hoạt động giao thông và kinh doanh Với vị trí như vậy, Quận Nam Từ Liêm đang đứng trước những vấn đềmới đặt ra,thuận lợi và khó khăn đan xen nhau Theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô đến năm 2020 ,Quận Nam Từ Liêm nằm trong vành đai phát triển đô thị, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, các khu công nghiệp và đô thị mới từng bước được hình thành Sự biến động này
có những thuận lợi song cũng có những khó khăn
Đứng trước những khó khăn và thách thức mới ,nhưng với tinh thần đoàn kết nội bộ và có trách nhiệm trong công việc nên trong năm qua quận Nam Từ Liêm vẫn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nhiệm vụ thu ngân sách, tăng cường công tác chỉ đạo, khắc phục các tồn tại năm trước Đồng thời với sự quan tâm chỉ đạo của cục thuế Hà Nội, của Quận ỦY,
HĐND,UBND quận Nam Từ Liêm và sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban chức năng nên trong năm qua chi cục thuế đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tăng cường công tác chỉ đạo để khắc phục được những tồn tại bất cập trong thời gian qua
Trang 35Đội thu lệ phí, trước bạ và thu khác Đội tuyên truyền hỗ trợ NNT và quản lý ấn chỉ
Chi cục trưởng
Đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ Thuế Đội tổng hợp nghiệp vụ dự toán, kê khai, kế toán Thuế , tin học Đội kiểm tra Thuế Đội kiểm tra nội bộ Đội hành chính nhân sự tài vụ Đội Thuế liên phường
Các phó chi cục trưởng (4 cán bộ)
2.1.2. Tổ chức bộ máy thu thuế ở Chi cục thuế quận Nam Từ Liêm
Chi Cục Thuế quận Nam Từ Liêm được thành lập ngày 1/4/2014 căn cứtheo quyết định số 399/QĐ-BTC về việc tổ chức lại Chi cục Thuế quậnNam Từ Liêm Theo đó, chi cục thuế quận Nam Từ Liêm được chia táchthành: chi cục thuế quận Nam Từ Liêm và chi cục thuế quận Bắc TừLiêm.
Việc tổ chức quản lý của Chi cục được bố trí như sau:
+ 1 Chi cục trưởng: có nhiệm vụ lãnh đạo chung toàn Chi cục
+ 4 Chi cục phó: giúp cho Chi cục trưởng và lãnh đạo các bộ phận
Sau khi chia tách, số lượng CBCC Chi cục thuế Nam Từ Liêm là: 75 người, trong đó: Cán bộ công chức là 70 người; Lao động hợp đồng 68 là: 5 người Đến hết tháng 12/2014, Cục thuế bổ sung thêm 08 công chức và 02 hợp đồng 68 (trong đó có 01 Lãnh đạo Chi cục), có 01 công chức xin thôi việc và 02 công chức chuyển sang ngành khác Hiện tại Chi cục có 76 công chức và 07 hợp đồng
Chức năng các phòng đội:
− Đội Tuyên truyền và Hỗ trợ người nộp Thuế và quản lý ấn chỉ: Giúp Cụctrưởng Cục Thuế tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách, pháp
Trang 36luật Thuế, hỗ trợ người nộp Thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý, quản lý ấnchỉ Thuế trong toàn Cục Thuế.
− Đội tổng hợp nghiệp vụ dự toán, kê khai, kế toán Thuế và tin học: Giúp Cụctrưởng Cục Thuế trong việc chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý Thuế,chính sách, pháp luật Thuế; xây dựng và thực hiện dự toán thu ngân sách nhànước; tổ chức thực hiện công tác đăng ký Thuế, xử lý hồ sơ khai Thuế, kếtoán Thuế, thống kê Thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý; tổ chức quản lý
và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học ngành Thuế, triển khai các phầnmềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý Thuế và hỗ trợ hướng dẫn,đào tạo cán bộ Thuế trong việc sử dụng ứng dụng tin học trong công tác quảnlý
− Đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ Thuế: Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chứcthực hiện công tác quản lý nợ Thuế, đôn đốc thu tiền Thuế nợ và cưỡng chếthu tiền Thuế nợ, tiền phạt trong phạm vi quản lý
− Đội kiểm tra Thuế: Giúp Cục trưởng Cục Thuế kiểm tra, giám sát kê khaiThuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với người nộp Thuế thuộcphạm vi quản lý tực tiếp của Cục Thuế
− Đội kiểm tra nội bộ: Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức chỉ đạo, triển khaithực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơquan Thuế, công chức Thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm cả khiếu nại cácquyết định xử lý về Thuế của cơ quan Thuế và khiếu nại liên quan trong nội
bộ cơ quan Thuế, công chức Thuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công
vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan Thuế, công chức Thuế trong phạm viquản lý của Cục trưởng Cục Thuế
− Đội hành chính nhân sự tài vụ: Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức chỉ đạo,triển khai thực hiện các công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản
lý tài chính, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quản trị
Trang 37− Đội thu lệ phí trước bạ và thu khác:Giúp Chi cục trưởng Chi cục Thuế quản lýthu lệ phí trước bạ, Thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền cấp quyền sử dụngđất, các khoản đấu giá về đất, tài sản, tiền thuê đất, Thuế tài sản (sau này),phí, lệ phí và các khoản thu khác (sau đây gọi chung là các khoản thu về đấtbao gồm cả Thuế TNCN đối với chuyển nhượng bất động sản, nhận thừa kế,quà tặng, lệ phí trước bạ và thu khác) phát sinh trên địa bàn thuộc phạm viChi cục Thuế quản lý
- Đội Thuế liên phường: Giúp Chi cục trưởng quản lý thu thuế các tổ chức, cá nhân nộp thuế tại Chi cục thuế quận Nam Từ Liêm theo phường được phân công (bao gồm các hộ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ, kể cả hộ nộp thuế thu nhập cá nhân; thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên )
Nhiệm vụ cụ thể của đội quản lý nợ và cưỡng chế thuế:
+ Xây dựng chương trình, kế hoạch quản lý nợ thuế và cưỡng chế thu tiền thuế
nợ, tiền phạt trên địa bàn
+ Thực hiện các thủ tục thu tiền thuế nợ, tiền phạt; theo dõi, đôn đốc, tổng hợpkết quả thu hồi tiền thuế nợ, tiền phạt vào ngân sách nhà nước; thực hiện xácnhận tình trạng nợ ngân sách nhà nước
+ Theo dõi tình hình kê khai, nộp thuế của người nộp thuế, phân loại nợ thuếtheo quy định; phân tích tình trạng nợ thuế của từng người nộp thuế trên địabàn
+ Thu thập thông tin về người nộp thuế còn nợ tiền thuế; đề xuất biện pháp đônđốc thu nợ và cưỡng chế nợ tiền thuế, tiền phạt; cung cấp thông tin về tìnhhình nợ thuế theo yêu cầu của các cơ quan pháp luật và theo chỉ đạo của lãnhđạo Chi cục Thuế; cung cấp danh sách các tổ chức và cá nhân chây ỳ nợ thuế
để thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng;
+ Tham mưu, đề xuất xử lý các hồ sơ xin khoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ thuế, tiềnphạt và giải quyết các hồ sơ xử lý khác về nợ thuế; thẩm định trình cấp cóthẩm quyền giải quyết hoặc quyết định theo thẩm quyền việc khoanh nợ, giãn
nợ, xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
Trang 38+ Theo dõi kết quả xử lý nợ của cơ quan thuế cấp trên và thực hiện các quyếtđịnh xử lý nợ đối với người nộp thuế.
+ Thẩm định và trình cấp có thẩm quyền xử lý các khoản nợ không có khả năngthu hồi theo quy định; hướng dẫn người nộp thuế lập hồ sơ xử lý nợ thuế.+ Lập hồ sơ đề nghị cưỡng chế và đề xuất biện pháp thực hiện cưỡng chế thutiền thuế nợ trình Lãnh đạo Chi cục Thuế ra quyết định và thực hiện cưỡngchế theo thẩm quyền hoặc tham mưu, phối hợp với các cơ quan cóthẩmquyền, thực hiện cưỡng chế thu tiền thuế nợ theo quy định
+ Tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợthuế thuộc phạm vi Chi cục quản lý; đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quảcông tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
+ Tổ chức công tác bảo quản, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ và các văn bản pháp quycủa Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của Đội
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chi cục trưởng Chi cục Thuế giao
2.1.3 Tình hình thực hiện chỉ tiêu thu ngân sách của Chi cục thuế quận Nam Từ Liêm.
Nền kinh tế khó khăn trong những năm gần đây đã ảnh hưởng ít nhiều đếncông tác thuế trên cả nước nói chung và trên địa bàn quận Nam Từ Liêm nóiriêng Tuy công tác thu thuế tại Chi cục thuế quận Nam Từ Liêm trong nhữngnăm vừa qua tuy chưa hoàn thành dự toán pháp lệnh nhưng đã được xem làmột kết quả đáng ghi nhận của Chi cục trước những khó khăn chung
Công tác thu NSNN của Chi cục thuế quận Nam Từ Liêm thể hiện qua bảng sau đây:
Trang 39Bảng 2.1:Tình hình thực hiện thu NSNN giai đoạn năm 2012- 2014
Đơn vị tiền: triệu đồng
Kết quả thu ngân sách Nhà nước do Chi cục quản lý trên địa bàn quận
Nam Từ Liêm
(Đơn vị tính: triệu đồng)
NĂM 2012
THỰCHIỆNNĂM 2013
THỰCHIỆNNĂM 2014
Khái quát năm 2012:
-Năm 2012 Chi cục thuế quận Nam Từ Liêm được giao nhiệm vụ thu theo chỉ tiêu pháp lệnh là 1.660 tỷ 104 triệu
đồng (không kể thu tiền SDĐ thì DTPL là 847 tỷ 104 triệu
đồng, trong đó Ngoài quốc doanh là 523 tỷ đồng), nhiệm
vụ thu theo chỉ tiêu phấn đấu là 1.772 tỷ 640 triệu đồng
(không kể thu tiền SDĐ thì DTPĐ là 918 tỷ 960 triệu đồng, trong đó Ngoài quốc doanh là 533 tỷ đồng)
-Luỹ kế đến hết ngày 31/12/2012, Chi cục thuế quản lý thuđược 1.155 tỷ 650 triệu đồng, đạt 70% DTPL, đạt 65% DTPĐ năm 2012 và giảm 18% so với cùng kỳ năm 2011
Trang 40-Không kể số thu tiền sử dụng đất thì số thu Chi cục thuế quản lý năm 2012 thu được 559 tỷ 288triệu đồng, đạt 66% DTPL, đạt 61% DTPĐ năm 2012 và giảm 14% so với cùng kỳ năm 2011
Kết quả chi tiết thực hiện các khoản thu, sắc thuế chủ yếu như sau:
1- Thuế CTN-DV-NQD:Thực hiện được 302 tỷ 778 triệu đồng, đạt 58%
DTPL, đạt 57% DTPĐ năm 2012 và giảm 3% so với cùng kỳ năm 2011
Trong đó, Môn bài: Thực hiện được 8 tỷ 448 triệu đồng, đạt 131% DTPL, đạt 128% DTPĐ năm 2012 và tăng 3% so với cùng kỳ năm 2011
2- Phí - Lệ phí:Thực hiện được 4 tỷ 117 triệu đồng, đạt 112% DTPL,
đạt 102% DTPĐ năm 2012 và giảm 15% so với cùng kỳ năm 2011
3- Tiền thuê đất: Thực hiện được 70 tỷ 309 triệu đồng, đạt 184% so
Khái quát năm 2013:
Năm 2013 Chi cục thuế quận Nam Từ Liêm được giao nhiệm vụ thu theo chỉ tiêu pháp lệnh là 1.295.682 triệu đồng (không kể thu tiền SDĐ là 782.082 triệu đồng, trong đó Ngoài quốc doanh là 504.390 triệu đồng), thu theo chỉ tiêu phấn đấu là 1.478.682 triệu đồng (không kể thu tiền SDĐ là 782.082 triệu đồng)