Với tư cách là một sinh viên, một công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, qua bài tiểu luận này, em muốn tìm hiểu kĩ hơn về Triết học Mác- Lênin, cụ thể đó là mối quan hệ b
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
-
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
Đề 03: Phân Tích Quan Điểm Của Triết Học Mác - Lênin Về Mối Quan Hệ
Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức Từ quan điểm này, hãy giải quyết vấn đề về mâu thuẫn giữa kiếm tiền và đi học của sinh viên Việt Nam hiện nay.
GVHD: TS. Nguyễn Thị Lê Thư
Họ và tên: Vũ Thu Hằng
Mã sinh viên: 11216746
Lớp: Kinh Tế Phát Triển- 63C (3 tín)
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là làm sao để cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, theo đúng như những gì mà Bác Hồ luôn mong mỏi:
“ Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.” Bởi vậy, Đảng và Chính phủ luôn đặt nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế lên hàng đầu. Tuy nhiên, làm thế nào để thực hiện tốt nhiệm vụ đó thì Đảng ta đã chỉ ra rằng phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về mối quan hệ biện chứng giữa ý thức và vật chất luôn là cơ sở, là phương hướng cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội
Với tư cách là một sinh viên, một công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, qua bài tiểu luận này, em muốn tìm hiểu kĩ hơn về Triết học Mác-
Lênin, cụ thể đó là mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức, và vận dụng mối quan hệ này giải quyết vấn đề mâu thuẫn giữa kiếm tiền và đi học của sinh viên Việt Nam hiện nay.Liệu việc đi làm thêm có phải là giải pháp tối ưu nhất cho sinh viên và họ nhận được gì, mất gì khi cần bằng giữa kiếm tiền và học tập
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự góp ý quý báu của cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
I-Vật chất và ý thức 4
1-Quan niệm về vật chất của Lênin 4
2-Quan niệm của triết học Mác-Lê-nin về ý thức 5
II-Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 6
1-Vai trò của vật chất với ý thức 6
2-Vai trò của ý thức với vật chất 6
III- Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong cuộc sống hiện nay 8
1-Nguyên nhân sinh viên lựa chọn đi làm thêm 8
2-Mặt tích cực của việc ưu tiên lựa chọn đi làm thêm 8
3-Mặt tiêu cực của việc ưu tiên lựa chọn đi làm thêm 8
4-Các giải pháp giúp cân bằng giữa việc học và đi làm thêm 10
Giải pháp 1: Giải pháp về vấn đề tập trung để học tập 10
Giải pháp 2: Giải pháp về vấn đề cải thiện sức khỏe cho sinh viên đi làm thêm 11
Giải pháp 3: Giải pháp về vấn đề thời gian cho sinh viên làm thêm 12
Giải pháp 4: Giải pháp cho vấn đề tìm công việc làm thêm phù hợp với ngành 12
Giải pháp 5: Giải pháp về vấn đề xây dựng Thời khóa biểu học tập cụ thể 13
Giải pháp 6: Giải pháp về vấn đề xác định phương pháp học tập phù hợp 13
Giải pháp 7: Giải pháp về vấn đề tham gia vào các nhóm học 15
5-Liên hệ bản thân 15
Trang 4I-Vật chất và ý thức
1-Quan niệm về vật chất của Lênin
V.I.Lênin định nghĩa “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng
ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Như vây, theo Lê-nin, vật chất là một phạm trù triết học ( khái niệm rộng nhất) để phân biệt nó với vật chất trong các khoa học cụ thể, vật chất thông thường hàng ngày, với những biểu hiện cụ thể của vật chất- có giới hạn, có sinh ra và có mất đi; còn vật chất theo quan niệm triết học là không sinh ra và mất đi, vô tận, vô hạn. Vật
cụ thể là vật chất, nhưng vật chất đâu chỉ là những vật cụ thể; vật cụ thể là hữu hình nhưng vật chất đâu chỉ là nhưng vật hữu hình; không vì phát hiện ra một dạng mới của vật chất mà nó tăng lên; ngược lại, không vì một hình thức cụ thể của vật chất mất đi mà nó giảm đi. Nó vô tận, vô hạn không được sinh ra và không mất đi, luôn luôn vận động biến đội chuyển hóa không ngừng từ dạng này sang dạng khác. Từ thế giới vĩ mô như các giải ngân hà, các thiên thể, cho đến các vật thể, đến thế giới
vi mô như phân tử, nguyên tử, điện tử, hạt nhân, hạt cơ bản, hạt quark, Higg, hạt của chúa,…; từ thế giới vô cơ cho đến thế giới hữu cơ, đến các sinh thể, các cơ quan, mô, tế bào, AND, ARN, protein,… đều là những dạng cụ thể của vật chất. Ngay ý thức cũng chỉ là một thuộc tính của một vật chất sống có tổ chức cao, đó là
bộ óc con người
Mặt khác, vật chất là thực tại khách qun, tức tồn tại khách quan, ở bên ngoài và
độc lập với ý thức con người và loài người. Thế giới vật chất tồn tại dưới dạng các
sự vật hiện tượng cụ thể vô cùng phong phú đa dạng,, nhưng chúng đều có một thuộc tính chung: tồn tại khách quan, ở bên ngoài và độc lập với ý thức con người
và loài người. Đó là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất mà chủ nghĩa duy vật
Trang 5thừa nhận. Nhờ có thuộc tính này đã giúp chúng ta nhận thức rõ hơn đâu là vật chất, dưới dạng xã hội
2-Quan niệm của triết học Mác-Lê-nin về ý thức.
Về nguồn gốc của ý thức, chủ nghĩa duy vậy Mác-xít cho rằng có hai nguồn gốc: tự nhiên và xã hội.
Nguồn gốc tự nhiên gồm hai yếu tố: bộ óc con người; sự tác động của hoàn cảnh xung quanh, của thế giới bên ngoài lên bộ óc con người để bộ óc con người phản ánh.
Quá trình phản ánh bao hàm quá trình thông tin ( vật nhận tác động- cái phản ánh mang thông tin của vật tác động- cái được phản ánh). Thuộc tính phản ánh của vật chất cũng có nhiều cấp độ: Phản ánh vật lý, hóa học có tính chất thụ động, chưa có
sự chọn lọc, định hướng. (VD: bắn hòn bi vào đất sét mềm); Phản ánh sinh học đã
có sự lựa chọn, định hướng để thích nghi với môi trường ở thực vật (hoa hướng dương), các phản xạ ở động vật có hệ thần kinh, tâm lý động vật ở động vật cấp cao
có bộ óc (chưa phải là ý thức mà là phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu cơ thể và quy luật sinh học chi phối- săn mồi). Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh, chỉ nảy sinh và xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người
Ý thức được hình thành không phải chủ yếu do sự tác động thuần túy tự nhiên ( một cách bị động, ngẫu nhiên) của thế giới khách quan vào bộ óc con người, mà chủ yếu là do hoạt động thực tiễn chủ động của con người nhằm cải tạo thế giới khách quan, làm biến đổi thế giới đó (vì những cái con người cần thường không có sẵn trong tự nhiên). Muốn cho hoạt động này có hiệu quả, con người cần phải khám phá, tìm hiểu những bí ẩn của giới tự nhiên; phải tổng kết rút kinh nghiệm những công việc đã làm, và càng hiểu biết thế giới tự nhiên bao nhiêu thì ý thức con người càng phong phú bấy nhiêu. C.Mác cho rằng chính con người khi phát triển sản xuất vật chất và quan hệ sản xuất của mình đã làm biến đổi, cùng với sự tồn tại hiện thực của mình, cả tư duy lẫn sản phmr tư duy của mình. Như vậy, chủ yếu thông
Trang 6qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giới mà con người mới có thể phản ánh (đúng) được thế giới, mới có ý thức (đúng) về thế giới đó
II-Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
1-Vai trò của vật chất với ý thức
- Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất là nguồn gốc, quyết định ý thức
Thứ nhất, vật chất sinh ra ý thức vì ý tức xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của con người cách đây từ 3 đến 7 triệu năm, mà con người là kết quả của một quá trình phát triển, tiến hóa lâu dài, phức tạp của giới tự nhiên, của thế giới vật chất. Con người do giới thiệu tự nhiên, vật chất sinh ra, cho nên lẽ tất nhiên, ý thức, một bộ phận của con người cũng do giới tự nhiên, vật chất sinh ra
Thứ hai, vật chất quy định nội dung của ý thức bởi lẽ ý thức dưới bất kỳ hình thức nào suy cho cùng là phản ánh hiện thực khách quan
Thứ ba, mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá tình biến đổi của vật chất; vật chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổi theo
Thứ tư, vai trò của vật chất với ý thức trong đời sống xã hội được biểu hiện ở vai trò của kinh tế đối với chính trị, đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần, tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội. Trong xã hội, sự phát triển của kinh tế xét đến cùng quy định sự phát triển của văn hóa; đời sống vật chất thay đổi thì sớm muộn đời sống tinh thần cũng thay đổi theo
2-Vai trò của ý thức với vật chất
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ ý thức có thể thay đổi nhanh chậm, đi song hành so với hiện thực, nhưng nhìn chung nó thường thay đổi chậm so với thế giới vật chất
Trang 7 Thứ hai, thông qua hoạt động thực tiễn của con người, ý thức co thể làm biến đổi những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, phục vụ cho cuộc sống của con người.
Thứ ba, vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động, hành động của con người bằng cách hình thành nên những mục tiêu, kế hoạch, biện pháp; nó
có thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại, hành động do tư tưởng chỉ đạo. Cụ thể, khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán một cách chính xác cho hiện thực, có thể hình thành nên những lý luận định hướng đúng đắn và những lý luận này được đưa vào quần chúng sẽ góp phần động viên, cổ vũ, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo, từ đó sức mạnh vật chất được nhân lên gấp bội. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, khi tư tưởng đã thông thì khó khăn gì cũng vượt qua được, công việc gì to lớn mấy cũng làm được. Mặt khác, ý thức không chỉ có tác dụng tích cực mà còn có tác dụng tiêu cực khi nó phản ánh sai lạc, xuyên tạc hiện thực
Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là trong thời đại ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
-Ví dụ 1: Hiểu được tính chất vật lý của thép là nóng chảy ở nhiệt độ hơn 10000C, ngườita tạo ra các nhà máy gang thép để sản xuất thép đủ kích cỡ chứ không phải bằngphương pháp thủ công cổ xưa
-Ví dụ 2: Trong lịch sử loài người, những tư tưởng phản động đã từng là vật cản đối với sự phát triển của lịch sử. Nhiều tư tưởng duy tâm tôn giáo đã hạn chế năng lực thực tiễncủa con người. Tư tưởng bá quyền đế quốc chủ nghĩa đã từng gây ra những cuộc chiến tranh tàn khóc làm hao tốn biết bao sức người, sức của
Trang 8III- Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong cuộc sống hiện nay
Các bạn học sinh sau khi đại học và trở thành một sinh viên, hình thành ý thức thấy bản thân trưởng thành, chững chạc và chín chắn hơn. Ý thức đó còn hình thành trong lứa tuổi trẻ đó tự thấy mình phải có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, vì vậy ngay khi vừa bước chân vào cánh cửa đại học, mọi người thường muốn
tự lập, muốn khẳng định bản thân nhiều hơn. Một trong những cách các bạn sinh viên chọn để chứng tỏ bản thân là đi làm thêm
1-Nguyên nhân sinh viên lựa chọn đi làm thêm
- Gia đình hoàn toàn ổn định về tài chính, sinh viên muốn đi làm thêm để tích lũy kinh nghiệm thực tế, khám phá những trải nghiệm thực trong cuộc sống, trau dồi
kỹ năng cho công việc trong tương lai
2-Mặt tích cực của việc ưu tiên lựa chọn đi làm thêm
Về mặt tích cực, có thể coi công việc ngoài giờ của sinh viên là một môi trường học tập mà nhà trường không thể dạy được. Sinh viên được giao tiếp rộng hơn bên ngoài xã hội, điều này giúp cho họ có được thêm sự tự tin và mạnh mẽ, rất có ích cho cuộc sống sau khi tốt nghiệp. Bên cạnh đó họ có thể rèn luyện thêm những kỹ năng mà họ đã được học trên giảng đường nhưng chưa có dịp đem nó ra thực hành
- Ví dụ; như sinh viên nghành ngoại ngữ làm nhân viên trong một số nhà hàng, quán ăn được giao tiếp với người nước ngoài. Trong quá trình làm việc, họ có thể thực hành luôn khả năng nghe nói và giao tiếp. Hay như sinh viên trong các ngành kinh tế chẳng hạn, họ sẽ hiểu biết hơn về tâm lý khách hàng, cách điều hành của các ông chủ sao cho đem lại hiệu quả nhất… Và một điều nữa là hầu hết sinh viên đều rảnh rỗi sau nửa ngày học ở trường. Vì thế nhiều sinh viên tìm cho mình một công việc bán thời gian, không chỉ giúp cho họ có thêm một khoản chi tiêu mà còn hữu ích hóa thời gian rảnh rỗi, tránh "nhàn cư vi bất thiện"
3-Mặt tiêu cực của việc ưu tiên lựa chọn đi làm thêm
Trang 9Một trong những mặt trái của việc làm việc thêm kiếm tiền là ảnh hưởng tới thời gian học tập của sinh viên, đặc biệt là đối với những bạn học những ngành có kiến thức nặng ở các trường đại học Y, Dược, Bách Khoa,… Tuổi đôi mươi là khoảng thời gian quý giá, là tải sản lớn nhất của sinh viên. Trên thực tế, hầu hết sinh viên
sẽ không thể kiếm được việc làm tại các công ty luật hoặc báo chí. Vì những vị trí này thường yêu cầu ít nhất bằng cấp học vấn; hoặc một số kinh nghiệm làm việc trong các lĩnh vực liên quan. Do đó, sinh viên rất có thể sẽ chiếm những vị trí không có kỹ năng là những công việc bán thời gian như phục vụ bàn, rửa bát, trông trẻ, quảng cáo sản phẩm, v.v…
Công việc ngoài xã hội không hề đơn giản như nhiều sinh viên nghĩ, hay lãng mạn như trong phim mà các bạn trẻ thường được xem. Không ít trường hợp sinh viên do thiếu hiểu biết, chân ướt chân ráo từ quê lên phố nên đã dễ dàng mắc phải trò lừa đảo, cạm bẫy. vất vả đi làm thêm nhưng sinh viên không được trả đúng mức lương theo thỏa thuận. đã có không ít sinh viên bị chủ tiệm, cửa hàng viện đủ lý do để trừ, giảm tiền lương như: đến trễ, làm không đạt yêu cầu, thậm chí còn lấy lý do tháng đầu tiên thử việc, thiếu kinh nghiệm để không phải trả lương. Có nơi thì công việc đòi hỏi cường độ làm việc khá cao, mà lương thì rất thấp. Chưa dừng lại ở đó, khi quyết định đi làm thêm, đồng nghĩa với việc quỹ thời gian học tập của sinh viên sẽ
ít hơn, nếu không biết sắp xếp hợp lý, cân bằng sẽ dẫn đến tình trạng xao nhãng việc học, vì vậy kết quả học tập đi xuống. nhưng cái nguy hiểm nhất chính là
những mối hiểm họa bên ngoài xã hội mà không phải sinh viên nào cũng biết được hoặc biết nhưng khó có thể tránh - những cám dỗ vật chất! nó có thể làm cho sinh viên tự đưa chân mình vào lưới, dính vào các tệ nạn xã hội, rồi trượt dốc dài theo các cuộc ăn chơi.
Đi làm thêm để tập cho mình lối sống độc lập, trang bị những kỹ năng mềm cần thiết là cách nghĩ đúng đắn của sinh viên. thế nhưng, các bạn cần phải cân bằng được thời gian học tập và đi làm để đảm bảo việc đi làm thêm không ảnh hưởng
Trang 10đến kết quả học tập. đặc biệt, khi quyết định đi làm thêm, sinh viên nên chọn những công việc phù hợp với khả năng, thời gian của mình, bởi không có công việc nào nhẹ nhàng mà lương cao. Một vấn đề khác nữa là khi đi làm thêm, sinh viên cần phải có bản lĩnh để không bị lôi kéo, sa ngã bởi những vật chất tầm thường. tuổi trẻ
có quyền sai, nhưng có những cái sai để lại nhiều hệ lụy, không thể nào xóa sạch được
4-Các giải pháp giúp cân bằng giữa việc học và đi làm thêm
Do vậy để giải quyết mâu thuẫn giữa việc đi làm thêm để kiếm tiền và học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay, chúng ta cần đề ra những giải pháp như sau:
Giải pháp 1: Giải pháp về vấn đề tập trung để học tập
Một số bạn sinh viên cho biết khi họ đi làm thêm dễ gây cho họ mất tập trung vào việc học. Do đó, sinh viên đi làm cần nhận ra vấn đề đi làm thêm hiện tại chỉ mang tính nhất thời còn việc học là việc lâu dài và có ảnh hưởng lớn đến tương lai sau này. Để làm được điều đó các bạn phải có lập trường vững vàng “giờ nào việc nấy”. Khi đi làm các bạn nên cố gắng tập trung, hoàn thành công việc để các bạn không còn mối quan tâm nào đến công việc khi về nhà. Rời khỏi chỗ làm các bạn chỉ còn nghỉ đến việc học mà thôi. Để tăng thêm sức lôi kéo cho các bạn làm thêm chú tâm đến công việc thì các bạn nên chia sẻ với người thân và bạn bè những khó khăn trong công việc và nhờ họ giúp đỡ bạn bằng cách thường xuyên nhắc nhở các bạn nên chú tâm vào việc học, như vậy, bạn sẽ có động lực và điều kiện chú tâm hơn đến việc học mà ít có cơ hội phân tâm hơn. Cần thu xếp một khoản thời gian riêng tư vào mỗi ngày cho việc học. Vì vậy, việc trước tiên cần làm là các bạn nên gác hết những việc không liên quan đến bài học hiện tại lại. Hãy gạt những suy nghĩ về công việc ra khỏi đầu trong thời gian học bài, đừng để những lo toan chi phối sự tập trung của các bạn. Khi có một nguyên nhân nào đó khiến bạn mất tập trung, hãy nỗ lực dừng những suy nghĩ ngoài luồng đó lại và kéo sự chú ý của bản thân vào bài học trở lại một cách nhanh nhất có thể. Việc tập trung sẽ giúp bạn giải