1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC TRỞ THÀNH ĐÔ THỊ VĂN MINH, HIỆN ĐẠI, NGHĨA TÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

51 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Tồn, Phát Huy Các Giá Trị Văn Hóa Truyền Thống Góp Phần Xây Dựng Thành Phố Thủ Đức Trở Thành Đô Thị Văn Minh, Hiện Đại, Nghĩa Tình Trong Giai Đoạn Hiện Nay
Tác giả Phạm Hoài Minh Tân
Trường học Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý Luận Chính Trị
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 273,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC TRỞ THÀNH ĐÔ THỊ VĂN MINH, HIỆN ĐẠI, NGHĨA TÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY, đề tài BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC TRỞ THÀNH ĐÔ THỊ VĂN MINH, HIỆN ĐẠI, NGHĨA TÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY”, tiểu luận BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC TRỞ THÀNH ĐÔ THỊ VĂN MINH, HIỆN ĐẠI, NGHĨA TÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY”

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TÊN KHÓA LUẬN

“BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC TRỞ THÀNH ĐÔ THỊ VĂN MINH, HIỆN ĐẠI, NGHĨA TÌNH

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY”

Họ tên học viên: Phạm Hoài Minh Tân Lớp, khóa học: Hoàn chỉnh chương trình CCLLCC

hệ KTT K71-C11 (2020 – 2021)

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TÊN KHÓA LUẬN

“BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC TRỞ THÀNH ĐÔ THỊ VĂN MINH, HIỆN ĐẠI, NGHĨA TÌNH

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY”

Họ tên học viên: Phạm Hoài Minh Tân

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong khóa luận là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đúngquy định Đề tài khóa luận này phù hợp với vị trí, chức vụ, đơn vị công tác của tôi

và chưa được công bố trước đây

Tác giả

Phạm Hoài Minh Tân

Trang 4

Tran g

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tồn, phát huy các giá trị

văn hóa truyền thống góp phần xây dựng, phát triển đô thị văn minh,

1.1 Cơ sở lý luận về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống góp phần

xây dựng, phát triển đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình 4 1.1.1 Quan niệm về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và xây

dựng, phát triển đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình 4

1.1.1.1 Quan niệm về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống 4

1.1.1.2 Quan niệm xây dựng, phát triển đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình 10 1.1.2 Quan điểm của Đảng ta về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

góp phần phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa 14 1.2 Những nhân tố tác động đến bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền

thống góp phần xây dựng, phát triển đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình 18 1.2.1 Các yếu tố tác động đến bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

1.2.2 Những vấn đề đặt ra trong bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

Chương 2 Thực trạng bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền

thống góp phần xây dựng, phát triển thành phố Thủ Đức trong thời

2.1.1 Quá trình hình thành thành phố Thủ Đức 22

Trang 5

thống góp phần xây dựng, phát triển thành phố Thủ Đức 25 2.3 Kết quả bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống góp phần xây

dựng, phát triển thành phố Thủ Đức trong thời gian qua 26 2.3.1 Xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh 27 2.3.2 Xây dựng khối đoàn kết toàn dân, thực hiện dân chủ cơ sở, phát huy quyền

2.3.3 Xây dựng nếp sống văn minh, mỹ quan đô thị, văn hóa ứng xử, môi trường

2.3.5 Quan tâm đầu tư sửa chữa, nâng cấp, tôn tạo các di tích văn hóa, di tích lịch

2.4 Những hạn chế và nguyên nhân việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa

truyền thống để xây dựng, phát triển thành phố Thủ Đức thời gian qua 31

2.5 Phương hướng và giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền

thống góp phần xây dựng, phát triển thành phố Thủ Đức trở thành đô thị văn

Trang 6

Phần 1 MỞ ĐẦU

Sự nghiệp xây dựng, phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam đã đạtnhiều thành tựu quan trọng, nhận thức, tư duy lý luận về văn hóa được nâng lên.Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị vănhóa truyền thống của dân tộc được phát huy, đồng thời hình thành nhiều chuẩn mựcvăn hóa, đạo đức mới Trước áp lực mạnh mẻ bởi toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế,cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, Việt Namngày càng chủ động tham gia vào các liên kết khu vực, gia nhập các tổ chức quốc

tế và trở thành thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế Kết quả ấy gópphần nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế vừa tạo ranhiều cơ hội phát triển mới Qua đó, có thể khẳng định thành quả bảo tồn, phát huycác giá trị văn hóa truyền thống đã góp phần quan trọng nâng cao dân trí, dân chủhóa đời sống xã hội, nâng cao tính năng động sáng tạo, tự chủ và tính tích cực xãhội của con người, hình thành các nhân tố mới, giá trị mới của con người ViệtNam

Nhằm thực hiện mục tiêu phát triển đất nước bền vững thì việc xây dựng nềnvăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ sở

để Đảng ta đề ra quan điểm chỉ đạo đó là: “Chiến lược phát triển tổng thể của đấtnước ta là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bềnvững đất nước; bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trongđó: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triểnvăn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thườngxuyên.”1 Để văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần xã hội, bên cạnh việc tiếpthu tinh hoa văn hóa nhân loại, quan trọng hơn hết là bảo tồn, phát huy các giá trịvăn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa con người Việt Nam

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.CTQG - Sự Thật, Hà Nội, 2021, t.1,

tr 34 - 33.

Trang 7

Trong bối cảnh hiện nay, sự tăng trưởng kinh tế không ngừng, những tácđộng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, quá trình hội nhập quốc tế cùng với sựảnh hưởng bởi mặt trái của kinh tế thị trường đặt ra nhiều vấn đề, thách thức lớnchưa từng có đối với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững Vì thế, việc giữ gìn,phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tăng cường sức mạnh nội sinh cho đất nước có ýnghĩa vô cùng quan trọng, làm nền tảng, tiền đề để hội nhập, chọn lọc, tiếp thunhững tinh túy, tinh hoa của nhân loại, những giá trị thời đại phục vụ công cuộccông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sớm đưa nước ta trở thành nước côngnghiệp hiện đại.

Ngày 9/12/2020, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành nghị quyết số1111/2020/NQ-UBTVQH14 quyết định sắp xếp quận 2, quận 9 và quận Thủ Đứcthành lập thành phố Thủ Đức thuộc thành phố Hồ Chí Minh Mục tiêu đặt ra làkhơi dậy tiềm năng thế mạnh để phát triển kinh tế tri thức, biến nơi đây trở thànhtrung tâm đổi mới sáng tạo, là đầu mối giao thông, thương mại xuất nhập khẩuquan trọng của thành phố Hồ Chí Minh và cả nước, hình thành nên cực tăng trưởngmới Tuy nhiên để thực hiện được mục tiêu ấy không chỉ tập trung thúc đẩy kinh tế

mà phải chú trọng bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc góp phần xây dựngphát triển thành phố Thủ Đức bền vững

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định tại Đại hội Văn hóa toàn quốc lầnthứ nhất diễn ra ở Thủ đô Hà Nội vào ngày 24-11-1946: "Văn hóa soi đường choquốc dân đi" Thành phố thuộc thành phố là mô hình rất mới mẻ, quá trình xâydựng, phát triển thành phố Thủ Đức đòi hỏi phải có tư duy, phương pháp, cách làmphù hợp Do vậy, cùng với việc nhanh chóng ổn định, kiện toàn hệ thống chính trị,tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, đòi hỏi phải huy động toàn bộ hệ thốngchính trị, phát huy mọi nguồn lực, nhất là kế thừa, phát huy các yếu tố văn hóa tinhthần để tạo nên sức mạnh nội sinh, sự đồng thuận của khối đoàn kết toàn dân cùngchung tay xây dựng thành phố Thủ Đức Đó không đơn thuần là sự thay đổi, điều

Trang 8

chỉnh vai trò, quy mô, phạm vi quản lý nhà nước mà hơn cả cần phải tập trungnghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện, đồng bộ về sự lãnhđạo cấp ủy Đảng, quản lý của chính quyền và vai trò của hệ thống chính trị, cáctầng lớp nhân dân trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nóiriêng, lĩnh vực văn hóa nói chung Từ đó, tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả bảotồn, phát huy sức mạnh của các giá trị văn hóa truyền thống để tạo nên sức mạnhtổng hợp góp phần vào sự nghiệp xây dựng, phát triển quê hương Thủ Đức.

Bảo tồn, phát huy sức mạnh giá trị văn hóa truyền thống góp phần xây dựng,phát triển thành phố Thủ Đức không chỉ là tiền đề, nhiệm vụ quan trọng trước mắt

mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài Đây là nền tảng vững chắc để Đảng bộ,chính quyền và nhân dân Thủ Đức có thể thực hiện thắng lợi mục tiêu vươn lên trởthành khu đô thị sáng tạo, tương tác cao, một vùng động lực phát triển kinh tế mớitheo hướng văn minh, hiện đại, nghĩa tình một cách bền vững

Nhằm giải quyết vấn đề trên, đề tài được kết cấu theo ba phần, trong đó phần

mở đầu xác định nội dung, phương pháp, phạm vi nghiên cứu Phần nội dung tậptrung làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và vai trò, đồng thời phân tích thực trạngthời gian qua, nêu lên một số giải pháp bảo tồn, phát huy sức mạnh giá trị văn hóatruyền thống tại thành phố Thủ Đức Phần kết luận đánh giá một cách khái quát nộidung nghiên cứu và đề xuất kiến nghị một vài vấn đề về bảo tồn, phát huy sứcmạnh giá trị văn hóa truyền thống nâng cao hiệu quả trong quá trình xây dựng, pháttriển thành phố Thủ Đức giai đoạn tiếp theo

Trang 9

Phần 2 NỘI DUNG Chương 1.

Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống góp phần xây dựng, phát triển đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ

VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VĂN MINH, HIỆN ĐẠI, NGHĨA TÌNH

1.1.1 Quan niệm về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

và xây dựng, phát triển đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình

1.1.1.1.Quan niệm về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

a Quan niệm về các giá trị văn hóa truyền thống

Nói đến giá trị văn hóa truyền thống, trước hết đó là những gì thuộc về vănhóa Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng, là kết quả sáng tạo của con người trong cáchoạt động xã hội Cựu Tổng Giám đốc UNESCO, Federico Mayor đưa ra một địnhnghĩa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặtcủa cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũngnhư đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thốngcác giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳngđịnh bản sắc riêng của mình”

Năm 1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra định nghĩa về văn hoá: “Vì lẽsinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh rangôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp

Trang 10

của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh

ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”2

Định nghĩa văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khắc phục được nhữngquan niệm phiến diện về văn hóa trong lịch sử và hiện tại Người chỉ rõ lý do tồntại, phát triển của văn hoá “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, nhấnmạnh đặc trưng quan trọng nhất là “sáng tạo và phát minh”, đồng thời chỉ ra cáclĩnh vực, loại hình chính của văn hoá với ý nghĩa rộng lớn của nó

Mỗi quốc gia, dân tộc, cộng đồng dân cư đều có lịch sử hình thành và pháttriển khác nhau Trải qua quá trình đó, con người đã sáng tạo ra nền văn hóa củamình và được lưu truyền trong xã hội qua các thời kỳ lịch sử và trở thành các giá trịvăn hóa truyền thống của mỗi quốc gia, dân tộc hoặc của từng cộng đồng dân cư.Truyền thống hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, đó là sự kế thừa các giá trị, di sản xãhội được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Giá trị được hiểu là hệ thống nhữngđánh giá của con người về bất cứ một hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy theohướng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp, là có ích Có thể định nghĩa: “Giátrị là khái niệm chỉ ý nghĩa của các hiện tượng vật chất cũng như tinh thần mà mỗicộng đồng người quan tâm dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu hay lợi ích nhất định”3

Với ý nghĩa đó, giá trị truyền thống là những cái tốt đẹp mang ý nghĩa tíchcực đã được lựa chọn, thừa nhận, đánh giá, thẩm định nghiêm ngặt của dân tộc,cộng đồng dân cư qua nhiều giai đoạn lịch sử Sự thừa nhận, thẩm định đó khôngphải là ý kiến chủ quan mà dựa trên sự đánh giá, lựa chọn khách quan Nói đến giátrị văn hóa truyền thống là nói đến những gì tốt đẹp, được hình thành và phát triểntrong quá trình dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc nó có tính "di truyền xãhội” Chính những giá trị này tạo nên bản sắc của từng dân tộc, cộng đồng dân cư,

nó được truyền lại cho thế hệ sau và sẽ được bảo vệ, duy trì, bổ sung và phát triển

2Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.458.

3 Học viện CTQG Hồ Chí Minh: Giáo trình cao cấp lý luận chính trị Văn Hóa và Phát Triển, Nxb.Lý luận chính trị,

2020, tr.88.

Trang 11

Nói cách khác, giá trị văn hóa truyền thống là những giá trị tốt đẹp, tích cực, tươngđối ổn định, tiêu biểu cho nét văn hóa mà mỗi dân tộc, cộng đồng dân cư đó mongmuốn gìn giữ, phát triển, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Tuy nhiên,những giá trị ấy cũng có thể biến đổi chứ không hoàn toàn bất biến, sự biến đổidiễn ra nhanh hay chậm là tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là các yếu tố kinh tế,chính trị, xã hội.

Như vậy, giá trị văn hóa truyền thống chính là những tư tưởng, biểu tượng,giá trị và chuẩn mực xã hội hóa, những sản phẩm, công trình văn hóa tiêu biểu chomột dân tộc hay cộng đồng dân cư nhất định, tạo nên bản sắc văn hóa riêng của mỗidân tộc hay cộng đồng dân cư nhất định Giá trị văn hóa truyền thống mang đậmtính lịch sử được chắt lọc, bảo tồn, lưu truyền, phát triển qua các thế hệ và chịu sựtác động bởi điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội Hệ giá trị văn hóa truyền thốngcủa một dân tộc hay gọi một cách ngắn gọn là hệ giá trị văn hóa dân tộc bao gồmtoàn bộ những giá trị mà cộng đồng dân tộc đó sáng tạo, tích lũy trong tiến trìnhlịch sử, bao gồm giá trị văn hóa vật chất và giá trị văn hóa tinh thần Trên cơ sởquan niệm về giá trị, có thể định nghĩa giá trị văn hóa dân tộc như sau: “Giá trị vănhóa dân tộc là kết quả sáng tạo, tích lũy của một cộng đồng, dân tộc, được phản ảnhtrong các di sản, tài sản văn hóa vật thể, phi vật thế được cộng đồng lựa chọn, thừanhận và khao khát hướng tới, thông qua sự trải nghiệm lịch sử”4

Trải qua lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm, dân tộcViệt Nam đã hình thành nên hệ thống các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Đây

là kết quả tích tụ, giao thoa, tiếp biến của những nét văn hóa đặc sắc bởi năm mươi

tư dân tộc anh em, kể cả văn hóa nước ngoài Xét riêng từng vùng đất, cộng đồngdân cư trên lãnh thổ Việt Nam, bên cạnh hệ giá trị văn hóa chung, thì mỗi cộngđồng dân cư, mỗi vùng đất còn mang bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên sựphong phú, đa dạng Do vậy, khi nói đến các giá trị văn hóa truyền thống địa

4 Học viện CTQG Hồ Chí Minh: Giáo trình cao cấp lý luận chính trị Văn Hóa và Phát Triển, Nxb.Lý luận chính trị,

2020, tr.88.

Trang 12

phương thì bao hàm cả giá trị văn hóa chung và nét văn hóa riêng của từng địaphương hoặc cộng đồng dân cư nơi đó.

b Hệ giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam

Thời kỳ nào mà các chuẩn mực của một hệ giá trị cụ thể được tôn trọng, làm

lẽ sống của mọi người từ lãnh đạo đến người dân bình thường thì xã hội ổn định,phát triển Ngược lại, nếu người ta thay các tiêu chí tốt, đúng của hệ giá trị cũ bằngtiêu chí mới nhưng không khả dụng (chưa nói là sai, không dẫn đạo xã hội) sẽ dẫnđến xã hội phải đối diện với những thách thức, thậm chí rối loạn… Tuy nhiên hệgiá trị văn hóa có thể biến đổi bởi các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội… Khi đó, nộihàm của những giá trị, chuẩn mực đó có thể tiếp thu những tư tưởng mới tạo nên sựthay đổi để thích nghi, điển hình như chuẩn mực lễ giáo Nho giáo trong xã hội ViệtNam thời kỳ phong kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đánh giá cao cácchuẩn mực đạo đức Nho giáo nhưng Bác không thiên về kiểu “áp dụng” máy móc,

gò bó mà vận dụng nó một cách chủ động, chọn lọc và sáng tạo hơn Trong 5 tiêuchí của quân tử: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín và 4 điều tâm niệm của kẻ sĩ: Trung,Hiếu, Tiết, Nghĩa được Bác đặt vào bối cảnh, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và thugọn thành “Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm” để chính Bác cũng như mỗi cán bộ,đảng viên học tập, rèn luyện

Xuất phát từ những điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt,truyền thống văn hóa, con người Việt Nam có những giá trị, phẩm chất độc đáo,bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc ViệtNam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữnước Kể từ khi tham gia Thập kỷ quốc tế về văn hóa trong phát triển (1986-1997),đặc biệt từ năm 1998, Đảng ta ban hành Nghị quyết TW 5 khóa VIII về xây dựng

và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, văn hóa ViệtNam đã có những bước phát triển đạt tới chất lượng và diện mạo khác nhiều so vớitrước đó Vượt ra khỏi khuôn khổ thế giới quan và phương pháp luận về văn hóa

Trang 13

giai đoạn trước kia, ngày nay văn hóa không còn bị xem là sản phẩm thụ động củađời sống kinh tế, của cơ sở hạ tầng, mà đã trở thành nhân tố bên trong, là cái quyđịnh hành vi và hoạt động của con người, thậm chí quy định cả diện mạo sự pháttriển ở phạm vi quản lý, điều hành chính sách của Đảng và Chính phủ Việt Nam, và

ở cả phạm vi hoạt động thường ngày của mỗi con người Từ đó, con người và các

tổ chức xã hội chú trọng giải quyết các vấn đề xã hội dựa trên nguyên nhân vănhóa, điều mà trước kia chưa được quan tâm Chức năng điều tiết của văn hóa cũngđược thực hiện một cách thầm lặng và đôi khi nằm ngoài sự tính toán

Quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước Việt Nam và toàn thể xã hội về vănhóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, là mục tiêu và là độnglực của sự phát triển ngày càng trở nên thực chất hơn Nền văn hóa đang khởi sắc,kích thích sự hồi sinh của phần lớn những giá trị truyền thống trước đó còn bị bỏquên, thậm chí bị kỳ thị, làm cho văn hóa Việt Nam trở lại với diện mạo bìnhthường của nó, không chỉ kết nối với quá khứ mà hội nhập, bắt nhịp ngày càng sâuvào văn hóa thế giới, đóng góp vào văn hóa chung của cộng đồng thế giới

Các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam đã được Đảng ta xác định rõ tại nghịquyết số 03-NQ/TW, hội nghị trung ương năm, khóa VIII, đó là: “Bản sắc dân tộcbao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc ViệtNam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn nǎm đấu tranh dựng nước và giữnước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ýthức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; lòng nhân ái, khoandung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tếtrong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc vǎn hóa dân tộc còn đậm nét cảtrong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”5

5 Đảng Cộng sản Việt Nam: uong/khoa-viii/nghi-quyet-so-03-nqtw-ngay-1671998-hoi-nghi-lan-thu-nam-bchtw-dang-khoa-viii-ve-xay-dung-va- phat-trien-nen-van-hoa-viet-681

Trang 14

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-Phát triển quan điểm của nghị quyết số 03-NQ/TW, tại hội nghị trung ươngchín, khóa XI, Nghị quyết số 33-NQ/TW của Đảng về xây dựng và phát triển vănhóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước tiếp tụckhẳng định mục tiêu: “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người ViệtNam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, nănglực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuânthủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệmcủa mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.”6

Có thể khẳng định rằng, những phẩm chất cốt lõi “yêu nước, nhân ái, nghĩatình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo” chính là các giá trị văn hóa dân tộcđược hình thành trong tiến trình lịch sử và văn hóa là sức mạnh cố kết cộng đồng,

để dân tộc vượt qua những thử thách nghiệt ngã của lịch sử trong mấy ngàn nămdựng nước gắn liền với giữ nước

c Quan niệm về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống

Mỗi dân tộc, quốc gia trong quá trình hình thành, phát triển trải qua các giaiđoạn, chu trình lịch sử khác nhau, luôn tạo nên những giá trị văn hóa dân tộc củariêng mình, góp phần tạo nên sức mạnh nội sinh của chính quốc gia, dân tộc đó.Nghị quyết trung ương năm, khóa VIII chỉ rõ: “Di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắnkết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giátrị mới và giao lưu vǎn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giátrị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎnhóa vật thể và phi vật thể.”7

Bảo tồn là việc bảo vệ, giữ gìn sự tồn tại của sự vật, hiện tượng theo dạngthức vốn có của nó, không để bị mai một, thay đổi, biến hóa hay biến thái Bảo tồn

6 Đảng Cộng sản Việt Nam: uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-33-nqtw-ngay-962014-hoi-nghi-lan-thu-9-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve- xay-dung-va-phat-trien-590

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-7 Đảng Cộng sản Việt Nam:

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet- phat-1692

Trang 15

so-03-nqtw-ngay-1671998-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-tai-hoi-nghi-trung-uong-5-khoa-viii-ve-xay-dung-va-các giá trị văn hóa truyền thống được hiểu là những nỗ lực của cá nhân và cộngđồng nhằm lưu giữ và kế thừa những gì được xem là giá trị văn hóa dân tộc Pháthuy các giá trị văn hóa dân tộc có thể xem là quá trình sàng lọc, duy trì và làmphong phú thêm những nét đẹp văn hóa vốn có.

Nền văn hóa Việt Nam mà chúng ta đang sở hữu hôm nay là sự kế thừanhững thành quả văn hóa sáng tạo của lớp lớp cha ông trong quá khứ cũng như kếtquả của quá trình giao lưu, tiếp biến với nhiều nền văn hóa khác trên thế giới.Chính vì vậy, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa không chỉ là vấn đề đạo lý mà

là một tất yếu khách quan Bảo tồn tốt để làm cơ sở cho việc khai thác, phát huyhiệu quả giá trị di sản văn hóa và ngược lại, phát huy tốt di sản văn hóa sẽ tạonguồn lực để bảo tồn tốt

Như vậy, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc là giữ gìn và pháttriển các giá trị đã và đang còn tiếp tục tạo nên năng lực nội sinh, phù hợp với xuhướng phát triển, làm động lực cho sự phát triển văn hóa - xã hội hiện tại và tươnglai của cá nhân và cộng đồng Đây là nhu cầu tất yếu, bảo tồn và phát huy luôn làhai mặt của một vấn đề trong xây dựng và phát triển văn hóa Hoạt động bảo tồncác giá trị văn hóa dân tộc phải gắn với việc phát huy, tạo động lực cho sự pháttriển văn hóa và con người trong giai đoạn hiện nay

1.1.1.2 Quan niệm xây dựng, phát triển đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình

a Xây dựng, phát triển đô thị ở nước ta hiện nay

Ngày nay phát triển đô thị là xu hướng chung trên toàn thế giới, nhiều nghiêncứu khoa học dự báo đến khoảng năm 2030, có khoảng 70% dân số thế giới sẽ sinhsống tại các đô thị Lịch sử quá trình đô thị hóa trên thế giới cho thấy một quy luật:công nghiệp hóa thúc đẩy quá trình đô thị hóa Ở mỗi quốc gia trên thế giới nóichung và ở Việt Nam nói riêng, đô thị hóa là một quy luật tất yếu Quá trình đô thịhóa có thể diễn ra nhanh, chậm khác nhau ở mỗi quốc gia bởi nó phụ thuộc hoàntoàn vào điều kiện cũng như trình độ phát triển kinh tế – xã hội ở quốc gia đó Đô

Trang 16

thị hóa và công nghiệp hóa luôn có mối quan hệ phụ thuộc, bổ sung hỗ trợ lẫnnhau.

Thực tiễn quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới về cơ bảncũng theo quy luật đó, tốc độ hình thành phát triển đô thị vô cùng nhanh chóng.Bằng chứng rõ nét cho sự kết hợp này thể hiện qua số lượng các khu chế xuất, khucông nghiệp tại Việt Nam tăng nhanh cùng với quá trình đô thị hóa Cả nước hiện

có 833 đô thị, trong đó bao gồm 2 đô thị đặc biệt, 20 đô thị loại I, 29 đô thị loại II,

tỷ lệ đô thị hóa Việt Nam năm 2019 là 38,4% và dự kiến sẽ vượt mốc 40% vào năm2020

Kết quả của quá trình đô thị hóa đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực đôthị trung bình đạt từ 12 - 15%, cao hơn từ 2 - 2,5 lần so với mặt bằng chung của cảnước Khu vực đô thị tiếp tục khẳng định vai trò tạo động lực phát triển kinh tế của

cả nước, tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động, góp phần quan trọng trongviệc thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển Văn hóa – xã hội và dân cư có nhiều thayđổi tích cực, sự giao thoa văn hóa giữa các vùng miền, tiếp thu nhiều yếu tố tiến bộ,

có cả văn hóa nước ngoài khiến đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càngphong phú, đa dạng, nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần ngày càng cao

Tuy nhiên đô thị hóa tại Việt Nam đang đối diện với nhiều thách thức như

mô hình tăng trưởng của các đô thị chưa đa dạng, thiếu bền vững, bộc lộ nhiều yếukém, phụ thuộc vào khai thác tài nguyên; năng lực dự trữ và tầm nhìn dài hạn cònhạn chế Kiến trúc quy hoạch, hệ thống hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng được nhucầu, tình trạng ùn tắc giao thông… chưa được giải quyết triệt để Việc tiếp thu, ứngdụng những khoa học công nghệ; khai thác tài nguyên đất chưa hiệu quả Tìnhtrạng ô nhiễm môi trường không khí, khói, bụi gia tăng ở các đô thị lớn… Tìnhtrạng bê tông hóa nhà ở nông thôn, đường liên xã, xóm, ven đê, ven đường caotốc cho thấy những hạn chế của việc quy hoạch nông thôn trong quá trình đô thị

Trang 17

hóa hiện nay … gây lãng phí xã hội Hơn nữa, các đô thị đang phải đối mặt vớiảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đòi hỏi phải bảo đảm khả năng chống chịu.

Tình trạng di dân tự do, tăng dân số cơ học nhanh trong khi an sinh xã hộichưa đáp ứng kịp tạo nên áp lực căng thẳng cho chính quyền và dân cư Các giá trịvăn hóa, chuẩn mực đạo đức xã hội, văn hóa ứng xử bị có lúc xâm phạm, thậm chínghiêm trọng Những mâu thuẫn, tranh chấp do bất đồng về văn hóa, lối sống của

cư dân địa phương với cư dân nhập cư còn xảy ra ở nhiều nơi Không ít cư dânnhập cư từ các vùng nông thôn khó hòa nhập với điều kiện sống, lối sống đô thị.Tình hình tệ nạn xã hội và, phạm pháp hình sự vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, diễnbiến phức tạp

Có thể xem những hạn chế, bất cập nêu trên là “căn bệnh đô thị” khiến quátrình đô thị hóa ở nước ta đang gặp thách thức, trở ngại rất lớn Trong khi đó, các

nỗ lực giải quyết chưa thực sự đồng bộ, thiếu sự liên kết hệ thống, còn riêng biệttheo ngành Do vậy, Đảng, Nhà nước cần đề ra chính sách định hướng phát triển đôthị phù hợp với đặc thù kinh tế, văn hóa, xã hội của từng vùng, đặc thù dân cư trongđiều kiện hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

b Quan niệm về đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình

Hiện nay, phát triển đô thị theo hướng đô thị xanh, đô thị thông minh và bềnvững đang trở thành xu hướng chung của tất cả các nước trên thế giới MikeBarlow và Cornelia Levy-Bencheton là đồng tác giả của quyển sách “Đô thị thôngminh, tương lai xán lạn” nhận xét: “Ban đầu, thuật ngữ “đô thị thông minh” là câucửa miệng thời thượng được giới tiếp thị công nghệ sử dụng có phần tùy tiện Ngàynay¸ đô thị thông minh là một hiện tượng toàn cầu với quyền năng lâu dài rất thật”8

Theo hai tác giả, đô thị thông minh là một hệ sinh thái bao gồm, con người,các quy trình và giải pháp Đô thị thông minh hình thành trên cơ sở mọi người cùngnhau lao động để đạt được mục tiêu chung nhằm cung cấp cho cư dân những năng

8 Mike Barlow và Cornelia Levy-Bencheton: Đô thị thông minh, tương lai xán lạn, Nxb.Trẻ, 2020, tr.XXV

Trang 18

lực và chất liệu họ cần có để tìm thấy hạnh phúc, thành đạt và phồn vinh Hiện nay,

đô thị thông minh được xác định dựa trên 6 chỉ báo: nền kinh tế thông minh, môitrường thông minh, chính quyền thông minh, lối sống thông minh, vận chuyểnthông minh, con người thông minh

Đứng trước những thách thức của quá trình đô thị hóa tại Việt Nam, nhất làtình trạng tự phát đang gây ra sự xáo trộn, lãng phí xã hội, Đảng và Nhà nước ta đãđiều chỉnh định hướng, đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển đô thị trongđiều kiện mới Nhiều chiến lược quan trọng có nội dung liên quan đến đô thị đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và đang được thực hiện như: Chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020; Chiến lược quốc gia về biến đổi khíhậu; Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đếnnăm 2050 Trong thời gian gần đây, Bộ Xây dựng đã tập trung nghiên cứu điềuchỉnh Chiến lược phát triển đô thị quốc gia; xây dựng Chương trình phát triển đôthị quốc gia giai đoạn 2021 - 2030; triển khai Kế hoạch phát triển đô thị tăngtrưởng xanh; triển khai Đề án “Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổikhí hậu”…

Xuất phát từ bản chất chế độ và thực tiễn công cuộc đổi mới, chủ trương pháttriển đô thị tại Việt Nam cũng có cách tiếp cận gần tương tự, tuy nhiên các yếu tốnội hàm được kết cấu lại cho phù hợp với thực tiễn nước ta Chủ đề Chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 – 2030, được thông qua tại Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ XIII đó là: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huymạnh mẽ giá trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh thời đại, huy động mọinguồn lực, phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mớisáng tạo và chuyển đổi số, phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có côngnghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước pháttriển, thu nhập cao”9

9 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.CTQG - Sự Thật, Hà Nội, 2021, t.1,

tr 206.

Trang 19

Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp nêu trong Chiến lược xác định: “Đẩynhanh tốc độ, nâng cao chất lượng đô thị hóa và kinh tế đô thị Xây dựng cơ chế,chính sách thúc đẩy phát triển hệ thống đô thị hài hòa, phù hợp với tiềm năng, lợithế của từng vùng, từng địa phương; phát triển mạnh các đô thị vệ tinh của một số

đô thị lớn, nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Cơ bản hoàn thành hệ thốngthể chế, cơ chế, chính sách, công cụ quản lý, xây dựng mô hình chính quyền đô thịgắn với quản trị đô thị hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh, từng bước nâng caochất lượng phát triển đô thị cả về kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng, kiến trúc, nhà ở,chất lượng sống của người dân Đổi mới và nâng cao chất lượng quy hoạch đô thị;phát triển đô thị có tầm nhìn dài hạn; hình thành một số chuỗi đô thị thông minh tạicác khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc, phía Nam và miền Trung; từng bước kếtnối với mạng đô thị thông minh trong khu vực và thế giới; xây dựng các đô thị theohướng đô thị xanh, văn minh, có bản sắc và có tính tiên phong, dẫn dắt các hoạtđộng đổi mới sáng tạo, trở thành động lực của phát triển…”10

Có thể khẳng định rằng, chủ trương của Đảng, Nhà nước phát triển đô thịtheo hướng văn minh, hiện đại, nghĩa tình Cùng với xây dựng Đảng, hoàn thiện hệthống chính trị là then chốt, phát triển kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ, đổimới sáng tạo là trung tâm, chúng ta luôn xem phát huy các giá trị văn hóa truyềnthống làm nền tảng tinh thần xã hội, làm cơ sở cho việc phát triển bền vững Vănminh, hiện đại, tức là chúng ta đang hướng đến các giá trị thời đại, hội nhập quốc

tế, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Trong khi đó, yếu tố văn minh, nghĩa tìnhchính là phát huy bản lĩnh, phẩm chất con người, các giá trị văn hóa Việt Namnhằm nâng cao năng lực nội sinh, tạo ra những giá trị mới mang hơi thở thời đại

1.1.2 Quan điểm của Đảng ta về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa

truyền thống góp phần phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

10 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.CTQG - Sự Thật, Hà Nội, 2021, tr

259 - 260.

Trang 20

Trước nay, nhiều người thường quan niệm cứ có tăng trưởng kinh tế là cóphát triển nhưng thực tế, có nhiều lúc, nhiều nơi tuy tăng trưởng kinh tế cao songtình trạng đói nghèo vẫn không được cải thiện “Phát triển” không chỉ là sự tăngtrưởng mở rộng ngưỡng về mặt số lượng và qui mô hay tiến hóa từ từ, từ đơn giảnđến phức tạp mà là sự tiến bộ, chuyển biến rõ rệt về mặt giá trị Nói cách khác, pháttriển xã hội nói chung, phát triển đô thị nói riêng thì không chỉ có tăng trưởng kinh

tế mà cần “phát triển” cả về chính trị, văn hóa, xã hội, dân cư… Sự phát triển đồng

bộ ấy vừa mang tính phổ quát, xuất phát từ các quyền phát triển tự nhiên của conngười, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, địa vị chính trị, kinh tế Songlại mang tính đặc thù bởi sự chế định của trình độ phát triển kinh tế, bản sắc vănhóa, đặc điểm lịch sử, thể chế chính trị

Với mục tiêu xây dựng, phát triển đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình mộtcách bền vững, chúng ta không chỉ chú trọng đến phát triển kinh tế mà còn phảiđảm bảo sự phát triển hài hòa với văn hóa và xã hội, vì văn hóa và xã hội còn làthành tố của phát triển kinh tế Bàn về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyềnthống dân tộc, Nghị quyết TW 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoáViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã đề ra năm quan điểm chỉ đạo, đó là:

- Thứ nhất, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa làđộng lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Chăm lo văn hoá là chăm lo củng

cố nền tảng tinh thần của xã hội Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh,không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ vàcông bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Xây dựng

và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, vì xã hội công bằng, văn minh,con người phát triển toàn diện Văn hoá là kết quả của kinh tế đồng thời là động lựccủa sự phát triển kinh tế Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống vàhoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷcương,… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển

Trang 21

- Thứ hai, nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởngđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú,

tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân và cộngđồng, giữa xã hội và tự nhiên Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cảtrong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung Bản sắc dântộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộcViệt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước vàgiữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, y chí tự cường dân tộc, tinh thần đoànkết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái,khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sựtinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…Bản sắc văn hoá dân tộc còn đậmnét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo Bảo vệ bản sắc dântộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thụ có chọn lọc những cái hay,cái tiến bộ trong văn hoá các dân tộc khác Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền vớichống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ

- Thứ ba, nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều cónhững giá trị và sắc thái văn hoá riêng Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau,làm phong phú nền văn hoá Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở đểgiữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hoá của các dân tộc anh em

- Thứ tư, xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảnglãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng Mọi người Việt Namphấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh đều tham gia sựnghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá nước nhà Công nhân, nông dân, trí thức

là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và

Trang 22

phát triển văn hoá dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước Đội ngũ tríthức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và pháttriển văn hoá.

- Thứ năm, văn hoá là một mặt trân; xây dựng, phát triển văn hoá là một sựnghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thậntrọng Bảo tồn và phát huy những di sản văn hoá tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nênnhững giá trị văn hoá mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vàocuộc sống của toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ,văn minh là một quá trình cách mạng đầy khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thờigian Trong công cuộc đó, “xây” đi đôi với “chống”, lấy “xây” làm chính Cùng vớiviệc giữ gìn và phát triển những di sản văn hoá quí báu của dân tộc, tiếp thụ nhữngtinh hoa văn hoá thế giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới, phải tiến hànhkiên trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiếnđấu, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hoá để thực hiện “diễn biến hoà bình”

Tại hội nghị trung ương chín, khóa XI, trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiệnNghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Đảng ta tiếp tục ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầuphát triển bền vững đất nước, xác định mục tiêu chung, đó là: “Xây dựng nền vănhóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấmnhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thànhnền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm

sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”11 Đồng thời đề ra năm quan điểm chỉ đạo12:

11 Đảng cộng sản Việt Nam: uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-33-nqtw-ngay-962014-hoi-nghi-lan-thu-9-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi- ve-xay-dung-va-phat-trien-590

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-12 Đảng cộng sản Việt Nam: uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-33-nqtw-ngay-962014-hoi-nghi-lan-thu-9-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi- ve-xay-dung-va-phat-trien-590

Trang 23

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung Thứ nhất, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực pháttriển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xãhội.

- Thứ hai, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưngdân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học

- Thứ ba, phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xâydựng con người để phát triển văn hóa Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm

lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêunước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo

- Thứ tư, xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai tròcủa gia đình, cộng đồng Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy

đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế

- Thứ năm, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân doĐảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữvai trò quan trọng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “…Xây dựng conngười Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyềnthống và giá trị hiện đại Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môitrường văn hóa, đời sống văn hóa phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh; vừaphát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhânloại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực độtphá cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế”13

13 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự Thật, H.2021, t.1, tr.47.

Trang 24

1.2 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BẢO TỒN, PHÁT HUY

GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VĂN MINH, HIỆN ĐẠI, NGHĨA TÌNH 1.2.1 Các yếu tố tác động đến bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa

truyền thống trong giai đoạn hiện nay

Sau gần 35 năm đổi mới, các giá trị văn hóa truyền thống được tôn trọng vàphục hồi rất căn bản, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể được xác định vàđánh giá theo chuẩn quốc tế, nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di sản thiênnhiên và di sản ký ức thế giới được cộng đồng quốc tế ghi nhận Hoạt động văn hóađược hiện đại hóa; giao lưu, tiếp biến văn hóa đặc biệt mở rộng; văn hóa côngquyền, văn hóa ứng xử, văn hóa hội nhập… gần gũi hơn với khu vực và thế giới.Đời sống văn hóa của nhân dân dần nâng cao cả về trình độ và chất lượng Tuynhiên các giá trị căn hóa dân tộc bị tác động bởi cả các yếu tố bên ngoài lẫn yếu tốbên trong, nó đồng thời tạo nên những cơ hội lẫn thách thức đối với sự phát triểnvăn hóa dân tộc

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đặc biệt cuộc cách mạng công nghiệp 4.0diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm công nghệ sinh học, kỹ thuật số và vật lý, tácđộng đến các giá trị văn hóa dân tộc Công nghệ sinh học tạo ra những bước nhảyvọt trong nông nghiệp, thủy sản, y dược, vật liệu; kỹ thuật số đem lại: Trí tuệ nhântạo (AI), Vạn vật kết nối - Internet Of Things (IOT), dữ liệu lớn (Big data) vàtruyền thông toàn cầu; lĩnh vực vật lý cho ra đời những robot thế hệ mới, máy in3D, xe tự lái, các vật liệu mới và công nghệ nano v.v… Bên cạnh phục vụ chonhững mục đích nhân văn cao cả, sự tiện nghi cho con người, làm phong phú themnền văn hóa chung của thế giới thì nó cũng rất dễ bị lợi dụng vì lợi ích riêng củamỗi quốc gia hoặc cả những cá nhân có ý đồ xấu Hậu quả là chúng đã và đang mộtcách vô tình hay cố ý áp đặt các giá trị ngoại lai, gây nguy cơ mai một, thậm chí

Trang 25

xung đột bản sắc văn hóa dân tộc dẫn đến xung đột quốc gia, dân tộc, sắc tộc, tôngiáo.

Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ nền văn hóanông nghiệp lúa nước, nên các giá trị văn hóa truyền thống chịu sự tác động và dầnbiến đổi theo hướng hiện đại Dẫu rằng theo quy luật vận động phát triển thì sựbiến đổi ấy theo xu hướng tích cực là chủ yếu, song nó vẫn bị ảnh hưởng khôngnhỏ bởi các yếu tố tiêu cực

Các giá trị coi trọng tính cộng đồng, ưa hài hòa linh hoạt; đề cao tình đoànkết, hòa hiếu, bao dung, trọng tình, dễ thích nghi, hướng đến ổn định tiếp tục đượcbảo tồn, phát huy bởi mang đậm đặc trưng của văn hóa lúa nước, nông dân, nôngthôn, nông nghiệp, xóm làng Tuy nhiên tình trạng suy thoái giá trị và phát sinh cácphi giá trị đang chưa được ngăn chặn hiệu quả Niềm tin của người dân đang bị suygiảm nghiêm trọng bởi những vi phạm trên lĩnh vực an toàn thực phẩm, giao thông,chất lượng y tế giáo dục Nguy hại hơn bởi tội phạm, tệ nạn xã hội, cướp giật; nạn

cờ bạc, số đề, ma túy, mại dâm; nạn tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, nạn hối lộ;nạn bạo hành… Những tiêu cực trong biến đổi văn hóa còn thể hiện ở những phigiá trị có nguồn gốc từ tính cộng đồng làng xã, nay đang có xu hướng lan rộng, đólà: tư tưởng cục bộ địa phương, cảm tính, manh mún; thói cào bằng đố kỵ; bệnhhẹp hòi, ích kỷ; bệnh háo danh; bệnh thành tích; bệnh phong trào, hình thức; bệnhnói xấu sau lưng; bệnh vô cảm… Đó là sự đối lập gay gắt giữa hệ giá trị văn hóatruyền thống nông nghiệp - nông thôn với mặt trái của quá trình phát triển hướngtới xã hội công nghiệp - đô thị Thi hào Nguyễn Trãi đã từng đúc kết:

“Như nước Đại Việt ta từ trướcVốn xưng nền văn hiến đã lâu…”

Ngày đăng: 18/05/2022, 02:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 04-NQ/HNTW Hội nghị lần thứ tư BCHTW Đảng (Khóa VII) về một số nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ những năm trước mắt, ngày 14/01/1993; https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-vii/nghi-quyet-so-04-nqhntw-hoi-nghi-lan-thu-tu-bchtw-dang-khoa-vii-ve-mot-so-nhiem-vu-van-hoa-van-nghe-nhung-nam-truoc-1129 Link
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 Hội nghị lần thứ năm BCHTW Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-viii/nghi-quyet-so-03-nqtw-ngay-1671998-hoi-nghi-lan-thu-nam-bchtw-dang-khoa-viii-ve-xay-dung-va-phat-trien-nen-van-hoa-viet-6816. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014, Hội Link
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Khác
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016 Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w