1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

84 19 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lo Âu Học Đường Của Học Sinh Trung Học Cơ Sở Thành Phố Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Trần Thị Thanh Huyền
Người hướng dẫn TS. Phạm Phương Thảo
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Ý nghĩa lý luận Nghiên cứu lý luận của đề tài đã xác định được các khái niệm công cụ mà cụ thể là khái niệm về lo âu, lo âu học đường, và lo â

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:TS Phạm Phương Thảo

Hà Nội - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả trong luận văn “Lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chính Minh” là trung thực, chưa được sử dụng trong bất kỳ luận văn nào

Tp Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm 2021

Học viên ký tên

Trần Thị Thanh Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Quý Thầy Cô Khoa Tâm lý – Giáo dục – thuộc Học viện Khoa học Xã hội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đầy trách nhiệm cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn cao học Với sự nhiệt tâm truyền đạt, hướng dẫn tận tình của Quý Thầy Cô, bản thân tôi nói riêng, các học viên trong lớp nói chung đã được tiếp thu một số kiến thức cơ bản về tâm lý học và tâm lý trường học

Đồng hành cùng với tôi trong suốt quá trình làm luận văn của mình, tôi không thể không nhắc tới TS Phạm Phương Thảo, một người Cô đáng kính đã luôn sát cánh bên tôi những lúc khó khăn nhất trong mùa dịch bệnh Covid - 19, Cô luôn là người hỗ trợ nhiệt tình về chuyên môn, lẫn những kinh nghiệm cuộc sống và đạo đức nghề nghiệp, là người gợi ý ban đầu cho tôi có những ý tưởng nghiên cứu liên quan đến đề tài Tôi xin chân thành gửi lời cám ơn sự giúp đỡ của Cô TS Phạm Phương Thảo đã truyền cho tôi trong suốt thời gian vừa qua

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã luôn ủng hộ trong suốt chặng đường tham gia lớp học cao học của mình

Vì đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên của bản thân, và bản thân cũng đã cố gắng hết sức, tuy nhiên vẫn còn nhiều thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của Quý Thầy Cô nhằm giúp đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cám ơn

TP Thủ Đức, ngày tháng năm 2021

Học viên

Trần Thị Thanh Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 8

1.1.Khái niệm lo âu và rối loạn lo âu 8

1.1.1.Khái niệm lo âu 8

1.1.2.Rối loạn lo âu 9

1.1.3.Phân biệt giữa lo âu và rối loạn lo âu 9

1.2.Lo âu học đường của học sinh Trung học cơ sở 10

1.2.1.Khái niệm lo âu học đường 10

1.2.2.Những dấu hiệu của lo âu học đường 11

1.2.3.Nguyên nhân lo âu học đường 12

1.2.4.Học sinh Trung học cơ sở 12

1.2.5.Khái niệm lo âu học đường của học sinh Trung học cơ sở 17

1.3.Những yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học đường của học sinh Trung học cơ sở 18

1.3.1.Yếu tố khách quan 18

1.3.2.Yếu tố chủ quan 19

Tiểu kết Chương 1 20

Chương 2.TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 21

2.1.Tổ chức nghiên cứu 21

2.1.1.Địa bàn nghiên cứu 21

2.1.2.Khách thể nghiên cứu 22

2.1.3.Kế hoạch nghiên cứu 24

2.2.Phương pháp nghiên cứu 25

2.2.1.Thang đo lo âu học đường Phillips 25

2.2.2.Phương pháp nghiên cứu tài liệu 26

2.2.3.Phương pháp phỏng vấn sâu 27

Trang 6

2.2.4.Phương pháp điều tra bảng hỏi 28

2.2.5.Phương pháp xử lý số liệu 28

2.2.6.Phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả 28

Tiểu kết chương 2 29

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 30

3.1.Thực trạng lo âu học đường của học sinh THCS Thành phố Thủ Đức 30

3.1.1.Mức độ lo âu học đường 30

3.1.2.Mức độ lo âu theo từng yếu tố thành phần của lo âu học đường 31

3.1.3.Các yếu tố liên quan đến lo âu học đường ở học sinh 41

3.1.4.Các yếu tố liên quan đến lo âu học đường nói chung (yếu tố thành phần) ở học sinh 43

3.1.5.Các yếu tố liên quan đến stress xã hội (yếu tố thành phần) ở học sinh 45

3.1.6.Các yếu tố liên quan đến sự hụt hẫng nhu cầu đạt thành tích (yếu tố thành phần) ở học sinh 46

3.1.7.Các yếu tố liên quan đến “lo âu liên quan đến sự tự thể hiện” (yếu tố thành phần) ở học sinh 47

3.1.8.Các yếu tố liên quan đến “lo âu liên quan đến các tình huống kiểm tra kiến thức” (yếu tố thành phần) ở học sinh 49

3.1.9.Các yếu tố liên quan đến Lo không thỏa mãn mong đợi của người khác (yếu tố thành phần) ở học sinh 51

3.1.10.Các yếu tố liên quan đến Khả năng chống đỡ stress sinh lý thấp (yếu tố thành phần) ở học sinh 53

3.1.11.Các yếu tố liên quan đến “Lo âu liên quan đến quan hệ với giáo viên” (yếu tố thành phần) ở học sinh 55

Tiểu kết chương 3 56

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

(Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ)

Centers for Disease Control and Prevention (Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ)

(Thang đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu, stress 21)

Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần IV)

(Thang đo lo âu của Hamilton)

(Phân loại quốc tế về bệnh)

(Bảng hỏi đánh giá sức khỏe bệnh nhân 9)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng và tỷ lệ học sinh, phân theo khối lớp, học lực, giới tính 22

Bảng 2.2 Đặc điểm về gia đình của học sinh (n=65) 23

Bảng 2.3.Kế hoạch thực hiện luận văn 24

Bảng 3 1 Mức độ lo âu học đường của học sinh (n=65) 30

Bảng 3 2 Lo âu học đường nói chung 31

Bảng 3 3 Stress xã hội 32

Bảng 3 4 Sự hẫng hụt nhu cầu đạt được thành tích 34

Bảng 3 5 Lo âu liên quan đến sự tự thể hiện 35

Bảng 3 6 Lo âu liên quan đến các tình huống kiểm tra kiến thức 36

Bảng 3 7 Lo không thỏa mãn sự mong đợi của người khác 37

Bảng 3 8 Khả năng chống đỡ stress sinh lý thấp 38

Bảng 3 9 Lo âu liên quan đến quan hệ với giáo viên 39

Bảng 3 10 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với lo âu học đường ở học sinh 41

Bảng 3 11 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với lo âu học đường ở học sinh 42

Bảng 3 12 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với lo âu học đường nói chung ở học sinh 43

Bảng 3 13 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với lo âu học đường nói chung ở học sinh 43

Bảng 3 14 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với stress xã hội ở học sinh 45

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với stress xã hội ở học sinh 45 Bảng 3 16 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với sự hụt hẫng nhu cầu đạt thành tích ở học sinh 46

Trang 9

Bảng 3 17 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với sự hụt hẫng nhu cầu đạt thành tích ở học sinh 47 Bảng 3 18 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với lo âu liên quan đến sự tự thể hiện ở học sinh 47 Bảng 3 19 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với lo âu liên quan đến sự tự thể hiện ở học sinh 48 Bảng 3 20 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với lo âu liên quan đến các tình huống kiểm tra kiến thức ở học sinh 49 Bảng 3 21 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với lo âu liên quan đến tình huống kiểm tra kiến thức ở học sinh 50 Bảng 3 22 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với lo không thỏa mãn mong đợi của người khác ở học sinh 51 Bảng 3 23 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với lo âu không thỏa mãn mong đợi của người khác ở học sinh 52 Bảng 3 24 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với khả năng chống đỡ stress sinh lý thấp ở học sinh 53 Bảng 3 25 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với Khả năng chống đỡ stress sinh lý thấp ở học sinh 54 Bảng 3 26 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với Lo âu liên quan đến quan hệ với giáo viên ở học sinh 55 Bảng 3 27 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với Lo âu liên quan đến quan hệ với giáo viên ở học sinh 56

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3 1 So sánh các yêu tố lo âu học đường học sinh cơ sở tại thành phố Thủ Đức 40

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, một số trường đã có phòng tham vấn tâm lý học đường với các cán

bộ tâm lý có khả năng hỗ trợ các vấn đề tâm lý không quá phức tạp, giúp các em học sinh được tiếp cận với các chương trình phòng ngừa sớm và ngay tại trường học 62 - 71% học sinh mong muốn có chuyên gia tư vấn trong trường học Các mạng lưới tâm lý học đường được kết nối với các cơ sở y tế Tuy nhiên, việc này chưa được triển khai đồng đều tại các trường học, sự gắn kết vẫn còn lỏng lẻo Tại Việt Nam, theo khảo sát mới nhất của UNICEF về tình hình sức khỏe tâm thần, ước tính thanh thiếu niên cần chăm sóc, điều trị sức khỏe tâm thần là 12% khoảng 3 triệu em, trong đó phổ biến: trầm cảm, rối loạn lo âu và tăng động giảm chú ý Tuy rối loạn lo âu không nguy hiểm đến tính mạng con người nhưng không được can thiệp kịp thời sẽ để lại nhiều ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, kết quả học tập, quan hệ xã hội của các em trong tương lai (UNICEF Việt Nam, 2018) [12]

Đối với học sinh THCS khi gặp khó khăn tâm lý, nhất là vấn để lo âu học đường được biểu hiện rất đa dạng ở tất cả các mặt như nhận thức, hành vi và thái

độ Các em bắt đầu có nhu cầu nhận thức và đánh giá về bản thân mình với tư cách

là một thành viên xã hội, mức độ ý thức chưa bền vững nên thường đánh giá thấp bản thân mình, so sánh bản thân với bạn đồng trang lứa, người lớn Đồng thời các

em đôi khi có suy nghĩ mình kém cỏi, bi quan, sai lệch về bản thân mình dẫn đến chán nản, bỏ học, gặp vấn đề khó khăn trong học tập, mối quan hệ với thầy cô, bạn

bè kém, các em thường tự tìm biện pháp khắc phục khó khăn tâm lý mà không nhờ đến chuyên gia tâm lý trường học, giáo viên, phụ huynh cho đến khi vấn đề quá nghiêm trọng thì khó có thể khắc phục

Tính đến thời điểm hiện nay các công trình nghiên cứu về vấn đề lo âu học đường ở học sinh THCS ở nước ta rất ít Kết quả từ các nghiên cứu đều cho thấy tỷ

lệ học sinh có các biểu hiện sức khỏe tâm thần nói chung, lo âu nói riêng ở trường

học là khá cao Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh”

Trang 12

nhằm tìm hiểu thực trạng biểu hiện rối loạn lo âu ở học sinh từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm làm giảm những biểu hiện lo âu ở học sinh trung học cơ sở

2 Tình hình nghiên cứu về vấn đề

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Các nghiên cứu về lo âu trên thế giới về lo âu ở học đường cũng được quam tâm từ rất sớm như 1 nghiên cứu ở tại Úc, tác giả Gaudry và Bradshaw (Gaudry & Bradshaw, 1970) đã tiến hành nghiên cứu trên trẻ 14 tuổi tại mỗi trường thuộc trong

số 14 trường công lập ở Melbourne Chọn ra một lớp 7 hoặc 8, có ít nhất 24 học sinh thuộc một giới tính để tiến hành Giả thuyết thực nghiệm là những trẻ có mức

độ lo lắng ở bài kiểm tra cao sẽ có kết quả tương đối tốt hơn trong điều kiện ít căng thẳng hơn khi kiểm tra tiến độ so với kiểm tra cuối kỳ khi so sánh với những đứa trẻ với mức lo lắng thấp trong cùng một lớp đã được xác nhận Điều đó có nghĩa nhóm khách thể với mức độ lo lắng cao có kết quả kém hơn so với nhóm ít lo lắng hơn, và hơn nữa nhóm với mức độ lo lắng thấp sẽ ít bị ảnh hưởng khi kiểm tra quá trình hơn

so với khi thi cuối kỳ với điểm trung bình lần lượt là (Điểm kiểm tra quá trình của nhóm với mức lo âu thấp là 8.39, đối với nhóm lo âu cao là 7.64 Điểm kiểm tra cuối kỳ của nhóm với mức lo âu thấp là 8.69, đối với nhóm lo âu cao là 7.41) [16] Một số bài nghiên cứu gần hơn như bài nghiên cứu của Joanne Locker và Mark Cropley (Locker & Cropley, 2004), nghiên cứu về lo âu, trầm cảm và tự tín ở học sinh trung học, nghiên cứu khảo sát trên 520 mẫu hoàn thành 2 kỳ kiểm tra ở 2 trường trung học tuổi từ 13 đến 15, thời điểm 1 sẽ thông báo kiểm tra SATs/GCSEs trước 6-8 tuần sau đó kiểm tra, thời điểm 2 lúc kiểm tra cuối kỳ, kết quả cho thấy môi trường học có ảnh hưởng lên lo âu theo thang đo RCMAS thời điểm 1, (F(3,508) = 4.2, p < 0.005), thời điểm 2 (F(3,508) = 4.9, p < 0.002), phần lo lắng trong thang đo, (F(3,508) = 6.4, p < 0.001), và (F(3,508) = 8.3, p < 0.001), kiểm tra trình độ không ảnh hưởng đến lo lắng và trầm cảm, có sự khác biệt giữa nam và nữ

về chống chịu stress về mặt sinh lý trước kì kiểm tra kiến thức, đối với nữ (F(1,508)

= 5.580, p < 0.01), đối với nam giới (F(1,498 = 5.879, p < 0.01), điều này chứng tỏ sức chịu đựng thể lý cao hơn nữ [18]

Trang 13

Bài nghiên cứu của David William Putwain và Rachel Anne Daniels (Putwain

& Daniels, 2010), nghiên cứu về mối liên hệ giữa niềm tin năng lực và lo lắng bài kiểm tra có ảnh hưởng bởi định hướng mục tiêu hay không?, nghiên cứu trên 202 mẫu ở độ tuổi giữa 11 và 12 (lớp 7) bằng phương pháp thống kê mô tả, kết quả nghiên cứu cho thấy có tương quan giữa nam và nữ trong kỳ vọng về điểm kiểm tra

0.04), nữ (M = 4.49, SD = 1.50) có định hướng tốt hơn nam (M = 4.04, SD = 1.33),

nhận thức tốt hơn nam (M = 4.46, SD = 1.09), học sinh có niềm tin vào năng lực thấp thường có xu hướng né tránh môn toán (t = 12.81, p < 0.001) và học sinh có niềm tin vào năng lực toán (t = 8.27, p < 0.001) [21]

Trong nghiên cứu của Neal và đồng nghiệp (Neal, Rice, Ng-Knight, Riglin, & Frederickson, 2016), nghiên cứu về mối liên hệ giữa biện pháp can thiệp hỗ trợ quá trình chuyển cấp từ tiểu học lên trung học cơ sở, thiết kế nghiên cứu theo hồi quy với 532 trẻ tham gia khảo sát trong đó có 89 trẻ SEN (Special education needs: cần giáo dục đặc biệt) chia làm 2 nhóm: can thiệp và độc lập, kết quả nghiên cứu cho thấy, lo âu ở mức độ tiếp xúc trẻ SEN và điển hình không có sự khác biệt (nhận thức: t(619) = 1.51, p = 0.13; hành vi: t(619) = -1.54, p = 0.13; hệ thống t(619) = -0.65, p = 0.51), khi chuyển trường cho thấy cả 2 nhóm đều lo lắng chung (lo âu từ

0.63), những trẻ trong nhóm SEN được can thiệp lo âu thấp hơn nhóm học sinh phát triển điển hình ở nhóm độc lập (p < 0.05), những phát hiện ở nghiên cứu cho thấy trẻ SEN cần được can thiệp sẽ ảnh hưởng hiệu quả trong việc học tập [20]

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Việt Nam dần quan tâm đến sức khoẻ tinh thần, đề tài về lo âu học đường cũng bắt đầu được nghiên cứu nằm mục đích giúp học sinh không chỉ có kiến thức tốt mà còn có sức khoẻ tinh thần tốt

Trong nghiên cứu của Đào Thị Tuyết với đề tài thực hiện vào năm 2014 với khách thể bao gồm 224 học sinh thuộc 4 khối lớp Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ

Trang 14

học sinh có vấn đề với Sức khỏe tinh thần là 21.9%, có vấn đề cảm xúc là 15.2%, 17.4% là vấn đề hành vi, 12.9% là vấn đề tăng động giảm chú ý, 27.7% là các vấn đề với bạn bè và 19.2% là các vấn đề kỹ năng tiền xã hội Cụ thể yếu tố về sức khỏe tinh thần được đề cập trong bài nghiên cứu là vấn đề bạo lực học đường, có mối tương quan dương giữa vấn đề sức khỏe tinh thần và vấn đề bạo lực học đường [10]

Nghiên cứu của Huỳnh Văn Sơn và cộng sự vào năm 2019 với đề tài thực hiện trên 336 trẻ sống trong gia đình có cha mẹ ly hôn và gia đình mẹ đơn thân, với độ tuổi từ 6 đến 15 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cùng các tỉnh thành khác gồm Long An và Tây Ninh Kết quả cho thấy mức độ quan tâm của cha mẹ với con cái ở gia đình không toàn vẹn vẫn rất cao cụ thể là 51.02% ở mức cao, 44.89% ở mức trung bình, và mức thấp chỉ có 4.08% Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng biểu hiện lo âu của trẻ em trong gia đình không toàn vẹn với điểm trung bình là 1.74 [7]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Sương thực hiện đề tài trên 364 học sinh Trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 8 ở các tỉnh thành thuộc miền Nam bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre và Kiên Giang Tác giả đưa ra giả thuyết rằng các mức độ bị bắt nạt

có tương quan thuận với lo âu-trầm cảm và các học sinh với mức độ bị bắt nạt một cách thường xuyên về thể chất, tinh thần, kinh tế và tình dục sẽ có mức lo âu và trầm cảm cao Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tần suất bắt nạt ở học sinh là thấp với (Điểm trung bình =0.23), cụ thể việc bắt nạt về tinh thần là thường xuyên nhất (Điểm trung bình =0.36) và bắt nạt về tình dục là thấp nhất (Điểm trung bình =0/07) Ngoài ra, tỷ lệ học sinh có lo âu chiếm 34.6%, trong đó có 23.1% lo âu nhẹ, 8.5% lo âu vừa, 3.0% lo

âu nặng; trong đó tỷ lệ học sinh yếu bị bắt nạt chiếm cao nhất (Điểm trung bình =2.6) tiếp theo là học sinh giỏi (ĐTB=2.03), hai nhóm cuối cùng là học sinh khá và trung bình chiếm tỷ trọng ít nhất với lần lượt (ĐTB=1.67 và 1.52) So sánh tương quan Pearson cho thấy, mức độ bị bắt nạt có tương quan thuận với mức độ trầm cảm và lo

âu Cụ thể, mối tương quan giữa bắt nạt tinh thần và lo âu là cao nhất với mức trung bình (r=0.463, p=0.000); đối với bắt nạt thể chất, tình dục và kinh tế với mức độ tương quan thấp hơn (r<0.3,p<0.000) [8]

Trang 15

Trong bài nghiên cứu của Tác giả Trần Thị Huyền nhằm mô tả về thực trạng

và các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu tại học sinh Trung học cơ sở Thực hiển trên 447 học sinh ở một trường cấp 2 tại tỉnh An Giang Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh có nguy cơ lo âu là 16.58%, ở mức tương đối cao Ngoài ra có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến mức độ lo âu tại học sinh, trong đó cao nhất là yếu tố về học tập và yếu

tố gia đình [3]

Trong nghiên cứu của Trương Quang Lâm và cộng sự vào năm 2020 đã thực hiện đề tài trên 1782 học sinh Trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9 thuộc 2 tỉnh Quảng Ninh, Thành phố Hạ Long và huyện Vân Đồn Kết quả cho thấy học sinh có nhu cầu được tham vấn tâm lý cao nhất là về kỹ năng sống, hoặc định hướng nghề nghiệp (ĐTB=4.09), thứ hai là vấn đề về tinh thần (ĐTB=3.93), xếp thứ ba là khía cạnh về các mối quan hệ học đường (ĐTB=3.57) Việc lựa chọn của học sinh cũng phần nào phản ánh về các vấn đề về định hướng tương lai cũng như các vấn đề về tinh thần [4]

Trong nghiên cứu của Đinh Văn Tài và cộng sự trong một bài nghiên cứu vào năm 2020 thực hiện trên 840 học sinh thuộc 3 trường cấp 2 thuộc tỉnh Hưng Yên cho thấy tỷ lệ lo âu chung chiếm 9.5%, lo âu nhẹ là 7.1%, dựa trên tổng số học sinh điều tra Tỷ lệ lo âu ở học sinh nam (chiếm 9,2%) thấp hơn ở học sinh nữ (chiếm 9,8%) Trong số những học sinh có lo âu: lo âu nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất (75%) Khối 8 có tỷ lệ lo âu cao nhất (15,9%), tiếp đến là khối 7 (10,7%), khối 9 (5,9%), khối 6 (5,5%) Mức độ lo âu nhẹ ở học sinh các khối: khối 8 (12,1%), khối 7 (7,5%), khối 6 (4,5%), khối 9 (4,1%) Tỷ lệ lo âu ở học sinh THCS khá cao nhưng chủ yếu là lo âu mức độ nhẹ Tỷ lệ lo âu ở học sinh nam thấp hơn học sinh nữ [9]

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở, từ đó nghiên cứu đề xuất một số biện pháp ứng phó nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng lo âu học đường, góp phần nâng cao hiệu quả học tập và công tác giảng dạy

Trang 16

Nhiệm vụ nghiên cứu

Khái quát hóa một số vấn đề cơ bản về lo âu, lo âu học đường, lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở nhằm xây dựng cơ sở lý luận và đưa ra khái niệm công cụ cho đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng biểu hiện lo âu học đường của học sinh trung học

Đề xuất một số biện pháp ứng phó góp phần giảm thiểu tình trạng lo âu của học sinh nói chung, của học sinh trung học cơ sở nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố ảnh hưởng tới lo âu

Phạm vi nghiên cứu

Về địa bàn nghiên cứu: đề tài thực hiện nghiên cứu thực trạng tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh như sau: Trường Trung học cơ sở Lương Định Của, trường trung học cơ sở An Phú và trường trung học cơ sở Hưng Bình

Về khách thể nghiên cứu: trong quá trình nghiên cứu đề tài tiến hành đánh giá

và sàng lọc 65 học sinh trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9 tại các trường trung học

cơ sở trên địa bàn thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

Về đối tượng nghiên cứu: đề tài thực hiện nghiên cứu biểu hiện lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở thuộc 3 nhóm biểu hiện chính đó là nhóm biểu hiện về mặt cơ thể, nhóm biểu hiện về mặt hành vi và nhóm biểu hiện về mặt nhận thức

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp nghiên cứu bảng hỏi

Trang 17

Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp toán thống kê

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu lý luận của đề tài đã xác định được các khái niệm công cụ mà cụ thể là khái niệm về lo âu, lo âu học đường, và lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở, xác định các biểu hiện lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở và

từ đó đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng lo âu học đường ở học sinh trung học cơ sở Nhằm góp phần hoàn thiện và làm phong phú hơn các nghiên cứu lý luận tâm lý học nói chung, tâm lý học trường học nói riêng

Sử dụng một số thang đo nhằm lượng giá về lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở, từ cơ sở đó đề tài đã đưa ra một số đề xuất kiến nghị nhằm giúp làm giảm thiểu tình trạng lo âu học đường của học sinh

Đề tài nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, giáo viên, phụ huynh, chuyên gia tâm lý học đường

7 Kết cấu luận văn

Cơ cấu của luận văn bao gồm những nội dung cụ thể như sau:

Ngoài các mục mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương đó là:

Chương 1: Cơ sở lý luận về lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Khái niệm lo âu và rối loạn lo âu

1.1.1 Khái niệm lo âu

Tác giả KE Jastrowski Mano viết năm 2017, cho rằng lo lắng học đường nó bao gồm các khó khăn trong học tập và giữa các cá nhân với nhau, chẳng hạn như nổi sợ liên quan đến học tập, đánh giá tiêu cực của giáo viên, các mối quan hệ đồng đẳng, lo lắng học đường thường liên quan đến hành vi trốn học, lo lắng trường học

sử dụng để mô tả cảm xúc nhận thức của trẻ, việc trốn học được xem như là một biểu hiện hành vi của sự lo lắng hoặc nghiêm trọng hơn là một biến chứng về hành

vi kèm theo các rối loạn lo âu ở trẻ Nói cách khác lo lắng trường học diễn ra khi một đứa trẻ trải qua sự lo lắng nghiêm trọng liên quan đến trường và dẫn tới việc trẻ trốn tránh trường học [17]

Trong bài nghiên cứu của Diane Peter Mayer về lo lắng học đường, một phần

là do trẻ mang các vấn đề ở nhà đến trường bao gồm bị rối loạn lo âu, bị khuyết tật học tập, đối phó với các vấn đề gia đình như cha mẹ ly hôn, chấn thương thời thơ

ấu, một phần là do môi trường học đường cụ thể là đánh giá, thành tích và kiểm tra, ngoài ra còn có các yếu tố khác như áp lực từ bạn bè, bị bắt nạt hoặc không hòa hợp với giáo viên [19]

Theo tác giả Nguyễn Thị Vân, trong nghiên cứu “ lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” năm 2019 cho rằng lo âu học đường là một trạng thái lo lắng, căng thẳng, sợ hãi quá mức, những lo lắng, vất an liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ học đường, xuất hiện trong không gian trường học, Trạng thái này thường kéo dài và lặp đi lặp lại gây ảnh hưởng đến tiến trình và kết quả học tập, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống tinh thần của các em Trong nghiên cứu của tác giả cũng đồng nhất khái niệm lo âu học đường bằng thuật ngữ rối loạn lo âu học đường [13]

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi cho rằng lo âu học đường

là những biểu hiện lo lắng, sợ hãi quá mức, nó hình thành trong một thời gian dài

Trang 19

và có liên quan đến các yếu tố như học tập, mối quan hệ bạn bè, thầy cô, nó ảnh hưởng đến cuộc sống của các em học sinh

1.1.2 Rối loạn lo âu

Theo DSM – V thì rối loạn lo âu lan tỏa là dạng phổ biến nhất của rối loạn lo

âu, nó được đặc trưng bởi sự lo lắng không thực tế hoặc quá nhiều hoặc lo lắng về hai hay nhiều tình huống cuộc sống trong ít nhất 6 tháng, nếu có biểu hiện các tiêu chí của rối loạn lo âu lan tỏa rất có thể đã gặp hoặc đang đáp ứng các tiêu chí cho

RL lo âu khác và các RL trầm cảm đơn cực

Tiêu chuẩn để chẩn đoán rối loạn lo âu lan tỏa theo DSM – V như sau:

A Sự lo lắng quá mức hoặc lo lắng hiện diện trong hầu hết các ngày trong suốt 1 thời gian ít nhất sáu tháng, liên quan đến một số sự kiện cuộc sống (vd: về việc làm ăn hoặc kết quả học tập)

B BN khó kiểm soát cơn lo lắng

C Có ít nhất ba trong số những biểu hiện sau: (đối với trẻ em chỉ cần 1)

- Bồn chồn hoặc cảm giác bị khóa cứng hay trên bờ vực

- Dễ mệt mỏi

- Khó tập trung

- Khó chịu

- Cơ bắp căng thẳng

- Rối loạn giấc ngủ

D Trọng tâm của sự lo lắng không phải là sự lo lắng tiên liệu trước về việc có một cơn hoảng loạn, như trong RL hoảng loạn

E Những lo lắng hay triệu chứng cơ thể gây ra đau khổ đáng kể hoặc suy giảm hoạt động

Các triệu chứng không được gây ra bởi việc sử dụng chất gây nghiện hoặc một bệnh lý, và cac triệu chứng không liên quan đến một rối loạn khí sắc hoặc rối loạn tâm thần [14]

1.1.3 Phân biệt giữa lo âu và rối loạn lo âu

Chúng ta cần phân biệt giữa lo âu bình thường và rối loạn lo âu dựa trên biểu hiện thời gian, triệu chứng cơ thể, rối loạn hệ thần kinh ngoại biên,… Theo DSM –

Trang 20

V phân biệt rối loạn lo âu và lo âu thông thường phân biệt bởi 2 yếu tố trên là trạng thái lo lắng thái quá và cá nhân có khó khăn hoặc mất kiểm soát lo âu Trải nghiệm

lo âu khó kiểm soát cảm xúc bản thân, những cảm xúc tiêu cực thường tạo ra đảo lộn hay mất năng lực trong phạm vi cá nhân

Đối với lo âu bình thường, lo âu về vấn đề có nội dung rõ ràng như bệnh tật, công việc,… Chỉ diễn ra trong thời gian khi các sự kiện đang diễn ra và hết lo âu khi sự kiện kết thúc Triệu chứng thường không có hoặc rất ít tối loạn hệ thần kinh ngoại biên

Đối với rối loạn lo âu, lo âu không cho chủ đề rõ ràng, mang tính chất vô lý,

mơ hồ như lo lắng về tương lai Thời gian lo âu thường kéo dài và lặp đi lặp lại Người có rối loạn gặp nhiều rối loạn hệ thần kinh ngoại biên như: mạch đập nhanh,

thở gấp, khô miệng, vã mồ hôi nhiều, lạnh tay chân, run, bất an,…

1.2 Lo âu học đường của học sinh Trung học cơ sở

1.2.1 Khái niệm lo âu học đường

Tác giả KE Jastrowski Mano (2017) cho rằng lo lắng học đường nó bao gồm các khó khăn trong học tập và giữa các cá nhân với nhau, chẳng hạn như nổi sợ liên quan đến học tập, đánh giá tiêu cực của giáo viên, các mối quan hệ đồng đẳng, lo lắng học đường thường liên quan đến hành vi trốn học, lo lắng trường học sử dụng

để mô tả cảm xúc nhận thức của trẻ, việc trốn học được xem như là một biểu hiện hành vi của sự lo lắng hoặc nghiêm trọng hơn là một biến chứng về hành vi kèm theo các rối loạn lo âu ở trẻ Nói cách khác lo lắng trường học diễn ra khi một đứa trẻ trải qua sự lo lắng nghiêm trọng liên quan đến trường và dẫn tới việc trẻ trốn tránh trường học [17]

Lo lắng học đường, một phần là do trẻ mang các vấn đề ở nhà đến trường bao gồm bị rối loạn lo âu, bị khuyết tật học tập, đối phó với các vấn đề gia đình như cha

mẹ ly hôn, chấn thương thời thơ ấu, một phần là do môi trường học đường cụ thể là đánh giá, thành tích và kiểm tra, ngoài ra còn có các yếu tố khác như áp lực từ bạn

bè, bị bắt nạt hoặc không hòa hợp với giáo viên [19]

Theo tác giả Nguyễn Thị Vân, trong nghiên cứu “ lo âu học đường của học

Trang 21

sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” năm 2019 cho rằng lo âu học đường là một trạng thái lo lắng, căng thẳng, sợ hãi quá mức, những lo lắng, vất an liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ học đường, xuất hiện trong không gian trường học, Trạng thái này thường kéo dài và lặp đi lặp lại gây ảnh hưởng đến tiến trình và kết quả học tập, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống tinh thần của các em Trong nghiên cứu của tác giả cũng đồng nhất khái niệm lo âu học đường bằng thuật ngữ rối loạn lo âu học đường [13]

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi cho rằng “lo âu học đường là những biểu hiện lo lắng, sợ hãi quá mức, nó hình thành trong một thời gian dài và có liên quan đến các yếu tố như học tập, mối quan hệ bạn bè, thầy cô,

nó ảnh hưởng đến cuộc sống của các em học sinh”

1.2.2 Những dấu hiệu của lo âu học đường

Lo âu học đường ở lứa tuổi cấp 2, những biểu hiện qua thể lý, tâm lý ảnh hưởng đến thể lý như một số trẻ phát triển lo âu sớm biểu hiện về mặt cơ thể: đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy

Đối với mặt xã hội, trẻ có rối loạn lo âu dần tự tách mình khỏi hoạt động nhóm, ít vui chơi, phụ thuộc cha mẹ cao hơn Thỉnh thoảng khó kiểm soát cảm xúc,

có cảm xúc thái quá với sự kiện không đáng kể

Những biểu hiện cơ bản chẩn đoán: Xuất hiện lo lắng thái quá trong vòng 6 tháng, mất tự tin thường xuyên tự phê bình, không thể kiểm soát cảm xúc, biểu hiện

cơ thể đau nhức cơ, khó tập trung, đồng hồ sinh học bị rối loạn, lo lắng quá mức vấn đề chưa xảy ra,…

Lo âu học đường có những biểu hiện như sau: Các em thường cố gắng tìm kiếm sự công nhận, ủng hộ của giáo viên; trẻ không hiểu tại sao mình lại gặp vấn đề

lo lắng khi giao tiếp với giáo viên và khả năng tự chấm dứt lo lắng là không có, mặc

dù đã được người lớn trấn an; trẻ hay tránh xa việc học hành hoặc các hoạt động liên quan đến trường học, bạn bè; trẻ thiếu tự tin; trẻ gặp phải tình trạng khó tập trung nhất là việc học; lãng tránh hoặc tìm cách không tới trường học dẫn tới việc trẻ hay bị đi học muộn, hay bệnh, hay ngủ nướng; hoặc miễn cưỡng tới trường tuy

Trang 22

nhiên việc học lại không hiệu quả; giấc ngủ bị rối loạn; một số bệnh lý mãn tính, rối loạn tăng động giảm chú ý, ám ảnh xã hội, hoảng sợ, chia ly cũng có biểu hiện kèm theo lo lắng, lo sợ bố mẹ mắng hoặc phiền lòng khi bị điểm kém, lo lắng rằng mình đã làm đúng hay chưa mỗi khi làm xong bài, cảm giác lo sợ bị thầy (cô) trách phạt khi không hoàn thành các bài tập được giao, thường lo sợ khi trả lời sai hoặc làm sai bài tập kiểm tra ở lớp, lo sợ mình bị xếp loại học tập kém hoặc bị lưu ban

Nói tóm lại, lo âu học đường ở trẻ thể hiện qua ba mặt chính đó là mặt cơ thể, mặt hành vi và mặt cảm xúc

1.2.3 Nguyên nhân lo âu học đường

Tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương (2008) trong nghiên cứu của mình cho rằng nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu phần lớn là do nhóm nguyên nhân liên quan đến gia đình (chủ yếu liên quan đến kinh tế gia đình chiếm 68.89%), nhóm liên quan đến học tập (chủ yếu liên quan đến yếu tố phải thi đậu đại học chiếm 96.7%), nhóm liên quan đến cá nhân học sinh (chiếm 98.9% yếu tố liên quan đến cảm thấy thua kém bạn bè), nhóm liên quan đến các mối quan hệ xã hội (chiếm 28.9% liên quan

đến mâu thuẫn với bạn bè).[6]

1.2.4 Học sinh Trung học cơ sở

1.2.4.1 Khái niệm học sinh Trung học cơ sở

Trung học cơ sở là một bậc học trong hệ thống giáo dục của Việt Nam, sau tiểu học và trước trung học phổ thông, trung học cơ sở kéo dài 4 năm từ lớp 6 đến lớp

9, độ tuổi học sinh ở trường trung học cơ sở từ 11 đến 15 tuổi

Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn mà thường được gọi với những cái tên như: “tuổi dậy thì”, “tuổi nổi loạn”, tuổi khủng hoảng”, tuổi bất trị”

Theo thông tư 19/2017/TT-BGDĐT định nghĩa học sinh trung học cơ sở là học sinh học tại các khối lớp từ lớp 6 đến lớp 9 đang học tập tại các trường trung học cơ sở và các trường phổ thông nhiều cấp học

Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở có vị trí và ý nghĩa rất đặc biệt trong quá trình phát triển của một con người bởi vì giai đoạn này sẽ nhiều thay đổi như về mặt

Trang 23

sinh lý, về nhận thức, về cấu trúc nhân cách và cả vị thế xã hội của trẻ Nên các em phải đối mặt với những vấn đề khó khan và cả mâu thuẫn cần phải được giải quyết, không vượt qua được thì các em thường gặp một số vấn đề tâm lý có thể lâu dần trở thành bệnh lý nếu không điều trị kịp thời, còn trường hợp các em vượt qua thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các giai đoạn phát triển sau này

1.2.4.2 Đặc điểm đặc trung của lứa tuổi Trung học cơ sở

Căn nguyên của rối loạn lo âu được đặc trưng bởi sự tác động lẫn nhau phức tạp của các yếu tố di truyền và môi trường bao gồm các tương tác, tương quan giữa gen và môi trường và các cơ chế biểu sinh Mặc dù các tiêu chuẩn chẩn đoán chính của rối loạn lo âu là giống nhau trong suốt thời gian tồn tại, nhưng các đặc điểm phát triển sẽ thay đổi biểu hiện của nó Ở trẻ em, các triệu chứng hành vi là phổ biến Chúng ta có thể xem việc từ chối lời nói là một biểu hiện cụ thể của hành vi né tránh liên quan đến tuổi trẻ Vì thế, một số nhà nghiên cứu cho rằng đột biến chọn lọc là một dạng phụ của rối loạn theo lứa tuổi Mặc dù phần lớn các nhà nghiên cứu đồng ý rằng ức chế hành vi là một yếu tố nguy cơ tính khí cụ thể của tuổi tác của rối loạn lo âu, nó cũng có thể được xem như một dạng sớm, cận lâm sàng của rối loạn này Ở tuổi vị thành niên, là một phần của sự phát triển bình thường, có sự gia tăng tạm thời của chứng lo âu Tuy nhiên, ở nhóm tuổi này, tỷ lệ mắc chứng rối loạn lo

âu cũng gia tăng Rối loạn lo âu khởi phát ở người lớn là rất hiếm Ở người lớn, rối loạn lo âu phải khác với rối loạn nhân cách tránh né Rối loạn lo âu được đặc trưng bởi tính liên tục đồng mẫu mạnh mẽ, nhưng bằng chứng cho tính liên tục khác loại cũng có sẵn, đặc biệt là với các rối loạn lo âu khác và trầm cảm nặng, có thể là do yếu tố di truyền chung

Học sinh trung học cơ sở hay còn được gọi là tuổi thiếu niên, đây là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn, là giai đoạn trẻ thể hiện mạnh mẽ tình cảm và hành vi của mình nên cũng được xem là giai đoạn nổi loạn và bất trị, các em đều có chung những đặc điểm tâm sinh lý cũng như hoạt động chủ đạo là học tập cụ thể như sau:

Sự phát triển về mặt thể chất: lứa tuổi thiếu niên là giai đoạn thay đổi sinh học

Trang 24

rất nhanh, có thể ngang hàng với giai đoạn phát triển phôi thai và giai đoạn trẻ sơ sinh, nó được biểu hiện cụ thể như: các hóc môn sản sinh mạnh mẽ đối với nữ khoảng 10-11 tuổi, đối với nam 12-13 tuổi, nên giai đoạn này trẻ phát triển chiều cao và thể lực Tuyến nội tiết dưới da hoạt động mạnh mẽ dẫn đến việc xuất hiện mụn trứng cá trên mặt, tuyến mồ hôi cũng tạo ra mùi đặc trưng của cơ thể, nó cũng

là một yếu tố làm cho trẻ lo lắng khi ra ngoài Đối với nam có nhiều androgen, testosterone, đối với nữ có nhiều estrogen, progesterone các loại hóc môn này ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ quan tiếp nhận, ví dụ, ở nam testosterone tác động đến

sự phát triển của dương vật, độ rộng của bờ vai, kích thích mộc lông ở vùng sinh dục và mặt, còn ở nữ progesterone tác động đến sự phát triển của cổ tử cung, ngực,

độ lớn của hông, estrogen nó điều hòa quá trình rụng trứng đối với nữ, androgen thì điều hòa quá trinh sinh sản tinh trùng đối với nam Đây là giai đoạn phát triển chin muồi về giới tính, ở nữ đánh dấu bằng việc xuất hiện kinh nguyệt, ở nam lần đầu xuất tinh có chứa tế bào sinh sản Giai đoạn này các em thường rất quan tâm đến vẽ

bề ngoài của bản thân mình, đi ra khỏi nhà thì phải soi giương, hoặc có thể vào nhà

vệ sinh hàng giờ đồng hồ Sự thay đổi tỷ lệ cơ thể cụ thể như mất cân đối giữa các

bộ phận, béo hay gầy, cao hay thấp, da mặt nổi mụn…các em cảm thấy tự ti, không hoàn thiện bản thân, có nhiều em tự khép kín, hoặc âu sầu Các hoạt động hệ hô hấp, tuần hoàn, tim và phổi làm việc khó khan khiến cho việc đưa máu lên não không đều làm ảnh hưởng đến tâm trạng chung của trẻ, cảm xúc của tuổi thiếu niên không ổn định, kém theo đó các hóc môn sản sinh nhiều làm cho các em luôn trong trạng thái hay bút rứt, bồn chồn, khó chịu nên trong bất cứ tình huống nào các em cũng có thể cáu kỉnh, nổi khung lên

Sự phát triển về mặt nhận thức: giai đoạn tuổi trung học cơ sở là giai đoạn thao tác hình thức, tức là hành động trí óc dựa trên các suy luận logic và giả định Nên sự phát triển tư duy và trí tuệ dẫn đến sự phát triển tri giác và trí nhớ Trong giai đoạn này các em cũng phát triển khả năng tưởng tượng, nên khả năng tưởng tượng hình học không gian của các em tăng nhanh, phát triển trí nhớ nên các em học bài không phải học thuộc lòng mà thay vào đó là học hiểu Nhờ có khả năng tư duy trừu tượng mà các

Trang 25

em có thể hình dung ra các tình huống phi thực tế, chính vì vậy lứa tuổi này rất dễ bị cám dỗ vào các trò chơi mạo hiểm, trò chơi điện từ trên mạng

Sự phát triển về mặt tự ý thức: mặt tự ý thức bắt đầu phát triển từ khi trẻ còn nhỏ cho đến tuổi thiếu niên, tự ý thức của các em phát triển một cách toàn diện dựa vào các đặc điểm như phát triển mạnh mẽ về cơ thể, khả năng nhận thức của bản thân, phát triển khả năng đánh giá, phát triển tư duy logic Một khi tự ý thức phát triển thì nhân cách của các em cũng phát triển

Sự phát triển về mặt ý thức được thể hiện rõ nhất thông qua các biểu hiện như: Cảm giác mình là người lớn:

Ở lứa tuổi thiếu niên, khi các em bắt đầu bước vào lớp 6, một môi trường học tập mới, bạn bè mới, thầy cô mới, và cảm giác mình là người lớn cũng mới bắt đầu xuất hiện, nếu như khi các em mới 3 tuổi bắt đầu muốn sử dụng giầy cao gót của mẹ hoặc giầy của ba, thì giai đoạn này các em đã nhận thức được vị thế xã hội của bản thân, các em cảm giác được mình không còn trẻ con, mình có thể tự quyết định tất cả mọi việc như chọn bạn để chơi, phong cách thời trang, có sở thích riêng, yêu thích một idol nào đó, không thích ba mẹ ôm ấp hôn mình trước người khác, không thích ba mẹ, thầy cô quản lý chặt và luôn mong muốn được tôn trọng, đối xử công bằng

Những biểu hiện này phần lớn là ở bên ngoài, sự thay đổi này nó là nguyên nhân gây ra những cuộc tranh cải trong gia đình, ví dụ, trẻ thích mang đồ giống với thần tượng của mình hoặc mang theo cách phối đồ của mình nhưng ba mẹ không thích vậy và dẫn tới xung đột, hoặc ba mẹ hay mắng con vì lý do nó lỳ lợm, không sai bảo được, nên giai đoạn của lứa tuổi này là giai đoạn khủng hoảng tuổi dậy thì

Và nếu thực sự mong muốn con em mình phát triển nhân cách tốt, thể hiện được giá trị bản thân của các em thì gia đình không chỉ có hướng dạy bảo tốt mà còn phải tôn trọng quyền có tiếng nói, ý kiến riêng của các em

Tự đánh giá, tự phân tích của bản thân và của người khác:

Vào khoảng 3 tuổi trẻ có khả năng tự đánh giá bản thân mình dựa vào cảm xúc, đến tuổi tiểu học thì trẻ có thể đánh giá một cách chính xác hơn và đã có sự phân hóa ở trong đó, đến tuổi thiếu niên, học sinh trung học cơ sở thì tự ý thức của

Trang 26

các em cao hơn rất nhiều, trong quá trình giao tiếp hoạt động cùng bạn bè và người khác các em dần nhận biết được bản thân mình, các em thường sẽ có những nhận xét và phân tích về chính bản thân mình, thường sẽ không hài lòng về mình nhất là ngoại hình, chính vì vậy nhân cách của các em chưa ổn định, những lần so sánh mình với bạn bè, nhận xét chính bản thân mình trong giương … theo chiều hướng tiêu cực làm cho các em thêm lo lắng, sợ hãi vì bị bạn bè chê cười, vì mình xấu quá Các em thường có những hành động, hành vi như về nhà là sẽ nhốt mình trong phòng, ba mẹ gọi mãi không chịu ra khỏi phòng, đơn giản các em đang viết nhật ký nhằm thể hiện tình cảm, cảm xúc của mình, hay các em đang nhìn ngắm bản thân mình trong giương và không muốn ai làm phiền đến không gian của các em

Sự phát triển về mặt cảm xúc: đặc điểm cảm xúc, tình cảm của học sinh trung học cơ sở phần lớn được chi phối bởi các yếu tố như sự thay đổi về mặt thể chất, cơ thể của các em phát triển thì dẫn đến xu hướng phát dục (tuổi dậy thì hình thành), cảm xúc của các em cũng thay đổi theo, các bạn nữ thì e thẹn khi gặp bạn nam mà mình thích, các bạn nam thường gây sự chú ý bằng cách trêu ghẹo, mong muốn được các bạn khác giới thích mình, xuất hiện sự quan tâm đến nhau, từ những mong muốn như vậy, lứa tuổi học sinh trung học cơ sở sẽ xuất hiện vấn đề quan tâm đến ngoại hình, vẽ bề ngoài của bản thân, trau chuốt đến cách ăn mặc, kiểu tóc, mặt có

bị nổi mụn hay không, mình cao hay thấp, nếu như cao quá hoặc thấp quá các em thường sẽ có cảm giác tự ti, khó chịu, cảm thấy thua kém bạn bè, hay xấu hổ

Thay đổi môi trường học tập tạo điều kiện để các em có nhiều mối quan hệ hơn, giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa ngày càng được mở rộng hơn, trong nhiều mối quan hệ này thì các em dễ hình thành nên tình bạn gắn bó, nếu như tình bạn đó đảm bảo các chuẩn mực như tôn trọng, bình đẳng, trung thành, trung thực, giúp đỡ nhau, thì các em dễ chia sẽ cảm xúc vui buồn, khó chịu với bạn bè hơn là cha mẹ Chính vì vậy sự gần gủi với cha mẹ sẽ ít hơn là với bạn bè trong giai đoạn này, những mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái ngày càng phức tạp hơn, giai đoạn này các

em thường nghe theo bạn bè hơn là nghe theo người lớn

Thay đổi vấn đề thể hiện bản thân, tức là các em luôn có xu hướng muốn thể hiện mình là người lớn trước mắt mọi người, các em có những quan điểm riêng của cá nhân

Trang 27

Sự phát triển về mặt xã hội: xúc cảm cái tôi giúp chúng ta hiểu được sự phát triển của đứa trẻ trong giai đoạn tuổi thiếu niên, bởi vì xúc cảm đó thấm sâu vào cá tính và hành vi xã hội của đứa trẻ Đứa trẻ ngày càng có khái niệm vững chắc hơn

về bản thân và xúc cảm cái tôi của chúng cũng trở nên hiện thực hơn Bây giờ chúng hiểu rõ hơn chúng có kỹ năng gì, kỹ năng nào bị hạn chế, biết được như vậy

sẽ tổ chức và định hướng hành vi của chúng

Thế giới xã hội của trẻ mở rộng, thì chúng bắt đầu nhận thức được ngày càng

rõ rệt và đầy đủ hơn các cuộc xung đột và tình hình căng thẳng trong gia đình mình Những đứa trẻ phải chịu đựng hậu quả về ly hôn của cha mẹ, sống trong gia đình không đầy đủ không có cha hoặc không có mẹ, quan hệ căng thẳng buộc chúng phải thích ứng với những nỗi khổ và những điều không may Cách thức khắc phục những khó khăn quyết định sự phát triển các dạng hành vi xã hội và cảm xúc kiên định có ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của đứa trẻ

1.2.5 Khái niệm lo âu học đường của học sinh Trung học cơ sở

Từ các định nghĩa lo âu, lo âu học đường, học sinh trung học cơ sở, chúng tôi tổng hợp và đưa ra khái niệm về lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở như sau:

Lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở là trạng thái cảm xúc lo lắng, căng thẳng liên quan đến việc học tập cụ thể như áp lực học tập, đánh giá của thầy

cô, các mối quan hệ đồng đẳng, kỳ vọng của bản thân và cha mẹ về học tập, trạng thái cảm xúc này kéo dài trong một khoảng thời gian và lặp đi lặp lại,gây khó khăn cho học sinh trong học tập, trong cuộc sống hằng ngày

Năm 1999, Cassidy T đã tiến hành nghiên cứu nguyên nhân gây ra căng thẳng

lo âu ở học sinh trung học phổ thông, kết quả của nghiên cứu cho rằng, các kỳ kiểm tra, điểm số, lo lắng cho tương lai, lựa chọn nghề nghiệp, các vấn đề ôn thi, khối lượng kiến thức quá tải, sự kỳ vọng của gia đình và bạn thân là những nguyên nhân chính gây nên tình trạng lo âu căng thẳng của học sinh [15]

Tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương (2008) trong nghiên cứu của mình cho rằng nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu phần lớn là do nhóm nguyên nhân liên quan đến gia đình (chủ yếu liên quan đến kinh tế gia đình chiếm 68.89%), nhóm liên quan

Trang 28

đến học tập (chủ yếu liên quan đến yếu tố phải thi đậu đại học chiếm 96.7%), nhóm liên quan đến cá nhân học sinh (chiếm 98.9% yếu tố liên quan đến cảm thấy thua kém bạn bè), nhóm liên quan đến các mối quan hệ xã hội (chiếm 28.9% liên quan đến mâu thuẫn với bạn bè) [6]

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học đường của học sinh Trung học cơ sở

1.3.1 Yếu tố khách quan

Những yếu tố khách quan làm ảnh hưởng đến học sinh chủ yếu liên quan đến gia đình, nhà trường và xã hội cụ thể như:

Về các yếu tố trong môi trường gia đình: Sự kì vọng của cha mẹ ông bà về

thành tích học tập của con mình quá cao, làm cho các em phải gồng mình cố gắng hoàn thành tốt nhất việc học tập cũng như các hoạt động khác mà cha mẹ yêu cầu

Nó là một trong nhiều yếu tố làm cho các em căng thẳng và lo âu

Bên cạnh đó phương pháp chăm sóc, giáo dục con không phù hợp, tỷ lệ thời gian giữa học tập và vui chơi giải trí của các em không cân bằng, học quá nhiều dường như các em không có thời gian để chơi, để giải tỏa căng thẳng, kèm theo hình thức vui chơi của các con không phù hợp, hiện nay phần lớn các em xem tivi, điện thoại mà không có các hoạt động vui chơi thể chất như đá banh, bơi lội Gia đình giao phó con mình cho nhà trường, không quan tâm đến cảm xúc của con Phần lớn bậc làm cha làm mẹ hiện nay không lắng nghe tâm tư nguyện vọng của các em, hoặc lắng nghe nhưng không đáp trả tích cực, chính vì vậy, mà hai thái cực luôn luôn không cân bằng, các em thường sẽ không chia sẽ với cha mẹ về vấn

đề học tập vì các em cho rằng nói nhưng sẽ không giải quyết được

Trong gia đình thường có nhiều sự xung đột như các thành viên trong gia đình xung đột ngôn ngữ, dẫn đến tình trạng xây xát về mặt thể chất, tình trạng cha mẹ ly hôn hoặc sống ly thân, chuyển nhà…

Về các yếu tố trong môi trường nhà trường: Tính đến thời điểm hiện tại hầu hết

các trường học từ cấp 2 đến đại học ở Việt Nam chưa có phòng và nhân sự chuyên trách tham vấn học đường, hoặc nếu có thì chỉ mang tính chất đối phó nhằm phục vụ công tác kiểm tra giám sát, rất nhiều trường cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy

Trang 29

vẫn còn thiếu thốn, nhân sự chuyên trách về tâm lý học đường vẫn còn yếu về công tác chuyên môn, phần lớn chuyên viên tâm lý học đường hiện nay đều phải kiêm nhiệm nhiều hoạt động như công tác đoàn đội, công tác giảng dạy, giáo viên chủ nhiệm Thực tế, tại Thành phố Thủ Đức đã có nhiều hoạt động cũng như hình thức sinh hoạt đa dạng về tham vấn học đường như trả lời tư vấn qua điện thoại, email, lồng ghép các chuyên đề giáo dục kỹ năng sống, giới tình đã phần nào phát hiện kịp thời các vấn để sức khỏe tầm thần và thể chất của các em học sinh Tuy nhiên, các hoạt động này chưa được đi sâu vào nội dung tham vấn cho các em, chưa được đầu tư phát triển mạnh mẽ, các trường vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn về nguồn tài liệu, về chuyên môn cũng như không có giáo viên chuyên trách tham vấn

Chính sách đãi ngộ cho chuyên viên tham vấn còn thấp, chưa tương xứng với năng lực, nên các nhà trường hầu hết không thu hút được nguồn nhân lực giỏi Tại thành phố Thủ Đức các hoạt động tư vấn học đường cũng đang phát triển mạnh song vẫn chưa đáo ứng được hết nhu cầu tham vấn của các em ngày càng đa dạng, nhưng trường hợp phòng tham vấn không đáp ứng được nhu cầu đó có thể do chuyên môn, có thể do thiếu cơ sở vật chất Chính vì vậy, nhiều tình huống tâm lý đáng tiếc xảy ra ở học sinh mà nhà trường và gia đình không xử lý kịp thời dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Các hoạt động hỗ trợ tâm lý cho học sinh chưa thực sự mang lại hiệu quả, nó chỉ mang tính chất đối phó hoặc chỉ để hoạt động hình thức Trẻ bị bạo lực bắt nạt học đường, việc học ở trường quá dễ hoặc quá khó với kiến thức của các em, phương pháp giảng dạy của giáo viên không phù hợp, chuyển trường chuyển lớp thay đổi giáo viên làm cho trẻ không thích nghi kịp thời, cường độ học tập cao, kiến thức quá nhiều, trẻ có sử dụng một số chất kích thích

Về các yếu tố trong môi trường xã hội: Xã hội có những tác động tiêu cực lên gia đình và nhà trường, gián tiếp tác động đến tâm lý của các em gây ra tình trạng lo

âu căng thẳng

1.3.2 Yếu tố chủ quan

Chủ yếu xuất phát từ chính bản thân các em Các em bị mất gốc, mất năng lực học tập hoặc đã từng trải qua một tình huống thất bại nào đó trong học tập và bị bạn

Trang 30

bè chê cười, cha mẹ đay nghiến Các em có những mâu thuẫn với người lớn, giáo viên và bạn bè đồng trang lứa

Vấn đề phát triển các đặc điểm tâm sinh lý như dễ khóc dễ cười hay giận hờn, quá nhạy cảm, nhút nhát và tự ti, sự tự ý thức, tự đánh giá và lòng tự trọng của các

em ngày càng phát triển mạnh, nếu như người lớn hành xử không phù hợp làm cho các em bị tổn thương, cũng dẫn tới tình trạng lo âu căng thẳng ở các em

Khi thay đổi vị trí, hoàn cảnh xã hội như chuyển trường chuyển nhà mà các

em không có sự chuẩn bị tâm lý trước dẫn đến áp lực căng thẳng lo âu xuất hiện Kiến thức, kinh nghiệm cá nhân đang được tích lũy dần, việc thành công trong vấn đề học tập cũng như sinh hoạt cuộc sống hằng ngày mức độ thích nghi của các

em cao, sự đồng cảm, tinh thần trách nhiệm cao sẽ giúp cho các em có khả năng tự nhìn nhận vấn đề một cách thấu tình đạt lý hơn, khách quan hơn, có nhiều phương

án xử lý hơn, vị trí của các em trong các mối quan hệ xã hội thay đổi ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này

Các em có một số bệnh thực thể như bệnh lý về da liễu, tâm thần kinh cũng được xem là nguyên nhân gây nên lo âu

Tiểu kết Chương 1

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về lo âu học đường của học sinh trung học cơ

sơ, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu lo âu học đường là rất cần thiết trong tình hình công nghệ 4.0 ngày càng phát triển như hiện nay Từ các quan điểm khác nhau của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều đưa ra một kết luận chung, nếu lo âu diễn ra trong một thời gian kéo dài nó sẽ làm ảnh hưởng đến đời sống của mọi người nói chung, học sinh trung học cơ sở nói riêng, nó được biểu hiện qua các mặt như nhận thức, hành vi, cảm xúc, và thể chất

Trong chương 1 này, chúng tôi đưa ra một số khái niệm công cụ như: rối loạn

lo âu, lo âu học đường, đồng thời, đưa ra một số biểu hiện của lo âu và cách phân loại chẩn đoán về rối loạn lo âu

Xác định được một số yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học đường của học sinh trung học cơ sở, việc xác định này là cơ sở quan trọng nhằm giúp các em học sinh

có sự lựa chọn các biện pháp hợp lý khắc phục được tình trạng rối loạn lo âu

Trang 31

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu

Bài nghiên cứu học sinh trung học cơ sở lớp 6 đến lớp 9, tuổi giữa 11 và 12 đến giữa 14 và 15 tuổi trên 3 trường trung học cơ sở Lương Định Của, An Phú, Hưng Bình ở Thành phố Thủ Đức

2.1.1.1 Thông tin cơ bản về trường trung học cơ sở Lương Định Của

Trường THCS Lương Định Của được thành lập năm 2007-2008 tại Phường

An Phú, Quận 2 Đến năm 2011-2012, tường xây dựng lại tại số 2 Lê Hiến Mai, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2 Trường tại cơ sở mới được xây dựng với điều kiện

cơ sở vật chất thuận lợi để đạt chuẩn quốc gia: Khuôn viên thoáng nhiều cây xanh, cổng tường rào kiên cố đúng qui định Tổng diện tích sàn xây dựng 10.399m2 Hệ thống giao thông nội bộ và sân bãi ngoài trời: Sân trường: Diện tích 1.470m2

Trường đặt tại địa điểm thoáng mát, yên tĩnh, an ninh trật tự tương đối tốt, môi trường sư phạm lành mạnh giúp cho việc học tập của Hs và giảng dạy của giáo viên đạt kết quả tốt Trường THCS Lương Định Của đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2012-2017, đạt kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 1 năm 2015 Với hệ thống cơ

sở vật chất hiện đại, đội ngũ giáo viên có trình độ, giàu kinh nghiệm góp phần tạo điều kiện giúp cho các em học sinh có được môi trường học tập, vui chơi tốt nhất Với các mục tiêu cụ thể: tiếp tục đăng ký trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2 năm 2017-2022, đạt kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 3 Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cũng được nhà trường chú trọng, cuối mỗi đợt bồi dưỡng đều tổ chức thi, xét chọn và có khen thưởng kịp thời đối với học sinh có thành tích cao Do đó,

số học sinh giỏi đứng đầu Quận Trường luôn hướng đến giáo dục toàn diện, mỗi năm số học sinh giỏi tăng

Trang 32

2.1.1.2 Thông tin cơ bản về trường trung học cơ sở An Phú

Trường THCS An Phú địa chỉ tại số 589C An Phú, phương An Phú Quận 2 nay là TP Thủ Đức Trường được thành lập từ năm 1972, với phương châm giáo dục toàn diện, chú trọng đào tạo kiến thức, kĩ năng, đạo đức cho học sinh

2.1.1.3 Thông tin cơ bản về trường trung học cơ sở Hưng Bình

Trường THCS Hưng Bình địa chỉ số 819 Nguyễn Xiển ,KP Long Hòa, P.Long Thạnh Mỹ, Quận 9, nay là Tp Thủ Đức, với tổng diện tích 17,780,3m2 Được thành lập từ năm 1997, cùng với năm thành lập Quận 9, đến nay nhà trường đã có những thành tích đáng kể trong công tác dạy và học Năm học 2016 - 2017 trường THCS Hưng Bình được xây dựng mới tại số 79, đường 30, KP Long Hòa, P.Long Thạnh

Mỹ, Quận 9 và được đưa vào sử dụng từ năm học 2018 – 2019 trường được đưa vào

sử dụng Tổng số học sinh là 1290 em Để tạo được môi trường dạy và học tốt cho thầy và trò, nhà trường chú trọng công tác xã hội hóa giáo dục Năm học 2020 -

2021 trường đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học Hiện trường

có 59 CB – GV – CNV và hơn 1370 học sinh gồm các khối 6,7,8,9 Ban Giám hiệu đều trên chuẩn Có 43 GV trên chuẩn đạt 93.47%, 02 GV đạt chuẩn đạt 4.35% và 1

GV chưa chuẩn Trường THCS Hưng Bình trong nhiều năm qua luôn có học sinh giỏi cấp Quận và cấp Thành phố Trường luôn đạt danh hiệu lao động Tiên tiến

2.1.2 Khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu xây dựng đề tài và lựa chọn khách thể nghiên cứu là học sinh cấp

2 ở 3 trường trung học cơ sở bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên:

Bảng 2.1 Số lượng và tỷ lệ học sinh, phân theo khối lớp, học lực, giới tính

Trang 33

Bảng 2.2 Đặc điểm về gia đình của học sinh (n=65)

Cảm nhận sự quan tâm của cha mẹ

Cảm nhận mối quan hệ giữa cha mẹ

Trang 34

2.1.3 Kế hoạch nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2021

Bảng 2.3.Kế hoạch thực hiện luận văn

cứu

cứu, báo cáo của nhiều tác giả trong nước và ngoài nước liên quan đến lo âu học đường

Hoàn thành chương 1 cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

Liên hệ các trường trung học cơ sở để thực hiện việc điều tra bảng hỏi

Trang 35

4 Từ tháng 6 đến tháng

9/2021

Tiến hành thu thập số liệu bằng bảng hỏi và sử dụng thang đo về thực trạng biểu hiện lo âu học đường

Xử lý kết quả nghiên cứu Hoàn thành chương 3 kết quả nghiên cứu thực trạng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thang đo lo âu học đường Phillips

Có nhiều phương pháp nghiên cứu và tìm hiểu về lo âu ở học đường như dùng thang đo Zung (SAS), Hamilton,… Nhưng trong bài nghiên cứu, chúng tôi sử dụng thang đo lo âu học đường B.N.Phillips để đánh giá và phân tích Trắc nghiệm gồm 58 câu hỏi tình huống, chia làm 8 yếu tố, nội dung chủ yếu tập trung vào các tình huống có thể làm cho tình trạng lo âu ở trường học xảy ra ở học sinh:

- Lo âu học đường nói chung: là yếu tổ chỉ trạng thái cảm xúc chung có liên quan đến các mối quan hệ, các hình thức hoạt động trong cuộc sống tại trường học của các em gồm các câu: 2, 3, 7, 12, 16, 21, 23, 26, 28, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52,

- Lo âu liên quan đến sự tự thể hiện: là những tình huống trải nghiệm cảm xúc

âm tính, làm mất mong muốn khám phá bản thân, ức chế nhu cầu thể hiện sở trường, năng lực của các em gồm câu: 27, 31, 34, 37, 40, 45

- Lo âu liên quan đến các tình huống kiểm tra kiến thức: chỉ những trải nghiệm

lo sợ và thái độ tiêu cực trong các tình huống kiểm tra kiến thức trên lớp gồm câu:

2, 7, 12, 16, 21, 26

Trang 36

- Sự lo lắng không làm thoả mãn mong đợi của người khác: chỉ trạng thái lo sợ

sự đánh giá của người khác về kết quả học tập, chờ đợi những đánh giá âm tính gồm câu: 3, 8, 13, 17, 22

- Khả năng chống đợ stress sinh lý thấp: đặc điểm tâm sinh lý làm giảm khả năng thích ứng của trẻ gồm câu: 9, 14, 18, 23, 28

- Lo âu liên quan đến quan hệ với giáo viên: chỉ trạng thái cảm xúc âm tính trong các mối quan hệ của trẻ với thầy cô giáo ở trường gồm câu: 2, 6, 11, 32, 35, 41, 44, 47 Yêu cầu thực hiện đối với học sinh: cần trả lời trung thực, nhanh và có thể không suy nghĩ nhiều Học sinh thực hiện khảo sát đánh dấu “x” vào ô có hoặc không

Mục đích sử dụng thang đo để tìm hiểu thực trạng lo âu ở học sinh cấp 2 trên địa bàn TP Thủ Đức Nghiên cứu đưa ra tỉ lệ học sinh có lo âu ở mực độ khác nhau

cụ thể là: không lo âu, lo âu vừa, lo âu nặng, nghiên cứu chỉ tập trung phân tích nhóm lo âu vừa và nặng Ngoài ra, luận văn đề xuất phương án giải quyết

Việc sử dụng thang đo lo âu học đường nhằm mục đích phát hiện sớm những biểu hiện lo âu học đường

Hiện nay, tại Việt Nam có nhiều tác giả đã triển khai thang đo lo âu học đường trong nghiên cứu của mình, nhằm phù hợp với tình hình và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Việt Nam, qua quá trình trải nghiệm cũng như quan sát thực tế các tác giả đã xây dựng các item phù hợp với học sinh trung học cơ sở Chính vì vậy, thang

đo lo âu học đường đã được Việt hóa, trong luận văn này đã kế thừa những tinh hoa của các tác giả nghiên cứu trước

Khi sử dụng thang đo lo âu học đường trong luận văn, vì đây là thang đo dễ sử dụng, người khảo sát có thể đọc cho học sinh nghe hoặc đưa cho học sinh tự trả lời theo suy nghĩ ban đầu của các em

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Mục tiêu để hệ thống hoá lý thuyết, thu thập lịch sử nền tảng lý thuyết về lo

âu học đường ở học sinh cấp 2 nhằm xây dựng cơ sở lý luận, từ đó lấy cơ sở để xây dựng bảng hỏi và lựa chọn thang đo cho nghiên cứu

Nội dung: tìm hiểu các hệ thống lý thuyết và các nghiên cứu lo âu, stress, trầm cảm ở học sinh trung học cơ sở tại Việt Nam và thế giới đã công bố về biểu

Trang 37

hiện, nguyên nhân, tiêu chí chẩn đoán,…) Sau khi tìm hiểu tài liệu, chúng tôi tập hợp tài liệu thành cơ sở lý luận cho bài nghiên cứu

Cách tiến hành: lựa chọn, thu thập tài liệu nước ngoài và Việt Nam Trong mỗi tài liệu, chúng tôi phân tích bối cảnh văn hoá xã hội, kinh tế,… Sau đó phân tích về tiêu chí chẩn đoán dựa trên bối cảnh, biểu hiện, nguyên nhân Cuối cùng chúng tôi phân tích về giải pháp được đề ra trong tài liệu

2.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Nghiên cứu chúng tôi sử dụng 3 bảng phỏng vấn sâu cho: học sinh, giáo viên, phụ huynh Mục đích đánh giá sâu về nhận thức lo âu học đường ở học sinh, con cái, phương pháp tự giải quyết lo lắng của bản thân ở học sinh

Bảng phỏng vấn sâu học sinh gồm 5 câu hỏi, mục tiêu tìm hiểu nguyên nhân

lo âu ở học sinh và các tự giải quyết lo âu bản thân Câu hỏi 1 tìm hiểu giáo trình giảng dạy có phù hợp với học sinh hay không Câu hỏi 2 muốn tìm hiểu mối quan

hệ giữa giáo viên và học viên có dẫn đến áp lực hay không Câu hỏi 3 tìm hiểu về mối quan hệ bạn bè có gây lo âu ở học đường hay không Câu hỏi 4 mối liên hệ giữa kỳ vọng phụ huynh gây lo âu cho học sinh hay không Câu hỏi 5 cách học sinh giải quyết lo âu của mình nếu có

Bảng phỏng vấn sâu giáo viên gồm 3 câu hỏi, mục tiêu đánh giá khả năng nhận biết lo âu ở học sinh, phương pháp giải quyết, nhận thức mức độ quan trọng lo

âu ở học sinh ảnh hưởng như thế nào lên học tập Câu hỏi 1 muốn tìm hiểu khả năng nhận biết lo âu ở học sinh, dấu hiệu nhận biết như thế nào Câu hỏi 2 tìm hiểu phương pháp giảng viên thường dùng để giải quyết vấn đề lo âu ở học sinh hiện nay Câu hỏi 3 tìm hiểu về nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của lo âu khi xảy ra ở học sinh, ảnh hưởng như thế nào

Bảng phỏng vấn sâu phụ huỵnh gồm 4 câu hỏi, mục tiêu đánh giá nhận biết của phụ huynh với lo âu của con cái thông qua thay đổi thường ngày của con, nhận thức mức độ quan trọng của lo âu học đường lên việc học tập và hướng giải quyết Câu hỏi 1 tìm hiểu cách phụ huynh nhận biết lo âu ở con cái, nhưng dấu hiệu biểu hiện Câu hỏi 2 tìm hiểu phương pháp giải quyết của phụ huynh khi nhận ra con mình có lo âu Câu hỏi 3 tìm hiểu nhận thức của phụ huynh về lo âu ở con cái ảnh

Trang 38

hưởng thế nào lên học tập, hậu quả Câu hỏi 4 tìm hiểu lo âu phổ biến ở học sinh mà phụ huynh quan tâm nhất hiện tại

2.2.4 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Phiếu khảo sát chia làm 2 phần gồm: Thông tin điều tra đặc điểm có 8 câu và 58 câu thang đo lo âu học đường Phillips, mục tiêu để tìm ra yếu tố liên quan giữa đặc điểm học sinh và lo âu học đường trên địa bàn, điều tra thực trạng lo âu học đường Phần 1: Thông tin đặc điểm: Câu 1 đến câu 8 điều tra thông tin cơ bản đặc điểm của học sinh như: giới tính, khối lớp, trường học, học lực, hoàn cảnh gia đình hiện tại, mối quan hệ giữa phụ huynh và con cái, kinh tế gia đình

Phần 2: Thang đo lo âu học đường Phillips: mục đích sàng lọc lo âu ở học sinh

và đánh giá mức độ lo âu

2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Chúng tôi thu thập số liệu bảng hỏi bằng Google Form do tình hình dịch Covid 19 Thực lấy số liệu bảng phỏng vấn sâu bằng gọi điện thoại trực tiếp, ghi

âm, giải băng

Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm Epidata, phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 13

2.2.6 Phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả

Nghiên cứu chỉ dừng ở mô tả thực trạng lo âu học đường ở học sinh trung học cơ sở, phân tích mức độ ảnh hưởng và đề xuất phương án giải quyết ở TP Thủ Đức Nghiên cứu sử dụng phương pháp chi bình phương để tìm mối tương quan có

ý nghĩa giữa các yếu tố Phương pháp sàng lọc và đánh giá lo âu dựa trên thang đo

lo âu Phillips Từ đó, chúng tôi đề xuất phương pháp giải quyết thực trạng

Cách thức tiến hành: Dùng phần mềm Stata 13 để phân tích 3 nhóm: không

lo âu, lo âu vừa, lo âu nặng trên 65 em Số liệu được lấy từ 3 bảng phỏng vấn sâu Sau đó, chúng tôi phân tích mối liên quan giữa lo âu vừa, nặng với 8 yếu tố trong bảng hỏi Phillips Cuối cùng, chúng tôi đề xuất phương án giải quyết

Trang 39

Tiểu kết chương 2

Để đạt được sự liên kết, khách quan, kết quả tốt Chúng tôi thực hiện phương pháp nghiên cứu tài liệu trước tiên: hiểu được nền tảng lý thuyết, tạo ra cơ sở lý luận, hiểu được nguyên nhân chung dẫn đến lo âu học đường Bước 2 chúng tôi dựa trên tài liệu hiện có tiếp tục xây dựng phương pháp thu thập số liệu và nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu chia làm 2 phần: bảng khảo sát thu thập bằng google form (thang đo lo âu học đường Phillips, thông tin đặc điểm), bảng hỏi phỏng vấn sâu cho học sinh, giảng viên, phụ huynh Bước 3 chúng tôi xử lý số liệu bằng phần mềm Epidata Cuối cùng, chúng tôi phân tích số liệu bằng phầm mềm phân tích Stata 13

Trong luận văn, về cơ bản đã thực hiện song song nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, bước đầu phù hợp với kế hoạch đưa ra, luận văn có độ tin cây và độ chính xác cao Từ đó, mang lại kết quả có giá trị về mặt thực tiễn lẫn khoa học

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1 Thực trạng lo âu học đường của học sinh THCS Thành phố Thủ Đức

3.1.1 Mức độ lo âu học đường

Kết quả nghiên cứu thực trang lo âu học đường của chúng tôi khi sử dụng thang đo lo âu học được của tác giả Phillips trên nhóm khách thể 65 học sinh của ba trường: THCS Lương Định Của, THCS Bình Hưng, THCS An Phú trên địa bàn TP Thủ Đức đã đạt được Có 51 học sinh trên tổng số chiếm 78,5% có mức độ lo âu bình thường, 13 học sinh chiếm 20% có mức độ lo âu học đường cao hơn mức bình thường và lo âu học đường ở mức độ cao có 1 học sinh chiếm tỉ lệ 1,5%, Kết quả nghiên cứu được thể hiện rõ ở bảng bên dưới

Bảng 3 1 Mức độ lo âu học đường của học sinh (n=65)

So sánh kết quả nghiên cứu thực trạng lo âu học đường ở học sinh trung học

cơ sở trong nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thương năm 2014 có tỉ lệ lo âu học đường ở mức độ cao hơn bình thường ở nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với tỉ

lệ 33,3%, tỉ lệ lo âu mức độ cao gần như tương tự với tỉ lệ hơn 1%

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi gần tương tự như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Vân năm 2019 “Lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” với tỉ lệ lo âu giao động trong khoảng 20%

Ngày đăng: 17/05/2022, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Ayres, J. L. (2015). Intellectual disability (Intellectual developmental disorder). The 5-Minute Clinical Consult Standard 2016: Twenty Fourth Edition.https://doi.org/10.4324/9780429286896-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intellectual disability (Intellectual developmental disorder). The 5-Minute Clinical Consult Standard 2016: Twenty Fourth Edition
Tác giả: Ayres, J. L
Năm: 2015
15. Cassidy, T. (1999). Stress, Cognition and Health (1st ed.). Routledge. Retrieved from https://www.routledge.com/Stress-Cognition-andHealth/Cassidy/p/book/9780415158138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress, Cognition and Health
Tác giả: Cassidy, T
Năm: 1999
16. Gaudry, E., &amp; Bradshaw, G. D. (1970). The differential effect of anxiety on performance in progressive and terminal school examinations. Australian Journal of Psychology. https://doi.org/10.1080/00049537008255203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Australian Journal of Psychology
Tác giả: Gaudry, E., &amp; Bradshaw, G. D
Năm: 1970
17. Jastrowski Mano, K. E. (2017). School Anxiety in Children and Adolescents with Chronic Pain. Pain Research and Management.https://doi.org/10.1155/2017/8328174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pain Research and Management
Tác giả: Jastrowski Mano, K. E
Năm: 2017
18. Locker, J., &amp; Cropley, M. (2004). Anxiety, Depression and Self-Esteem in Secondary School Children. School Psychology International.https://doi.org/10.1177/0143034304046905 Sách, tạp chí
Tiêu đề: School Psychology International
Tác giả: Locker, J., &amp; Cropley, M
Năm: 2004
20. Neal, S., Rice, F., Ng-Knight, T., Riglin, L., &amp; Frederickson, N. (2016). Exploring the longitudinal association between interventions to support the transition to secondary school and child anxiety. Journal of Adolescence.https://doi.org/10.1016/j.adolescence.2016.04.003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Adolescence
Tác giả: Neal, S., Rice, F., Ng-Knight, T., Riglin, L., &amp; Frederickson, N
Năm: 2016
21. Putwain, D. W., &amp; Daniels, R. A. (2010). Is the relationship between competence beliefs and test anxiety influenced by goal orientation? Learning and Individual Differences. https://doi.org/10.1016/j.lindif.2009.10.006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Learning and Individual Differences
Tác giả: Putwain, D. W., &amp; Daniels, R. A
Năm: 2010
1. Trần Thị Minh Đức (2012). Giáo trình tham vấn tâm lý, Nxb Đại học Quốc gia, tr 117-179 Khác
2. Trương Thị Khánh Hà (2013). Giáo trình tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 179-207 Khác
3. Trần Thị Huyền (2019). Sức khoẻ tâm thần của học sinh ở một số trường trung học cơ sở Thành phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Hiểu biết về sức khỏe tâm thần ở trường học và cộng đồng, tr 289 Khác
4. Trương Quang Lâm và cộng sự (2020). Nhu cầu tham vấn tâm lí học đường của học sinh trung học cơ sở ở tỉnh Quảng Ninh. Tạp chí khoa học giáo dục Việt Nam, tr 54-58 Khác
5. Vũ Thị Nho (2008). Tâm lý học phát triển. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 6. Nguyễn Thị Hằng Phương (2008). Nghiên cứu một số nguyên nhân gây ra rốiloạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông Khác
8. Nguyễn Thị Thu Sương (2015). Mối tương quan giữa lo âu - trầm cảm và mức độ bị bắt nạt của học sinh trung học cơ sở Khác
9. Đinh Văn Tài và cộng sự (2020). Thực trạng lo âu của học sinh tại 3 trường trung học sơ sơ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2020, 62(5) Khác
10. Đào Thị Tuyết (2014). Thực trạng sức khỏe tâm thần và một số yếu tố liên quan của học sinh trường trung học cơ sở Tam Khương, Đống Đa, Hà Nội năm 2014, 201–209 Khác
11. Trần Thị Thương (2014). Nghiên cứu lo âu và cách ứng phó của học sinh trung học cơ sở, luận văn Thạc sĩ, Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn Đại Khác
12. UNICEF Việt Nam (2018). Báo cáo Nghiên cứu về Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh niên tại Việt Nam Khác
13. Nguyễn Thị Vân (2019). Lo âu học đường của học sinh trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh, luận văn Tiến sĩ, trường đại học sư phạm Hà Nội.Tài liệu nước ngoài Khác
19. Mayer, D. P. (2008). Overcoming school anxiety: How to help your child deal with separation, tests, homework, bullies, math phobia, and other worries. Amacom Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Quan sát bảng số liệu dưới đây - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
uan sát bảng số liệu dưới đây (Trang 2)
Quan sát bảng số liệu dưới đây - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
uan sát bảng số liệu dưới đây (Trang 5)
(Bảng hỏi đánh giá sức khỏe bệnh nhân 9) 9. PR  Prevalence ratio - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng h ỏi đánh giá sức khỏe bệnh nhân 9) 9. PR Prevalence ratio (Trang 7)
Trong bảng 2.1 chúng tôi thực hiện trên 65 khách thế nghiên cứu. Trong đó, nam  chiếm  36,9%,  nữ  chiếm  63,1% - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
rong bảng 2.1 chúng tôi thực hiện trên 65 khách thế nghiên cứu. Trong đó, nam chiếm 36,9%, nữ chiếm 63,1% (Trang 33)
Bảng 2.3.Kế hoạch thực hiện luận văn - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.3. Kế hoạch thực hiện luận văn (Trang 34)
Trong bảng 2.2 chúng tôi thống kê về yếu tố gia đình. Phần số lượng anh/ chị/  em,  trong  đó  có  học  sinh  đang  sống  trong  gia  đình  có  trên  2  anh/  chị/  em  là  15,4%, có 2 anh/ chị/ em là 64,6%, là con một chiếm 20% - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
rong bảng 2.2 chúng tôi thống kê về yếu tố gia đình. Phần số lượng anh/ chị/ em, trong đó có học sinh đang sống trong gia đình có trên 2 anh/ chị/ em là 15,4%, có 2 anh/ chị/ em là 64,6%, là con một chiếm 20% (Trang 34)
Tiến hành thu thập số liệu bằng bảng hỏi và sử dụng thang đo về thực trạng biểu hiện lo âu học  đường - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
i ến hành thu thập số liệu bằng bảng hỏi và sử dụng thang đo về thực trạng biểu hiện lo âu học đường (Trang 35)
Bảng 3.2 Lo âu học đường nói chung - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 3.2 Lo âu học đường nói chung (Trang 41)
Bảng 3. 3. Stress xã hội - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 3. 3. Stress xã hội (Trang 42)
Bảng 3.5 Lo âu liên quan đến sự tự thể hiện - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 3.5 Lo âu liên quan đến sự tự thể hiện (Trang 45)
Bảng 3 .6 Lo âu liên quan đến các tình huống kiểm tra kiến thức Yếu tố Lo âu liên quan đến các tình huống kiểm - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 3 6 Lo âu liên quan đến các tình huống kiểm tra kiến thức Yếu tố Lo âu liên quan đến các tình huống kiểm (Trang 46)
Bảng 3.9 Lo âu liên quan đến quan hệ với giáo viên - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 3.9 Lo âu liên quan đến quan hệ với giáo viên (Trang 49)
Bảng 3. 11 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với lo âu học đường ở học sinh - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 3. 11 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với lo âu học đường ở học sinh (Trang 52)
Bảng 3. 12 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với lo âu học đường nói chung ở học sinh - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 3. 12 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với lo âu học đường nói chung ở học sinh (Trang 53)
Bảng 3. 17 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với sự hụt hẫng nhu cầu đạt thành tích ở học sinh - LO ÂU HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 3. 17 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình với sự hụt hẫng nhu cầu đạt thành tích ở học sinh (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w