KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THAM VẤN TÂM LÝ CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .... Cá
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG NHÃ
KỸ NĂNG THAM VẤN TÂM LÝ CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ
THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội – 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG NHÃ
KỸ NĂNG THAM VẤN TÂM LÝ CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ
THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm Lý Học (Tâm Lý Học Trường Học)
Mã số: 8 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Minh Thuận
Hà Nội – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và được trích dẫn rõ ràng theo đúng quy định Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thành phố Thủ Đức, ngày 30 tháng 9 năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Nhã
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy, quý cô Khoa Tâm
lý – Giáo dục – Học viện Khoa học xã hội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn cao học
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Lê Minh thuận, người đã tận tình dành nhiều thời gian quý báu để giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu và đóng góp những ý kiến quan trọng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn cao học này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn và người thân trong gia đình tôi, những người đã ủng hộ tôi về mặt tinh thần và tạo mọi điều kiện giúp tôi có thể hoàn thành luận văn của mình
Do đây là công trình khoa học đầu tiên, dù cho đã rất cố gắng tuy nhiên vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến quý báu của quý thầy và quý cô, các bạn đồng nghiệp và độc giả để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Thủ Đức, ngày 30 tháng 9 năm 2021
Học viên
Nguyễn Hồng Nhã
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THAM VẤN TÂM LÝ CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG 8
1.1 Lý luận về kỹ năng 8
1.1.1 Khái niệm kỹ năng 8
1.1.2 Đặc điểm kỹ năng 10
1.1.3 Các bước hình thành kỹ năng 10
1.2 Lý luận về tham vấn tâm lý và người làm công tác tham vấn tâm lý 12
1.2.1 Tham vấn tâm lý 12
1.2.2 Người làm công tác tham vấn tâm lý 16
1.3 Khái niệm kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường tại các trường trung học phổ thông 17
1.3.1 Khái niệm kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường tại các trường trung học phổ thông 17
1.3.2 Biểu hiện kỹ năng than tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường tại các trường trung học phổ thông 18
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn tâm lý 23
1.4.1 Giám sát chuyên môn 23
1.4.2 Kiến thức và kỹ năng về tham vấn tâm lý học đường 24
1.4.3 Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo 26
1.4.4 Thời gian dành cho công tác tham vấn tâm lý học đường 26
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Tổ chức nghiên cứu 28
2.1.1 Các giai đoạn nghiên cứu 28
2.1.2 Địa bàn và mẫu nghiên cứu 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
Trang 62.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 33
2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 33
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 43
2.2.4 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học 45
Tiểu kết chương 2 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THAM VẤN TÂM LÝ CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 46
3.1 Thực trạng kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường 46
3.1.1 Các hình thức tham vấn tâm lý 46
3.1.2 Các biểu hiện của kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường 51
3.1.3 So sánh kỹ năng tham vấn tâm lý giữa các khách thể người làm công tác tham vấn tâm lý học đường 64
3.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn tâm lý cho học sinh của người làm công tác tham vấn tâm lý 71
3.2.1 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng 71
3.2.2 Tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến các nhóm khách thể người làm công tác tham vấn tâm lý học đường 73
Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Biểu đồ 1.1 Các giai đoạn hình thành kỹ năng (Vũ Xuân Hùng – 2011) 11 Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu khách thể người làm công tác tham vấn học đường (n=105) 31 Bảng 2.2 Đặc điểm mẫu khách thể học sinh (n=332) 31 Bảng 2.3 Nội dung bảng hỏi về kỹ năng tham vấn tâm lý do người làm công tác tham vấn tâm lý học đường tự đánh giá 34 Bảng 2.4 Nội dung bảng hỏi về kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường do học sinh đánh giá 39 Bảng 3.1 Hình thức và tần suất tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý do người làm công tác tham vấn lựa chọn 46 Bảng 3.2 Hình thức và tần suất tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý giữa người làm công tác tham vấn tại các khu vực 47 Bảng 3.3 Hình thức và tần suất tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý do học sinh lựa chọn 48 Bảng 3.4 So sánh hình thức tham vấn tâm lý được người làm công tác tham vấn và học sinh lựa chọn 50 Bảng 3.5 Đánh giá chung về kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý 51 Bảng 3.6 Người làm công tác tham vấn tâm lý tự đánh giá về kỹ năng tham vấn tâm lý cá nhân 52 Bảng 3.7 Học sinh đánh giá kỹ năng tham vấn tâm lý cá nhân của người làm công tác tham vấn tâm lý 54 Bảng 3.8 So sánh đánh giá của người làm tham vấn và học sinh về các kỹ năng tham vấn tâm lý cá nhân 55 Bảng 3.9 Người làm công tác tham vấn tâm lý tự đánh giá về kỹ năng tham vấn tâm lý nhóm 56 Bảng 3.10 Học sinh đánh giá kỹ năng tham vấn tâm lý nhóm của người làm công tác tham vấn tâm lý 57 Bảng 3.11 So sánh đánh giá của người làm tham vấn và học sinh về các kỹ năng tham vấn tâm lý nhóm 58
Trang 9Bảng 3.12 Người làm công tác tham vấn tâm lý tự đánh giá về kỹ năng thực hiện đánh giá và trắc nghiệm tâm lý 59 Bảng 3.13 Học sinh đánh giá về kỹ năng thực hiện đánh giá và trắc nghiệm tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý 60 Bảng 3.14 So sánh đánh giá của người làm tham vấn và học sinh về các kỹ năng thực hiện đánh giá và trắc nghiệm tâm lý 61 Bảng 3.15 Người làm công tác tham vấn tâm lý tự đánh giá về kỹ năng tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý 62 Bảng 3.16 So sánh về kỹ năng tham vấn tâm lý giữa người làm công tác tham vấn tâm lý tại các khu vực 64 Bảng 3.17 So sánh về kỹ năng tham vấn tâm lý giữa người làm công tác tham vấn tâm lý có thâm niên khác nhau 65 Bảng 3.18 So sánh về kỹ năng tham vấn tâm lý giữa người làm công tác tham vấn tâm lý nam và nữ 66 Bảng 3.19 So sánh về kỹ năng tham vấn tâm lý giữa người làm công tác tham vấn tâm lý đã tập huấn và chưa tập huấn 66 Bảng 3.20 Mối liên hệ giữa các kỹ năng thành phần của kỹ năng tham vấn tâm lý
cá nhân 67 Bảng 3.21 Mối liên hệ giữa các kỹ năng thành phần của kỹ năng tham vấn tâm lý nhóm68 Bảng 3.22 Mối liên hệ giữa các kỹ năng thành phần của kỹ năng thực hiện đánh giá và trắc nghiệm tâm lý 69 Bảng 3.23 Mối liên hệ giữa các kỹ năng tự tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý 70 Bảng 3.24 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn tâm lý cho học sinh của người làm công tác tham vấn tâm lý 71 Bảng 3.25 Tác động của các yếu tố ảnh hưởng giữa người làm công tác tham vấn tại các khu vực 73 Bảng 3.26 Tác động của các yếu tố ảnh hưởng giữa người làm công tác tham vấn
có thâm niên khác nhau 74 Bảng 3.27 Tác động của các yếu tố ảnh hưởng giữa người làm công tác tham vấn được tập huấn và chưa được tập huấn 75
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội trong giai đoạn đất nước đổi mới, sức khỏe thể chất cũng như tinh thần ngày càng được quan tâm Trong đó sức khỏe tâm lý của lứa tuổi vị thành niên, những trụ cột tương lai của xã hội cũng ngày càng được chú trọng hơn
Các nghiên cứu dịch tễ về sức khỏe tâm lý ở học sinh THPT đã thống kê cho thấy có một tỉ lệ đáng kể cần được hỗ trợ chuyên môn bao gồm tư vấn, tham vấn tâm lý Theo Tổ chức Y tế thế giới, 20% trẻ em và thanh thiếu niên trên thế giới gặp phải một hoặc nhiều vấn đề về sức khỏe tâm lý Tại Việt Nam, kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy con số thống kê báo động về tỉ lệ học sinh THPT gặp vấn đề về sức khỏe tâm lý Tác giả Ngô Thành Phong (2014) thực hiện khảo sát trên học sinh THPT tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cho thấy 13,2% học sinh có rối loạn trầm cảm; 13% bị rối loạn lo âu [14] Tác giả Trần Thành Nam và cộng sự (2016) ghi nhận tỉ
lệ học sinh trung học bị rối loạn lo âu trên địa bàn thành phố Hà Nội là 33,6% [12] Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này bao gồm các yếu tố gia đình như tương quan với bố mẹ, không thỏa mãn được mong đợi từ gia đình và các yếu tố trong học tập như áp lực học tập, thi cử định hướng nghề nghiệp, các mối quan hệ với thầy cô và bạn bè [12, 14] Các rối loạn tâm lý ở học sinh THPT nếu không được hỗ trợ tâm lý kịp thời sẽ dẫn đến hành vi tự sát, lạm dụng chất gây nghiện trong tương lai [41]
Việc xây dựng các hoạt động tham vấn tâm lý cho học sinh sẽ giúp cho giáo viên và học sinh hiểu biết rõ hơn về những vấn đề liên quan tới sự hình thành và phát triển nhân cách của các em để giúp đỡ và hướng cho các em phát triển một cách đúng đắn, lành mạnh, hiểu về bản thân và người khác tốt hơn Từ những yêu cầu trên đòi hỏi người làm công tác tham vấn tâm lý cần phải được đào tạo và đáp ứng được những yêu cầu cơ bản về kiến thức, kỹ năng và thái độ Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành Thông tư số 31 ngày 18/12/2017 về “Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông” cũng đưa ra những quy
Trang 11định về mục đích, nguyên tắc, nội dung, hình thức, điều kiện đảm bảo và tổ chức thực hiện công tác tham vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông Tuy nhiên, hiện nay thực trạng kỹ năng tham vấn tâm lý của cán bộ đảm nhận công tác tham vấn tâm lý học đường còn nhiều hạn chế do các yếu tố như: thiếu đào tạo bài bản, thiếu sự giám sát từ chuyên gia, chưa có cơ chế chính sách hỗ trợ, v.v…
Thành phố Thủ Đức là đơn vị hành chính mới nhất thuộc thành phố Hồ Chí Minh với mật độ dân số ngày càng cao do đây là địa bàn tập trung các khu dân cư mới, khu công nghiệp Đa phần các trường THPT trên địa bàn đều có các phòng tư vấn tâm lý tuy nhiên chưa có nghiên cứu đánh giá kỹ năng của người làm công tác tham vấn tại đây
Từ những cơ sở trên, đề tài “Kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công
tác tham vấn tâm lý học đường tại các trường trung học phổ thông thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh” được xác lập
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Các công trình nghiên cứu về tham vấn tâm lý học đường
Tham vấn tâm lý học đường được ghi nhận như là một nghề lần đầu tiên phát triển vào cuối những năm 1800, chủ yếu là kết quả từ Cách mạng Công nghiệp và phong trào hướng nghiệp Phong trào hướng nghiệp nhằm chuẩn bị cho thanh thiếu niên tham gia vào lực lượng lao động và do đó vai trò của tham vấn tâm lý học đường phát triển Các nhà tâm lý học đường đầu tiên chủ yếu là những nhà hướng nghiệp, những người tập trung vào việc đưa học sinh đến với con đường đi làm [45]
Năm 1913, Hiệp hội Hướng dẫn Nghề nghiệp Quốc gia Hoa Kỳ được thành lập và giúp thúc đẩy tham vấn học đường phát triển thành một chuyên môn Năm
1927, chuyên nghành Tâm lý trường học đầu tiên được đào tạo tại trường Đại học New York bao gồm cấp đào tạo đại học và sau đại học [45]
Sau Thế chiến II, vào giữa những năm 1940, nhà tâm lý học Carl Rogers đã có ảnh hưởng đến lĩnh vực tham vấn tâm lý học đường thông qua việc thúc đẩy phương pháp tiếp cận lấy thân chủ làm trung tâm của mình Lý thuyết của Rogers
Trang 12nhấn mạnh đến việc trao quyền cho thân chủ và khuyến khích nhà tâm lý không đưa
ra lời khuyên hoặc giải pháp [37]
Cuối những năm 1940, Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (APA) đã thành lập Chi hội số 17 (nay được gọi là Chi hội Tâm lý học tham vấn) Chi hội này kết hợp các nhà tâm lý học thực hành, sinh viên và các chuyên gia nhằm thúc đẩy công tác giáo dục và đào tạo, thực hành, nghiên cứu khoa học, mở rộng lĩnh vực tham vấn tâm lý trong cộng đồng [26]
Năm 1953 Hiệp hội tư vấn tâm lý trường học Hoa Kỳ được thành lập và đến năm 1997 tiêu chuẩn quốc gia dành cho các hoạt động tham vấn tâm lý trường học xuất hiện Kể từ thời điểm này, ngành Tâm lý trường học được xem như là đã ra đời Đến nay Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ (APA) và Hiệp hội tư vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ (ASCA) được xem như là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tham vấn tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới Ngày nay, các dịch vụ tham vấn tâm lý học đường đã trở nên phổ biến và không thể thiếu được trong các trường học, các cơ sở đào tạo ở Anh, Pháp, Nga, Đức… và nhiều quốc gia khác trên thế giới
Tại Việt Nam, do ảnh hưởng của chiến tranh nên các hoạt động tâm lý học đường bắt đầu khá muộn so với thế giới Năm 1984, trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ và tâm bệnh N-T do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thành lập đã trở thành nơi đầu tiên thực hành, phát triển nghề tham vấn tâm lý trong đó có lĩnh vực tâm lý trẻ em
và gia đình [15]
Sau đó là sự ra đời của các Khoa, Phòng thực hành tại những cơ sở đào tạo lớn như Viện tâm lý học, khoa Tâm lý – giáo dục của trường Đại học Sư Phạm, khoa Tâm lý học – trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, các tổ bộ môn tâm lý – giáo dục các trường đại học, cao đẳng sư phạm trong cả nước Đó là những cơ sở không chỉ đào tạo ngành tâm lý, giáo dục mà còn là những cơ sở nghiên cứu về tâm
lý học đường ở nước ta
Tương ứng với sự phát triển của thế giới, nền tâm lý Việt Nam nói chung và lĩnh vực tư vấn tâm lý tại trường học nói riêng bước đầu đã có những thành tựu khi
Trang 13liên tục có các nghiên cứu về tỉ lệ rối nhiễu tâm lý trong học sinh cũng như đánh giá hiệu quả của các chương trình tư vấn tâm lý học đường
2.2 Các công trình nghiên cứu về kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường tăng cao đã thúc đẩy sự quan tâm đến việc đào tạo người thực hành công tác tham vấn tâm lý, là tiền đề cho việc xây dựng
và phát triển một số chương trình đại học, sau đại học Các chương trình Tiến sĩ tâm
lý chuyên ngành tham vấn tâm lý học đường lần lượt xuất hiện đầu tiên tại Hoa Kỳ với các trường Đại học Minnesota; Đại học bang Ohio, Đại học Maryland, Đại học Missouri, Đại học Columbia và Đại học Texas ở Austin [23] Trong những thập kỉ gần đây, tham vấn tâm lý trở nên phổ biến và mô hình này có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới Các sách tham khảo chuyên ngành về tham vấn tâm lý lần lượt ra đời như Tham vấn và Trị liệu Tâm lý trong Bối cảnh Quốc tế (Handbook of Counseling and Psychotherapy in an International Context), Sổ tay quốc tế tham vấn tâm lý xuyên văn hóa (the International Handbook of Cross-Cultural Counseling) và Tham vấn vòng quanh Thế giới: Sổ tay Quốc tế (Counseling Around the World: An International Handbook) Đây là các sách chuyên nghành và tham khảo chính cho các chương trình đào tạo tham vấn tâm lý trên thế giới Các công trình này đã mô tả lịch sử toàn cầu của lĩnh vực tham vấn tâm lý, giới thiệu về nền tảng triết học, lý thuyết tham vấn, quy trình và xu hướng ở các quốc gia khác nhau Những nền tảng này là cơ sở để xây dựng các tiêu chí về kiến thức, kỹ năng thực hành và thái độ trong hoạt động tham vấn tâm lý học đường [25]
Tại Việt Nam, các giáo trình tham vấn tâm lý căn bản và nâng cao cũng đã được xây dựng bởi các Khoa, Viện chuyên môn thuộc các trường đại học Tiêu biểu
có thể kể đến như “Giáo trình tham vấn tâm lý” của Trần Thị Minh Đức (2021),
“Tham Vấn Trường Học” của Phạm Văn Tư (2020)
Đây đều là các công trình có tính khoa học cao, tuy nhiên chỉ có một chương
đề cập đến kỹ năng tham vấn của người làm công tác tham vấn tâm lý Ngoài ra đa phần các công trình nghiên cứu hiện nay phần nhiều tập trung vào kỹ năng tham
Trang 14vấn cá nhân mà chưa đề cập đến các kỹ năng tham vấn nhóm, kỹ năng tổ chức hoạt động tham vấn và kỹ năng thực hiện trắc nghiệm tâm lý trong quá trình tham vấn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp người làm công tác tham vấn tâm lý học đường cải thiện kỹ năng tham vấn, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tham vấn tâm lý học đường
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích tổng hợp và hoàn thiện lý luận về kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường;
- Đánh giá thực trạng kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường;
- Đề xuất một số kiến nghị nâng cao kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
Trang 15Về khách thể nghiên cứu: đề tài khảo sát 105 người có tham gia làm công tác
tham vấn tâm lý học đường và 332 học sinh tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Thủ Đức, TPHCM
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận trong tâm lý học sau:
- Nguyên tắc hoạt động – nhân cách: Nghiên cứu về kỹ năng tham vấn tâm lý không tách rời các hoạt động - giao tiếp và các đặc điểm nhân cách của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
- Nguyên tắc hệ thống: Nghiên cứu về kỹ năng tham vấn tâm lý trong mối quan hệ, tác động qua lại với các yếu tố tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
- Nguyên tắc phát triển: Nghiên cứu kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường không phải là một hiện tượng tâm lý cố định,
mà là một hiện tượng tâm lý có thể thay đổi dưới sự tác động của các nhân tố cá
nhân và nhân tố xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn được sử dụng bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp phân tích số liệu bằng thống kê toán học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài đã xây dựng cơ sở lý luận về kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường Đề tài cũng đã xác định các khái niệm công cụ (kỹ năng, tham vấn tâm lý, kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường); xác định các biểu hiện của kỹ năng tham vấn tâm lý của
Trang 16người làm công tác tham vấn tâm lý học đường và chỉ ra thực trạng một số yếu tố ảnh hưởng đến của kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm
Đề tài đã đưa ra một số kiến nghị giúp người làm công tác tham vấn tâm lý học đường nâng cao kỹ năng tham vấn tâm lý
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo bổ ích dành cho các chuyên viên tham vấn tâm lý học đường, quản lý trường học, là cơ sở để cải thiện hoạt động tham vấn tâm lý trong trường học, nhất là các trường THPT Đây cũng là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu có quan tâm hoạt động tâm lý học đường
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường tại các trường trung học phổ thông thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THAM VẤN TÂM LÝ
CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG
1.1 Lý luận về kỹ năng
1.1.1 Khái niệm kỹ năng
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng, tùy vào cách tiếp cận
Theo từ điển Oxfort “kỹ năng” là khả năng để làm tốt một công việc nào đó
thường có được qua đào tạo hoặc kinh nghiệm Theo đó, kỹ năng được hiểu là sự
thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó [34]
Tác giả Bùi Hiền (2001) trong cuốn “Từ điển Giáo dục học” đã phân kỹ năng thành 2 bậc: Kỹ năng bậc thấp (bậc I) và kỹ năng bậc cao (bậc II) Kỹ năng bậc thấp
là khả năng thực hiện đúng hành động, phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể Ở bậc này có những kỹ năng hình thành không cần qua luyện tập, nếu biết tận dụng hiểu biết và kỹ năng tương tự đã có để chuyển sang các hành động mới Kỹ năng bậc cao là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo linh hoạt, sáng tạo phù hợp với những mục tiêu trong những điều kiện khác nhau Để đạt tới kỹ năng này cần trải qua giai đoạn luyện tập các kỹ năng đơn giản, sao cho mỗi khi hành động, người ta không còn bận tâm nhiều đến thao tác nữa vì nhiều thao tác
đã tự động hóa [6]
Tác giả Phạm Thị Diệu Vân dịch từ sách của Lêvitôv (nhà tâm lý học Liên Xô) đã định nghĩa: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông còn nói thêm, con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế [20]
Trang 18Tác giả Thái Duy Tuyên tong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” cho rằng kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động” [19] Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định
Tác giả Lê Văn Hồng và cộng sự (2001) trong cuốn “Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm” cho rằng “Kỹ năng theo góc nhìn của tâm lý học là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ” [7]
Theo tác giả Đặng Thành Hưng (2016): kỹ năng là dạng hành động tự giác, được thực hiện có kỹ thuật, dựa và những điều kiện sinh học, tâm lí và xã hội ở cá nhân, và có kết quả nhất định đáp ứng mục tiêu hay chuẩn đã định trước Có kỹ thuật tức là không tùy tiện, mà tuân theo trình tự, qui tắc và yêu cầu kỹ thuật [8] Trên thế giới, thuật ngữ kỹ năng đã được luật hóa trong nhiều đạo luật của nhiều quốc gia Theo Đạo luật TESDA 1994 tại Philippines đã quy định kỹ năng có nghĩa là khả năng được học và được thực hành để thực hiện một nhiệm vụ hay một công việc [36] Tương tự như vậy, Luật Phát triển kỹ năng nghề nghiệp của Malaysia cho rằng: Kỹ năng được hiểu là khả năng được học và được thực hành để thực hiện thành thạo một nhiệm vụ hay một công việc [30]
Như vậy có thể thấy mặc dù có những định nghĩa khác nhau về kỹ năng, tuy nhiên, đều thừa nhận rằng kỹ năng là một quá trình tâm lý, được hình thành khi con
người áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng có được do quá trình lặp đi lặp lại
một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng theo nghĩa hẹp hàm chỉ đến những thao tác, hành động cụ thể của con người Kỹ năng hiểu theo nghĩa rộng hướng nhiều đến khả năng, đến năng lực của con người Theo tiếp cận này, vẫn là
khả năng của con người để làm tốt một công việc nào đó, nhưng người ta không chỉ nhấn mạnh đến kỹ năng mà là sự hòa quyện nhuần nhuyễn của cả kiến thức, kỹ năng, thái độ để giúp con người thực hiện một công việc nào đó như mong đợi
Trang 19- Kỹ năng được hình thành do luyện tập, được hình thành trong quá trình hoạt động của con người
1.1.3 Các bước hình thành kỹ năng
Có nhiều cách phân chia khác nhau:
Theo tác giả Vũ Xuân Hùng (2011) trong tác phẩm “Dạy học hiện đại và nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên” cho rằng kỹ năng được hình thành qua 05 giai đoạn [9]:
- Giai đoạn bắt chước: Chỉ hành động theo mẫu
- Giai đoạn làm được: Hiểu nhiệm vụ, quy trình làm việc nhưng còn có những sai sót, thời gian hoàn thành chậm và đôi khi còn cần có sự chỉ dẫn
- Giai đoạn làm chính xác: Làm việc theo quy trình, chính xác và hoàn thiện công việc nhanh chóng
- Giai đoạn hình thành kỹ xảo: Kỹ năng được tự động hoá, trên cơ sở đó hình thành nên kỹ xảo
- Giai đoạn làm biến hóa Thể hiện khả năng di chuyển kỹ năng sang các tình huống mới hoặc hình thành các kỹ năng phức tạp
Các bước hình thành kỹ năng theo tác giả Vũ Xuân Hùng (2011) được thể hiện trong Biểu đồ 1.1 như sau:
Trang 20Biểu đồ 1.1 Các giai đoạn hình thành kỹ năng (Vũ Xuân Hùng – 2011)
Theo K.K.Platonov và G.G.Golubev (1963) thì kỹ năng được hình thành và phát triển qua năm giai đoạn [5]
- Giai đoạn 1: Kỹ năng sơ đẳng Ở giai đoạn này, con người ý thức được mục đích hành động và tìm kiếm cách thức thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết
và kỹ xảo sinh hoạt đời thường, hành động bằng thử và sai
- Giai đoạn 2: Biết cách làm nhưng không đầy đủ Con người có hiểu biết về phương thức hành động, sử dụng các kỹ xảo đã có, nhưng chưa phải là kỹ xảo chuyên biệt dành cho hoạt động này
- Giai đoạn 3: Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính chất riêng lẻ Các kỹ năng này cần thiết cho các dạng hoạt động khác nhau
- Giai đoạn 4: Giai đoạn này có kỹ năng phát triển cao, con người biết sử dụng vốn hiểu biết và kỹ xảo đã có Họ không chỉ ý thức được mục đích mà còn ý thức được động cơ, lựa chọn cách thức để đạt được mục đích
Trang 21- Giai đoạn 5: Kỹ năng khác nhau Có nghĩa là con người không sử dụng các
kỹ năng đã được hình thành ở mức độ thuần thục, điêu luyện mà còn sáng tạo trong khi thực hiện
Các quan điểm chung của các nhà Tâm lý học hoạt động thì các giai đoạn hình thành kỹ năng là:
- Giai đoạn 1: Có tri thức về hành động (mục đích, cách thực hiện, các điều kiện hành động) và các kinh nghiệm cần thiết
- Giai đoạn 2: Vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã có vào hành động và thực hiện hành động có kết quả
Như vậy, nắm được các giai đoạn hình thành kỹ năng để tổ chức và điều khiển hoạt động giáo dục sao cho hình thành được ở người làm công tác tham vấn tâm lý những kỹ năng tham vấn tâm lý là điều cần thiết và quan trọng Các
kỹ năng của người làm công tác tham vấn được hình thành và hoàn thiện trong quá trình hành nghề Đối với người làm công tác tham vấn tâm lý, khi bước vào thực hành, dù ít hay nhiều, kỹ năng của họ phải đạt ở mức hoàn thiện mới có thể đáp ứng được yêu cầu
1.2 Lý luận về tham vấn tâm lý và người làm công tác tham vấn tâm lý
1.2.1 Tham vấn tâm lý
1.2.1.1 Định nghĩa tham vấn tâm lý
Tâm lý học tham vấn là một nhánh của thực hành tâm lý học chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của ngành khoa học nhân văn cũng như bởi các nguyên tắc của phân ngành tâm lý trị liệu Lĩnh vực này đòi hỏi cơ sở thực nghiện đối với lý thuyết và thực hành và đặt ra những yêu cầu cơ bản đối với người thực hành bao gồm kiến
Trang 22thức và kỹ năng trong tương tác với người khác (hay còn gọi là mối quan hệ trị liệu tâm lý) [28]
Thuật ngữ "tham vấn" có nguồn gốc từ Mỹ, được đặt ra bởi nhà tâm lý học Carl Rogers, người không có bằng cấp y tế nên không thể gọi công việc thực hành của mình là tâm lý trị liệu được [43]
Tác giả Patterson (1969) cho rằng: “Tham vấn là sự tương tác giữa một bên là người tham vấn với một hoặc một số thân chủ, ở đây người tham vấn sử dụng kiến thức hiểu biết về nhân cách, phương pháp tâm lý để giúp người kia giải quyết vấn
đề và cải thiện sức khỏe tâm thần” [35]
Các tác giả Woolfe & Dryden (1996), Walsh & Frankland (2009) đã thống nhất với nhau định nghĩa về tham vấn tâm lý là: “Hỗ trợ những người có vấn đề về cảm xúc và khó khăn tinh thần cải thiện sức khỏe, giảm bớt những đau khổ tinh thần và sự bất ổn” Ngoài ra, các hoạt động tham vấn tâm lý cũng bao gồm các hoạt động đánh giá, chẩn đoán và điều trị các rối loạn tâm thần Việc thực hành tham vấn tâm lý cần phải tuân thủ các quy định về đạo đức hành nghề cũng như là yêu cầu về chuyên môn tối thiểu [39],[44]
Goldstein định nghĩa tham vấn tâm lý một cách ngắn gọn “tham vấn tâm lý là một quá trình tương tác riêng biệt mà các khía cạnh của nó được thống nhất rõ ràng giữa chuyên gia và khách hàng, có định hướng triết học về các giá trị' (trang 36) [24] Luận án tiến sĩ “Kỹ năng tham vấn của cán bộ tham vấn học đường” của tác giả Hoàng Anh Phước (2012) đã định nghĩa rằng: “Tham vấn là một hoạt động trợ giúp dựa trên sự tương tác giữa cán bộ tham vấn và thân chủ, trong đó cán bộ tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn giúp thân chủ nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống” [16]
Trên thế giới, các khái niệm như tư vấn (consultant) và tham vấn (counselling)
và tâm lý trị liệu (psychotherapy) đã được định nghĩa rõ ràng và có phạm vi hoạt động khác nhau Tuy nhiên tại Việt Nam, thuật ngữ “tư vấn” và “tham vấn” được dùng với nghĩa như nhau và thay thế lẫn nhau Thông tư 31/2017/TT-BGDĐT về tư vấn tâm lý cho học sinh phổ thông đã nêu ra hai định nghĩa bao gồm:
Trang 23- Tư vấn tâm lý cho học sinh: là sự hỗ trợ tâm lý, giúp học sinh nâng cao hiểu biết về bản thân, hoàn cảnh gia đình, mối quan hệ xã hội, từ đó tăng cảm xúc tích cực, tự đưa ra quyết định trong tình huống khó khăn học sinh gặp phải khi đang học tại nhà trường
Tham vấn tâm lý cho học sinh: là sự tương tác, trợ giúp tâm lý, can thiệp (khi cần thiết) của cán bộ, giáo viên tư vấn đối với học sinh khi gặp phải tình huống khó khăn trong học tập, hoàn cảnh gia đình, mối quan hệ với người khác hoặc nhận thức bản thân, từ đó tăng cảm xúc tích cực, tự lựa chọn và thực hiện quyết định trong tình huống đó
Như vậy có thể thấy sự khác biệt lớn nhất giữa tư vấn và tham vấn tâm lý là sự tương tác Sự tương tác được nhấn mạnh trong tham vấn tâm lý có thể hiểu là mối quan hệ hai chiều và trao đổi thông tin qua lại với nhau Một trong những định nghĩa đã nêu rõ được tính tương tác trong tham vấn tâm lý của tác giả Trần Thị Minh Đức
Trong luận văn này, tôi sử dụng khái niệm “tham vấn tâm lý” theo tác giả Trần
Thị Minh Đức (2014): “Tham vấn là một quá trình tương tác giữa cán bộ tham vấn
(người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận) với thân chủ (còn gọi là khách hàng – người đang có vấn đề khó khăn về tâm lý muốn được giúp đỡ) Thông qua các kỹ năng trao đổi và chia sẻ tâm tình (dựa trên các nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp), thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình” [3]
1.2.1.2 Các nội dung tham vấn tâm lý phổ biến
Tác giả Ngô Thu Dung (2009) trong công trình nghiên cứu của mình đã liệt kê các nội dung hoạt động tham vấn học đường trong trường học cho học sinh, sinh viên bao gồm [4]:
1 Tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý, nhằm lắng nghe, khơi dậy nội lực, giúp học sinh, sinh viên tự phát triển thể chất tinh thần, tránh những sự phát triển lệch lạc không đáng có
Trang 242 Cần rèn luyện cho học sinh, sinh viên khả năng thích ứng học tập và rèn luyện bản lĩnh học tập
3 Cần rèn luyện năng lực giao tiếp, hợp tác, lắng nghe, biết trình bày… cho học sinh, sinh viên
4 Thực hiện công tác hướng nghiệp, định hướng nghề (ở các trường phổ thông) và thích ứng nghề (ở các trường chuyên nghiệp)
5 Cung cấp các kiến thức, kỹ năng bảo vệ sức khỏe, rèn luyện thể chất, sức khỏe sinh sản… cho học sinh, sinh viên
6 Cần có hoạt động bảo vệ, tạo điều kiện hòa nhập cho những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt
Luận văn thạc sĩ “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý của học sinh trong một số trường trung học phổ thông huyện Đan Phượng – Hà Nội” của tác giả Bùi Thị Thoa (2012) cho thấy 20,7% số học sinh được khảo sát cho rằng các em chưa bao giờ hoặc hiếm khi gặp khó khăn về tâm lý (19,6%) Trong những khách thể khảo sát, nổi bật lên ở nhóm thỉnh thoảng gặp khó khăn về tâm lý, chiếm 51,7% tổng số học sinh được điều tra; 7,9% số học sinh được khảo sát cho rằng: mình thường xuyên gặp khó khăn về tâm lý – mặc dù tỉ lệ này thấp nhất nhưng đây lại là nhóm cần được quan tâm tìm hiểu và trợ giúp kịp thời Nghiên cứu cũng ghi nhận hầu hết học sinh trung học phổ thông huyện Đan Phượng đều có những khó khăn tâm lý ở mọi khía cạnh thuộc cả 4 nhóm khó khăn tâm lý: khó khăn trong học tập, khó khăn trong việc hướng nghiệp, khó khăn trong các mối quan hệ và khó khăn tâm lý có xuất phát từ bản thân cá nhân được khảo sát với nguyên nhân, tỉ lệ và mức độ khác nhau Các khó khăn tâm lý này ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống và học tập của học sinh Trong 516 khách thể khảo sát, có 9 khách thể trả lời rằng, các em đã từng tìm đến
sự trợ giúp tâm lý qua hình thức viết thư lên báo, tư vấn qua mạng internet… tuy nhiên, hiệu quả của sự trợ giúp tâm lý này không cao, do vậy, các em mong muốn trường mình có phòng tâm lý học đường để nhận được sự trợ giúp chuyên nghiệp từ các chuyên gia tâm lý được đào tạo chuyên sâu [18]
Trang 25Nhóm tác giả Trần Văn Công, Nguyễn Thị Hoài Phương và Trần Thành Nam (2019) trong bài báo “Thực trạng khó khăn tâm lý của học sinh và nhu cầu sử dụng ứng dụng tư vấn tâm lý trong trường học” trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Tập 61 (số 10) đã ghi nhận cảm xúc và học tập là lĩnh vực khó khăn tâm lý
mà 340 học sinh các trường THPT trên địa bà thành phố Hà Nội gặp phải nhiều nhất Các em cũng mong muốn được tư vấn tâm lý đối với những khó khăn gặp phải
và hình thức tư vấn được lựa chọn nhiều nhất là trực tuyến (qua ứng dụng trên điện thoại, email, video call…) [1]
Trong bài báo khoa học “Thực trạng một số khó khăn tâm lí của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thanh Hóa” đăng trên Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 10/2019 (tr 136-139), tác giả Lê Thị Lan ghi nhận trong số những khó khăn mà học sinh gặp phải, khó khăn lớn nhất là khó khăn trong lĩnh vực học tập và trong mối quan hệ với người lớn (ĐTB = 3,37/4) Bên cạnh đó, các em còn gặp khó khăn ở vấn đề vượt qua những biến đổi tâm sinh lí tuổi dậy thì (ĐTB = 2,93/4) Trong đó điểm TB cao nhất thuộc về nội dung “Hạn chế trong hiểu biết về những biện pháp bảo vệ để chống xâm hại, chống bạo lực” với ĐTB = 3,10/4 [10]
Từ những nghiên cứu thực trạng khó khăn tâm lý của học sinh, có thể nội dung cần tham vấn tâm lý của học sinh trung học khá đa dạng, từ khó khăn trong học tập, lựa chọn nghề nghiệp cho đến khó khăn trong đời sống tinh thần, cảm xúc cũng như tương quan với người khác trong bối cảnh xã hội Các nội dung này có thể được tiến hành dưới hình thức cá nhân và tham vấn tâm lý nhóm với những em có vấn đề gần tương tự nhau Điều này đòi hỏi người làm công tác tham vấn học đường phải có
1.2.2 Người làm công tác tham vấn tâm lý
Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa: “Người làm công tác tham
vấn tâm lý phải được đào tạo bài bản về kiến thức tâm lý nói chung và các kỹ năng tham vấn nói riêng (có thể là các giảng viên giàu kinh nghiệm, các cán bộ Đoàn thanh niên) nhằm gần gũi với các em sinh viên, định hướng cho các em về các vấn
đề trong giao tiếp và học tập”
Trang 261.3 Khái niệm kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm
lý học đường tại các trường trung học phổ thông
1.3.1 Khái niệm kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường tại các trường trung học phổ thông
Từ lý luận về kỹ năng, tham vấn tâm lý đã trình bày ở phần trên, chúng tôi đưa
ra khái niệm kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường như sau:
Kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường là khả năng, năng lực trong quá trình tương tác giữa người làm tham vấn (người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận) với thân chủ (còn gọi là khách hàng – người đang có vấn đề khó khăn về tâm lý muốn được giúp đỡ) nhằm giúp đỡ thân chủ chia sẻ, hiểu, chấp nhận và tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình Các quá trình này có thể diễn ra theo hình thức cá nhân, nhóm và với nhiều giai đoạn
Dựa trên các công trình nghiên cứu về kỹ năng tham vấn tâm lý học đường trong và ngoài nước tiêu biểu như Tham vấn và Trị liệu Tâm lý trong Bối cảnh Quốc tế (Handbook of Counseling and Psychotherapy in an International Context) của tác giả Roy Moodley (2013), Sổ tay quốc tế tham vấn tâm lý xuyên văn hóa (the International Handbook of Cross-Cultural Counseling) của tác giả Stefania Aegisdottir (2009), Tham vấn vòng quanh Thế giới: Sổ tay Quốc tế (Counseling Around the World: An International Handbook) của tác giả Thomas Hohenshil (2013), Giáo trình tham vấn tâm lý của GS TS Trần Thị Minh Đức (tái bản năm 2021), Tài liệu bồi dưỡng cán bộ, giáo viên làm công tác tư vấn tâm lý của PGS
TS Trần Đức Sơn (2010) và Tham Vấn Trường Học TS Phạm Văn Tư (2020), các
kỹ năng tham vấn tâm lý học đường được chia thành 4 nhóm kỹ năng lớn
- Kỹ năng tham vấn tâm lý cá nhân;
- Kỹ năng tham vấn tâm lý nhóm;
- Kỹ năng thực hiện đánh giá và trắc nghiệm tâm lý;
Trang 27- Kỹ năng tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý
1.3.2 Biểu hiện kỹ năng than tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm
lý học đường tại các trường trung học phổ thông
1.3.2.1 Kỹ năng tham vấn tâm lý cá nhân
Các công trình trên thế giới đã nhấn mạnh đến các kỹ năng mà một nhà tham vấn tâm lý học đường cần phải có trong hoạt động tham vấn tâm lý cá nhân cho học sinh Tiêu biểu là các nghiên cứu của Ali và Graham (1996), Kidd (2006) và Krishnan (2008)
Theo các công trình của Jennifer M Kidd, Lynda Ali and Barbara Graham thì cán bộ làm công tác tham vấn tâm lý học đường cần phải có những kiến thức, kỹ năng cơ bản và được đào tạo đầy đủ thông qua các chương trình học chính quy bao gồm: kỹ năng thiết lập mối quan hệ; kỹ năng lắng nghe; kỹ năng thấu hiểu; kỹ năng chia sẻ; kỹ năng quan sát; kỹ năng phản hồi; kỹ năng khai thác thông tin; kỹ năng phân tích, đánh giá thông tin; kỹ năng sử dụng các trắc nghiệm tâm lí; kỹ năng quản
lí thời gian; kỹ năng tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí học sinh [22], [27]
Krishman (2008) bổ sung thêm bên cạnh các kỹ năng giao tiếp, mà trong đó các kỹ năng thành phần bao gồm: lắng nghe tích cực (khác với chỉ là lắng nghe đơn thuần mà phải bao gồm cả lắng nghe không phán xét), làm rõ, vấn đề, phản hồi và đặt câu hỏi thì người làm công tác tham vấn còn phải có kỹ năng giữ gìn mối quan
hệ Trong đó không can thiệp quá sâu vào đời sống của học sinh và vẫn giữ được mối quan hệ trong bối cảnh chuyên nghiệp và một kỹ năng được tác giả đề cập là kỹ năng thấu cảm Thấu cảm là người làm công tác tham vấn tâm lý nhìn mọi thứ theo quan điểm của thân chủ (trong trường hợp này là học sinh), thay vì thông cảm (cảm thấy có lỗi với thân chủ) Sự thấu cảm có thể giúp nhà tham vấn đưa ra những câu hỏi thích hợp và đưa thân chủ đến những kết luận tích cực [29]
Tại Việt Nam, các giáo trình tham vấn tâm lý cũng như các công trình nghiên cứu về kỹ năng tham vấn cũng tương đối đa dạng và có tính tham khảo cao Trong
đó có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như loạt sách về tham vấn tâm lý của GS TS Trần Thị Minh Đức, Hoàng Anh Phước và Võ Thị Tường Vy
Trang 28Tác giả Hoàng Anh Phước (2012) trong nghiên cứu “Kỹ năng tham vấn của cán bộ tham vấn học đường” chỉ ra: Kỹ năng tham vấn của cán bộ tham vấn học đường bao gồm 2 nhóm: kỹ năng tham vấn cơ bản và kỹ năng tham vấn chuyên biệt Kỹ năng tham vấn mà người làm công tác tham vấn học đường cần phải nắm trong nghiên cứu này bao gồm: kỹ năng thiết lập mối quan hệ; kỹ năng lắng nghe và
kỹ năng phối hợp các lực lượng giáo dục; kỹ năng quan sát [16]
Tác giả Võ Thị Tường Vy (2009) trong nghiên cứu “Một số kỹ năng tham vấn của tham vấn viên tâm lý trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” được đăng trên Tạp chí tâm lý học số 8 chỉ ra: Các tham vấn viên đã nhận định rằng mình nắm vững và
sử dụng thành thạo phần lớn số kỹ năng bao gồm: lắng nghe, quan sát, đặt câu hỏi, trấn an và chia sẻ cá nhân, xâu chuỗi và làm sáng tỏ sự kiện, xây dựng quan hệ tin cậy, rõ ràng với thân chủ, phản hồi tích cực, làm sáng tỏ nhu cầu và sức mạnh thân chủ, sử dụng các nguồn lực hỗ trợ, quản lý bản thân, tương tác bằng thách đố [21] Trần Thị Minh Đức (2014) đã liệt kê một số kĩ năng sử dụng trong tham vấn: lắng nghe, quan tâm, đưa lời khuyên, thấu hiểu, thông đạt, phản hồi, khuyến khích
và động viên, đặt câu hỏi, xử lý im lặng, khái quát Không phải các kĩ năng đều được sử dụng như nhau trong các ca tham vấn mà sẽ tùy thuộc vào từng tình huống
cụ thể Trong đó, các kĩ năng: lắng nghe, đặt câu hỏi, thấu hiểu, phản hồi, kĩ năng đối chất là những kỹ năng được các chuyên gia nghiên cứu nhiều và sâu [2]
Như vậy các kỹ năng tham vấn cá nhân quan trọng của người làm công tác tham vấn bao gồm các kỹ năng: Kỹ năng thiết lập mối quan hệ; Kỹ năng quan sát;
Kỹ năng lắng nghe; Kỹ năng đặt câu hỏi; Kỹ năng phản hồi; Kỹ năng khuyến khích
và động viên; Kỹ năng xử lý im lặng; Kỹ năng giữ gìn mối quan hệ
1.3.2.2 Kỹ năng tham vấn tâm lý nhóm
Bên cạnh hoạt động tham vấn tâm lý cá nhân, một hoạt động khác có thể được triển khai trong học đường nhằm giúp đỡ học sinh có nhu cầu đó là tham vấn tâm lý nhóm
Tham vấn tâm lý nhóm là một hình thức tham vấn trực tiếp mà theo đó vấn đề của các cá nhân được thể hiện trong phạm vi một nhóm gồm nhiều người có cùng
Trang 29vấn đề giống nhau được giúp đỡ Tham vấn tâm lý có một số mục đích sau: 1) Giúp các thành viên giải quyết các vấn đề và các mâu thuẫn trong cuộc sống của họ; 2) Giúp các thành viên phát triển sự tự nhận thức và có những thay đổi về nhận thức, cảm xúc; 3) Phát triển mối quan hệ hài hòa (trao, nhận những vấn đề tốt, xấu) giữa các thành viên trong nhóm hoặc giữa các thành viên với nhà tham vấn nhằm mục đích tăng cường sự tham gia của họ trong nhóm; 4) Giáo dục các thành viên của nhóm để hoàn thiện bản thân
So với tham vấn cá nhân, tham vấn nhóm có những ưu điểm như: tạo điều kiện để thân chủ có những tình cảm gắn bó, chấp nhận và có thể hiểu người khác;
cơ hội để quan sát, bắt chước và được cổ vũ về mặt xã hội, được trải nghiệm những vấn đề chung của mọi người Những điều này cho phép mỗi thân chủ trong bối cảnh nhóm sống lại những quan hệ, những cảm xúc tiêu cực, nhận diện lại nó và điều chỉnh Tham vấn nhóm cũng bồi dưỡng được ý thức hợp tác trong cộng đồng, tập thể ở thân chủ Kế đến, tham vấn nhóm tạo ra những thay đổi về nhận thức, cách cư
xử và sự phát triển tính cách của mỗi thân chủ
Yêu cầu cho sự thành công của tham vấn nhóm là nhà tham vấn phải biết cách điều hành nhóm Cụ thể:
- Nhà tham vấn phải nắm vững các giai đoạn phát triển của nhóm để có thể đưa ra những cách thức tác động phù hợp, hiệu quả với từng giai đoạn đó
- Nhà tham vấn cần lên kế hoạch trước cho mỗi buổi sinh hoạt nhóm, phải tự trả lời được câu hỏi: Hôm nay nhóm sẽ làm gì? Làm như thế nào? Và hiệu quả sẽ đạt được là gì?
- Nhà tham vấn cần lưu ý bầu không khí tham vấn đề đánh giá mức độ vấn đề
và lựa chọn cách thức tác động
- Trước khi vào tham vấn nhóm, nhà tham vấn bắt buộc phải thảo luận những quy định sinh hoạt dựa trên ý kiến số đông để giúp họ cảm thấy họ thuộc về nhóm
- Cần phải duy trì kỉ luật, quy tắc chặt chẽ ngay từ đầu như đến đúng giờ, để
đồ đạc đúng nơi quy định để tiến hành tham vấn nghiêm túc và thuận lợi hơn
- Trong tham vấn nhóm, sinh hoạt vui chơi cũng là một hình thức trị liệu Vui chơi trong sinh hoạt nhóm nhằm giải toả cảm xúc tiêu cực, tăng cảm xúc
Trang 30tích cực, tạo mối quan hệ gắn bó, đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm Nhóm tham vấn thường có ký hiệu riêng khi bắt đầu sinh hoạt nhóm (tham vấn nhóm), những trò chơi hay những ký hiệu khác như tiếng vỗ tay, gõ bàn, hay một tiếng động nào đó cần được khởi động để các thành viên trong nhóm ngầm hiểu
là buổi tham vấn bắt đầu
Một số chỉ dẫn khi làm việc trong nhóm:
- Cần thiết lập nội quy sinh hoạt của nhóm
- Số người khoảng từ 6 đến 12 và cán bộ tham vấn
- Thời gian khoảng từ 1,5 giờ đến 2 giờ/một tuần, tham vấn nhóm khoảng từ
12 đến 16 lần cho một vấn đề
- Có thể chia nhóm theo giới tính
- Phòng tham vấn yên tĩnh, rộng để có thể tồ chức trò chơi hoặc di chuyển dễ dàng Sử dụng các sinh hoạt tập thể, trò chơi, hoạt động nghệ thuật để các thành viên cảm thấy thư giãn và thoải mái khi tham gia vào tham vấn nhóm Khi tham vấn, các thành viên ngồi vòng tròn để tăng cường giao tiếp với nhau
- Khi các thành viên chia sẻ vấn đề của mình có thể tạo nên không khí tâm lý nặng nề trong nhóm Do đó, nhà tham vấn giúp các thành viên giữ bình tĩnh và tôn trọng ý kiến, xúc cảm của nhau Nhà tham vấn tôn trọng ý kiến của từng người, tránh bình luận, phê bình ý kiến của ai đó Nhà tham vấn tăng cường bầu không khí bạn bè và tạo sự cởi mở giữa các thành viên qua việc chấp nhận và không phán xét thái độ của các thành viên
- Công nhận các xúc cảm và kinh nghiệm mà các thân chủ đang trải nghiệm
- Cán bộ tham vấn cần có những “thủ thuật” để đối phó với những tình huống gây gỗ, không tôn trọng người khác; dỗi, bỏ họp giữa chừng; làm việc riêng của một số thành viên Không được ngắt quãng khi có người đang nói hoặc chia sẻ thông tin và không ép buộc ai đó phải nói khi họ chưa sẵn sàng
- Cán bộ tham vấn phải nhận thức được các giai đoạn khác nhau của sự phát triển nhóm trong quá trình tham vấn (giai đoạn hình thành, xung đột, hòa giải, và kết thúc)
Trang 31- Nhắc các thành viên giữ kín những thông tin được chia sẻ trong nhóm của mình
- Lồng ghép các trò chơi trong quá trình tham vấn nhóm
- Cần ghi chép lưu giữ hồ sơ các cuộc tham vấn: ghi các hoạt động, sự tham gia, cảm xúc của từng người
Tham vấn theo quan điểm nhân văn - hiện sinh thường sử dụng bối cảnh nhóm
để tạo điều kiện cho thân chủ có khả năng nhập vai, cảm nhận được sự ủng hộ của nhóm để họ thấy không đơn độc (vì nhiều người cùng hoàn cảnh như họ) Việc mỗi
cá nhân cảm nhận được sự nâng đỡ của nhóm hình như làm họ dễ dàng trình bày những tình cảm hoặc những khó khăn của mình Tham vấn nhóm có thể tạo nên giai đoạn đầu tiên để thân chủ tái hoà nhập vào cuộc sống thực tế, nó cho phép thân chủ đương đầu với những người khác và đòi hỏi các thân chủ phải có sự hiểu biết và kính trọng lẫn nhau Chính vì vậy, tham vấn nhóm đã hỗ trợ rất đắc lực cho tham vấn cá nhân trong thực tiễn tham vấn trên thế giới
Như vậy, để có thể làm tham vấn tâm lý nhóm, người làm công tác tham vấn tâm lý học đường cần có những kỹ năng cơ bản như sau: Kỹ năng xây dựng và tổ chức nhóm; Kỹ năng điều phối nhóm; Kỹ năng quản lý kỉ luật nhóm; Kỹ năng điều phối thảo luận; Kỹ năng xử lý tình huống phát sinh trong lúc tham vấn nhóm
1.3.2.3 Kỹ năng thực hiện đánh giá và trắc nghiệm tâm lý
Phạm Ngọc Linh (2013) liệt kê các kỹ năng cần có khi thực hành công tác tham vấn tâm lý học đường, trong đó có đề cập đến kỹ năng sử dụng các trắc nghiệm tâm lý tổng quát, bảng kiểm, bảng tự đánh giá cá nhân [11] Trắc nghiệm được xem như là những công cụ đắc lực cho hoạt động tham vấn tâm lý nói chung
và tham vấn tâm lý học đường nói riêng Việc sử dụng trắc nghiệm khách quan có thể giúp người được tham vấn hiểu rõ hơn các vấn đề của mình
Một số trắc nghiệm được các chuyên gia khuyên dùng là IQ (chỉ số trí tuệ ),
EQ (đo chỉ số cảm xúc), AQ (đo chỉ số vượt khó), CQ test (đo chỉ số sáng tạo), trắc nghiệm nghiên cứu kiểu nhân cách của Eysenck, trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của Raven, trắc nghiệm đánh giá trí tuệ tổng quát của Wechsler, trắc nghiệm giao tiếp Luscher Ngoài ra trong một số hoạt động tham vấn tâm lý cụ
Trang 32thể khác như tham vấn tâm lý hướng nghiệp thì người làm công tác tham vấn cần phải có kỹ năng sử dụng thêm một số trắc nghiệm như: trắc nghiệm hứng thú học sinh của Golomstoc, bản xác định kiểu nghề cần chọn trên cơ sở tự đánh giá của John Holland
Như vậy kỹ năng thực hiện đánh giá và trắc nghiệm tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường phải bao gồm: Kỹ năng thực hiện trắc nghiệm nhân cách; Kỹ năng thực hiện trắc nghiệm lượng giá khó khăn tâm lý; Kỹ năng thực hiện trắc nghiệm trí tuệ; Kỹ năng thực hiện trắc nghiệm hướng nghiệp
1.3.2.4 Kỹ năng tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý
Nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Bích Nga (2018) trên 248 cán bộ giáo dục và giáo viên tại các trường trung học trên địa bàn quận 11, thành phố Hồ Chí Minh đã liệt kê các kỹ năng tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý bao gồm: xây dựng kế hoạch
và chương trình hoạt động cụ thể; xây dựng kế hoạch sát với điều kiện của trường
và đáp ứng nhiệm vụ của năm học; xây dựng nội dung, hình thức và phương pháp tham vấn học đường; xác định các nguồn lực để thực hiện hoạt động tham vấn học đường; xây dựng nội dung chi, định mức chi hoạt động tham vấn học đường; xây dựng lịch hoạt động tham vấn học đường [13]
Như vậy các kỹ năng cần thiết trong việc tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý học đường cần phải có ở cán bộ làm công tác tham vấn tâm lý bao gồm: Kỹ năng xây dựng kế hoạch và chương trình hoạt động cụ thể; Kỹ năng xây dựng kế hoạch sát với điều kiện của trường và đáp ứng nhiệm vụ của năm học; Kỹ năng xây dựng nội dung, hình thức và phương pháp tham vấn học đường; Kỹ năng xác định các nguồn lực để thực hiện hoạt động tham vấn học đường; Kỹ năng xây dựng nội dung chi, định mức chi hoạt động tham vấn học đường; Kỹ năng xây dựng lịch hoạt động tham vấn học đường
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn tâm lý
1.4.1 Giám sát chuyên môn
Một liên minh làm việc giữa người giám sát và cố vấn, trong đó người làm công tác tham vấn học đường được giám sát chuyên môn có thể cung cấp các thông
Trang 33tin liên quan đến hoạt động tham vấn (bao gồm bản ghi chép tiến trình, nội dung phiên tham vấn và các sản phẩm như trắc nghiệm, tranh vẽ) và từ đó nhận sự phản hồi, hướng dẫn khi cần của cố vấn chuyên môn
Mục tiêu của liên minh này là giúp cho người làm công tác tham vấn tâm lý đạt được năng lực đạo đức, sự tự tin và đặc biệt là các kỹ năng thực hành cần thiết
để cung cấp dịch vụ tốt nhất có thể cho thân chủ Giám sát được hiểu là một mối quan hệ chính thức, trong đó có một thỏa thuận hợp đồng rằng nhà trị liệu sẽ trình bày công việc của họ với người giám sát một cách cởi mở và trung thực giúp người giám sát có cái nhìn sâu sắc về cách thức tiến hành công việc Người giám sát được hiểu là người chịu trách nhiệm trước cơ quan chuyên môn mà người được giám sát đang thực hành [42]
Ogren và Jonsson (2003) cho rằng giám sát góp phần nâng cao kỹ năng của người làm công tác tham vấn, vì người làm công tác tham vấn được hỗ trợ liên tục trong việc phát triển các kỹ năng liên quan đến thực hành bởi những nhà cố vấn mà phần lớn là có bằng cấp cao hơn và kinh nghiệm thực hành nhiều hơn Tác giả cũng nhận thấy trong sinh hoạt giám sát nhóm, nhận thức của người giám sát về kỹ năng đạt được là kết quả của sự chú ý đến quá trình nhóm, quá trình tâm lý động hoạt động, thái độ nghề nghiệp và các khía cạnh lý thuyết Các nghiên cứu này chỉ ra rằng cả giám sát cá nhân và nhóm đều cải thiện kỹ năng tư vấn theo một số cách khác nhau [32]
1.4.2 Kiến thức và kỹ năng về tham vấn tâm lý học đường
Senyonyi và cộng sự (2012) nhận thấy tình trạng chung hầu hết các giáo viên được phân công đảm nhận công tác tham vấn tâm lý học đường cho học sinh không được đào tạo và thường phải đảm nhiệm các nhiệm vụ như giáo vụ, đứng lớp Điều này dẫn đến tình trạng thiếu thời gian dành cho học sinh, chuẩn bị tài liệu hướng dẫn và các công cụ, điều phối các hoạt động tham vấn tâm lý và theo dõi hiệu quả [38] Điều này càng trở nên trầm trọng hơn do thiếu các chuyên gia và tài lực để tạo điều kiện phát triển chương trình tham vấn trong các cơ sở đào tạo và ở cấp trường
Thực trạng này tương tự như thực trạng tại Việt Nam khi mà nhiều nơi vẫn còn tình trạng giáo viên kiêm nhiệm công tác tham vấn tâm lý học đường Các khóa
Trang 34học bồi dưỡng tham vấn tâm lý học đường thường được tổ chức đào tạo cho giáo viên mà không có bất kỳ bài học thực tế, chương trình giám sát và đánh giá hiệu quả triển khai Trong khi ở trường, giáo viên lại cho rằng việc tổ chức hoạt động tham vấn học đường là của các chuyên viên tâm lý được đào tạo bài bản
Chỉ một số ít cán bộ tham vấn học đường nắm vững nội dung, mục đích, cách thức tiến hành của các kỹ năng và thực hiện đầy đủ, chính xác và tương đối thành thạo, linh hoạt các kỹ năng tham vấn Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là
do cán bộ tham vấn học đường chưa được đào tạo bài bản và có hệ thống về tham vấn tâm lý, tham vấn học đường, đặc biệt là về các kỹ năng tham vấn; dẫn đến sự thiếu hụt nhất định về kiến thức, kỹ năng tham vấn nói chung, kỹ năng tham vấn học đường nói riêng Bên cạnh đó, phần lớn cán bộ tham vấn ở các trường thực hiện tham vấn học đường thiếu sự giám sát chuyên môn dẫn đến thiếu sự đánh giá và hỗ trợ chuyên môn kịp thời Tác giả kết luận có nhiều yếu tố thuộc về chủ thể tham vấn
và các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới kỹ năng tham vấn của cán bộ tham vấn học đường Trong đó, yếu tố thuộc về chủ thể tham vấn có mức độ ảnh hưởng lớn hơn, đặc biệt là yếu tố nền tảng kiến thức chuyên môn được đào tạo và sự say mê hứng thú với công việc của cán bộ tham vấn học đường Nên tổ chức các lớp tập huấn nâng cao một số kỹ năng tham vấn cho cán bộ tham vấn giúp cán bộ tham vấn học đường có hiểu biết đầy đủ và đúng đắn hơn về nội dung, mục đích, cách thức tiến hành của các kỹ năng và thực hiện đầy đủ, thành thạo, linh hoạt hơn [16]
Thế nhưng các tham vấn viên vẫn mong muốn được rèn luyện thêm để sử dụng thành thạo hơn các kỹ năng Nhìn chung, các kỹ năng tham vấn được các tham vấn viên sử dụng rất thường xuyên Đặc biệt là kỹ năng lắng nghe, kỹ năng quan sát được sử dụng gần như tuyệt đối trong hầu hết các ca tham vấn Kỹ năng đặt câu hỏi cũng được sử dụng ở mức độ cao Tồn tại những nhận định khá mơ hồ về một số kỹ năng tham vấn Đặc biệt là quan niệm coi việc đặt câu hỏi trong tham vấn là một việc rất đơn giản, muốn hỏi gì thì hỏi Thực tế cho thấy đây là một kỹ năng quan trọng, câu hỏi tốt, có trọng tâm, có chủ ý giúp tham vấn viên nắm bắt nhanh, chính xác thông tin, trên cơ sở đó mới tham vấn hiệu quả được Tác giả cho rằng, cần
Trang 35trang bị cho tham vấn viên tâm lý những kỹ năng thật chuẩn xác và có hệ thống Góp phần xây dựng đội ngũ tham vấn viên tâm lý đáp ứng yêu cầu tham vấn ngày càng cao trong xã hội hiện nay [21]
1.4.3 Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo
Wambu (2015) và Mapfumo (2013) nhận thấy rằng sự hỗ trợ của ban giám hiệu đóng vai trò quan trọng và có liên quan đến hiệu quả chương trình tham vấn tâm lý học đường nếu có chính sách rõ ràng về việc cho người làm tham vấn tâm lý học đường được tập huấn, có khung làm việc rõ ràng và phù hợp [31], [40]
Sự quan tâm của các cấp quản lí thể hiện ở sự quan tâm đối với người làm công tác tham vấn tâm lý học đường thông qua sự động viên, khích lệ khi họ thực hiện công việc Bên cạnh đó còn thể hiện ở sự nhận thức đúng về vai trò, ý nghĩa của tham vấn tâm lý học đường, xây dựng được lực lượng chuyên trách và có kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn cho các lực lượng này
Mặc dù đạt được những thành tựu và có sự phát triển nhất định trên khắp thế giới tuy nhiên các chương trình tham vấn tâm lý học đường vẫn gặp phải nhiều thách thức Giám sát kém các chương trình hướng nghiệp học đường dẫn đến hiệu quả không đồng đều, bên cạnh đó là yếu tố kinh phí duy trì các chương trình không
ổn định và nhận thức vẫn chưa cao ở phụ huynh về tầm quan trọng của tham vấn tâm lý học đường [33] Các trường THPT chưa có đội ngũ cán bộ phụ trách công tác tham vấn tâm lý học đường được đào tạo bài bản Cán bộ phụ trách công tác tham vấn tâm lý học đường của các trường chủ yếu là giáo viên kiêm nhiệm chứ chưa có chuyên viên tâm lý chuyên trách Các thầy cô không có nhiều thời gian để tìm hiểu sâu về chủ đề sức khỏe tinh thần vốn dĩ vô cùng đa dạng và phức tạp Điều kiện cơ sở vật chất lẫn kinh phí đầu tư cho hoạt động tham vấn tâm lý học đường ở phần lớn các trường THPT còn hạn chế Nhiều trường chưa có phòng tham vấn tâm
lý học đường cũng như các công cụ cần thiết cho quá trình thực hành
1.4.4 Thời gian dành cho công tác tham vấn tâm lý học đường
Một trong những yếu tố thách thức lớn nhất đối với lĩnh vực tham vấn tâm lý học đường là thiếu khung làm việc và các hình thức tổ chức mà trong đó người làm
Trang 36tham vấn, giám thị, học sinh và phụ huynh có thể làm việc cùng nhau để tạo điều kiện cho học sinh giải quyết các khó khăn tâm lý Hầu hết các thông tin giáo dục được cung cấp và tài liệu được phát cho học sinh và phụ huynh đều không chú trọng đến chủ đề khó khăn tâm lý mà chỉ tập trung vào chương trình học phổ thông
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã đi vào tìm hiểu một số vấn đề cơ bản của đề tài như khái niệm kỹ năng, tham vấn tâm lý, kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường cũng như đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn tâm lý Trong đó khái niệm chính của đề tài là kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường được trình bày như sau: kỹ năng tham vấn tâm lý là khả năng, năng lực trong quá trình tương tác giữa người làm tham vấn (người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo đức của nghề
tham vấn và được pháp luật thừa nhận) với thân chủ nhằm giúp đỡ thân chủ chia
sẻ, hiểu, chấp nhận và tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính
mình Các quá trình này có thể diễn ra theo hình thức cá nhân, nhóm và với nhiều giai đoạn Chương 1 cũng đã xác lập các biểu hiện của kỹ năng tham vấn tâm lý được chia thành 4 nhóm kỹ năng lớn: kỹ năng tham vấn tâm lý cá nhân, kỹ năng tham vấn tâm lý nhóm, kỹ năng thực hiện đánh giá và trắc nghiệm tâm lý, kỹ năng
tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường bao gồm giám sát chuyên môn, kiến thức và kỹ năng về tham vấn tâm lý học đường, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và thời gian dành cho công tác tham vấn tâm lý học đường Những nội dung lý luận này sẽ làm cơ sở cho nghiên cứu thực trạng kỹ năng tham vấn tâm
lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
Trang 37Chương 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổ chức nghiên cứu
2.1.1 Các giai đoạn nghiên cứu
Luận văn được thực hiện từ tháng 9/2020 đến tháng 09/2021 và được thực hiện theo hai đoạn: Giai đoạn nghiên cứu lí luận và Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn 2.1.1.1 Giai đoạn nghiên cứu lí luận
Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường, xác định quan điểm định hướng và thao tác hóa khái niệm nghiên cứu;
- Xác định địa bàn và mẫu nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước
có liên quan đến kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
- Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
- Xây dựng cơ sở lí luận về kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
- Thao tác hóa khái niệm kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
- Xác định nội dung nghiên cứu thực tiễn
Cách thức thực hiện
- Nghiên cứu tài liệu, văn bản;
- Mời người làm công tác tham vấn tâm lý học đường trả lời bảng hỏi thử và góp ý
Trang 38Kết quả nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
- Cơ sở lí luận về vấn đề nghiên cứu;
- Bảng hỏi định lượng về kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
- Bảng phỏng vấn sâu về kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
2.1.1.2 Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn
Nội dung nghiên cứu
- Thu thập số liệu về thực trạng kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
- Xử lý dữ liệu thu được từ khảo sát thực tiễn
- Phân tích thực trạng kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường và các yếu tố ảnh hưởng trên cơ sở những dữ liệu thu được từ khảo sát thực tiễn và nghiên cứu lí luận
Cách thức thực hiện
- Tiến hành cho học sinh và người làm công tác tham vấn tâm lý học đường làm bảng hỏi định lượng đánh giá về kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
- Thu bảng hỏi và kiểm tra, ghi mã số phiếu
Trang 39- Nhập dữ liệu từ những bảng hỏi hợp lệ vào phần mềm SPSS phiên bản 20.0
- Phân tích độ tin cậy, độ hiệu lực của các thang đo trong bảng hỏi thông qua phương pháp thống kê toán học
- Phỏng vấn sâu 5 người làm công tác tham vấn tâm lý học đường, 5 học sinh
đã được tham vấn tâm lý và 2 cán bộ quản lý trường học
- Phân tích thực trạng kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường và các yếu tố ảnh hưởng từ kết quả bảng hỏi, phỏng vấn sâu
Kết quả nghiên cứu
Chương 2 của luận văn: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 của luận văn: Thực trạng kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường dưới hình thức định lượng và kết quả định tính Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn tâm lý của người làm công tác tham vấn tâm lý học đường
Luận văn hoàn chỉnh
2.1.2 Địa bàn và mẫu nghiên cứu
2.1.2.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai tại 4 THPT trên địa bàn thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: THPT Ngô Thời Nhiệm, THPT Nguyễn Hữu Huân, THPT Tam Phú và THPT Long Trường Trong đó hai trường THPT Ngô Thời Nhiệm và THPT Nguyễn Hữu Huân nằm ở khu vực nội thành của thành phố Thủ Đức và hai trường THPT Tam Phú và THPT Long Trường nằm ở khu vực ngoại thành
2.1.2.2 Khách thể nghiên cứu
Mẫu của nghiên cứu này là mẫu ngẫu nhiên Mẫu điều tra bằng bảng hỏi định lượng chính thức bao gồm: 105 người làm công tác tham vấn học đường bao gồm giáo viên, chuyên viên tâm lý học đường
Bên cạnh đó nghiên cứu cũng tiến hành điều tra bảng hỏi trên 332 học sinh THPT Cuối cùng, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn định tính 5 người làm công tác tham vấn tâm lý học đường, 5 học sinh đã được tham vấn tâm lý và 2 cán bộ quản
lý trường học
Trang 40Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu khách thể người làm công tác tham vấn học đường (n=105)
Trường