Các công trình nghiên cứu về nhận thức của giáo viên về xây dựng lớp học hạnh phúc Một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự thành công của chương trình lớp học hạnh phúc là nhận thức
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG KIỀU MY
NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THÀNH PHỐ BIÊN HÒA VỀ XÂY DỰNG
LỚP HỌC HẠNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
Hà Nội - 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG KIỀU MY
NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THÀNH PHỐ BIÊN HÒA VỀ XÂY DỰNG
LỚP HỌC HẠNH PHÚC
Chuyên ngành: Tâm Lý Học (Tâm Lý Học Trường Học)
Mã số : 8 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hải Lâm
Hà Nội - 2021
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và được trích dẫn rõ ràng theo đúng quy định Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 10 năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Kiều My
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy, quý cô Khoa Tâm lý – Giáo dục, Học viện Khoa học xã hội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn cao học
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Hải Lâm, người đã tận tình dành nhiều thời gian quý báu để giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu và đóng góp những ý kiến quan trọng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn cao học này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn và người thân trong gia đình tôi, những người đã ủng hộ tôi về mặt tinh thần và tạo mọi điều kiện giúp tôi có thể hoàn thành luận văn của mình
Do đây là công trình khoa học đầu tiên, dù cho đã rất cố gắng tuy nhiên vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến quý báu của quý thấy và quý cô, các bạn đồng nghiệp và độc giả để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 10 năm 2021
Học viên
Nguyễn Hoàng Kiều My
Trang 5iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VỀ XÂY DỰNG LỚP HỌC HẠNH PHÚC 8
1.1 Lý luận về nhận thức 8
1.1.1 Khái niệm nhận thức 8
1.1.2 Các mức độ nhận thức 9
1.2.Khái niệm xây dựng lớp học hạnh phúc 11
1.2.1.Khái niệm hạnh phúc 11
1.2.2.Khái niệm lớp học hạnh phúc 12
1.2.3.Xây dựng lớp học hạnh phúc 13
1.2.4.Các nội dung của lớp học hạnh phúc 17
1.3.Nhận thức của giáo viên về xây dựng lớp học hạnh phúc 22
1.3.1.Khái niệm nhận thức của giáo viên về xây dựng lớp học hạnh phúc 22
1.3.2.Nội dung nhận thức của giáo viên về xây dựng lớp học hạnh phúc 23
1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của giáo viên về xây dựng lớp học hạnh phúc 25
1.4.1.Kiến thức của giáo viên 25
1.4.2.Kinh nghiệm của giáo viên 26
1.4.3.Điều kiện cơ sở vật chất 26
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1.Tổ chức nghiên cứu 28
2.1.1.Các giai đoạn nghiên cứu 28
2.1.2.Địa bàn và mẫu nghiên cứu 30
2.2.3.Phương pháp phỏng vấn sâu 35
2.2.4.Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học 36
Tiểu kết chương 2 37
Trang 6iv
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA VỀ XÂY DỰNG LỚP HỌC HẠNH PHÚC 39
3.1.Đánh giá chung về thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học thành phố Biên Hòa về xây dựng lớp học hạnh phúc 39
3.2.Đánh giá các phương diện nhận thức của giáo viên tiểu học thành phố Biên Hòa về xây dựng lớp học hạnh phúc 40
3.2.1.Nhận thức về mục tiêu của lớp học hạnh phúc 40
3.2.2.Các phương diện thành phần của giáo viên về xây dựng lớp học hạnh phúc42 3.2.3.Sự khác biệt về mức độ nhận thức về xây dựng lớp học hạnh phúc của giáo viên 49
3.2.4.Nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt dộng xây dựng lớp học hạnh phúc của giáo viên 58
Tiểu kết chương 3 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu khách thể giáo viên tiểu học (n=180) 30 Bảng 2.2 Nội dung bảng hỏi về nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc 32 Bảng 2.3 Độ tin cậy Cronbach’s Alpha của bảng câu hỏi định lượng 34 Bảng 3.1 Thực trạng các mặt biểu hiện nội dung nhận thức về xây dựng lớp học hạnh phúc của giáo viên tiểu học 39 Bảng 3.2 Thực trạng biểu hiện nhận thức về mục tiêu lớp học hạnh phúc của giáo viên 41 Bảng 3.3 Thực trạng biểu hiện nhận thức về tổ chức và quản lý lớp học của giáo viên 43 Bảng 3.4 Thực trạng biểu hiện nhận thức về xây dựng không khí lớp học của giáo viên 45 Bảng 3.5 Thực trạng biểu hiện nhận thức về xây dựng mục tiêu phát triển nhân cách cho học sinh của giáo viên 47 Bảng 3.6 Sự khác biệt về nhận thức về xây dựng lớp học hạnh phúc của GVTH (xét theo tiêu chí giới tính) 50 Bảng 3.7 Sự khác biệt về nhận thức về xây dựng lớp học hạnh phúc của GVTH (xét theo tiêu chí nhóm tuổi của GV) 50 Bảng 3.8 Sự khác biệt về nhận thức về xây dựng lớp học hạnh phúc của GVTH (xét theo tiêu chí khu vực) 51 Bảng 3.9 Sự khác biệt về nhận thức về xây dựng lớp học hạnh phúc của GVTH (xét theo tiêu chí GV chủ nhiệm và GV kiêm nhiệm) 52 Bảng 3.10 Sự khác biệt về nhận thức về xây dựng lớp học hạnh phúc của GVTH ( xét theo tiêu chí trình độ của GV) 53 Bảng 3.11 Sự khác biệt về nhận thức về xây dựng lớp học hạnh phúc của GVTH ( xét theo tiêu chí thâm niêm công tác) 54
Trang 9vii
Bảng 3.12 Sự khác biệt về nhận thức về xây dựng lớp học hạnh phúc của GVTH ( xét theo tiêu chí GV giữa các khối lớp) 56 Bảng 3.13 Sự khác biệt giữa giáo viên đã được tập huấn và chưa được tập huấn về kỹ năng quản lý lớp học 57 Bảng 3.14 Sự khác biệt giữa giáo viên đã được tập huấn và chưa được tập huấn
về tâm lý lứa tuổi, tâm lý học phát triển 57 Bảng 3.15 Sự khác biệt giữa giáo viên đã được tập huấn và chưa được tập huấn về các phương pháp hỗ trợ tâm lý, tâm lý giáo dục cho học sinh 58 Bảng 3.16 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về mục tiêu lớp học hạnh phúc của giáo viên 59
Trang 10viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình nhận thức Miller 9
Sơ đồ 1.2 Định nghĩa của học sinh tiểu học về lớp học hạnh phúc 15
Sơ đồ 1.3 Định nghĩa của giáo viên tiểu học về lớp học hạnh phúc 16
Biểu đồ 3.1 Phân bố điểm nhận thức chung về xây dựng lớp học hạnh phúc 40
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là gốc rễ của xã hội, là sự phát triển của tương lai, giáo dục là nền tảng để xây dựng nên một giá trị của con người, góp phần thúc đẩy sự phát triển của
quốc gia Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp
hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (trích trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt
Nam Dân chủ cộng hòa” của chủ tịch Hồ Chí Minh) Giáo dục không chỉ dừng ở việc truyền lại tri thức, không dừng ở việc rèn giũa đạo đức, xây dựng nhân phẩm,
mà hơn hẳn những điều ấy là “hạnh phúc” trong việc nhận được tri thức song hành cùng “hạnh phúc” trong việc được truyền đạt tri thức
Lý thuyết học tập xã hội của nhà tâm lý học Bandura năm 1977 đã chứng minh môi trường và không khí của lớp học có thể tác động đáng kể đến sự phát triển hành
vi của học sinh cũng như chất lượng tương tác giữa giáo viên và học sinh [6] Mainhart và cộng sự (2011) ghi nhận các yếu tố của lớp như tương tác xã hội giữa học sinh và giáo viên, các kỳ vọng về hành vi và học tập, cơ sở vật chất và tổ chức lớp học đều có tác động đến cảm nhận của học sinh [24] Nhà giáo dục không chỉ chú ý đến việc học sinh nhận lại được những tri thức gì sau mỗi giờ lên lớp, mà cao hơn cả những tri thức sách vở ấy là niềm vui của sự học, đổi mới cách thức dạy tạo ra giờ học hạnh phúc, thêm niềm hứng khởi cho học sinh, không còn là những giờ học nghe chép truyền thống nữa mà là sự kết nối giữa thầy cô với học sinh của mình Qua đó học sinh có cơ hội phát triển toàn vẹn về tâm lý tình cảm và tri thức văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần con người mai sau Một đứa trẻ không nhận được hạnh phúc khi trưởng thành sẽ khó có thể lan tỏa hạnh phúc cho người thân xung quanh, bạn bè… Như vậy tạo ra hạnh phúc trong môi trường hóc tập là một việt làm cấp bách và cần thiết cho đời sống tinh thần con người ngày nay Nghị quyết
số 29 của Ban Chấp hành Trung ương “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
Trang 122
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã quy định từ
tháng 1/2021, các trường sẽ tổ chức hội thảo cấp tổ chuyên môn, cấp trường để chọn
ra mô hình trường học hạnh phúc hiệu quả để tham gia báo cáo cấp cụm, cấp huyện vào tháng 2/2021 và tổ chức hội thảo cấp thành phố vào tháng 4/2021 Theo đó, Sở GD&ĐT yêu cầu mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh xây dựng “Trường học hạnh phúc” bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hạn chế tính hình thức Điều này cho thấy tầm quan trọng việc xây dựng trường học, lớp học hạnh phúc, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động học tập và quá trình phát triển nhân cách
khỏe mạnh cho học sinh
Từ cơ sở trên, đề tài nghiên cứu “Nhận thức của giáo viên tiểu học thành
phố biên hòa về xây dựng lớp học hạnh phúc” được xác lập
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Các công trình nghiên cứu về lớp học hạnh phúc
Bredemeier, M E năm 1976 trong bài báo khoa học “Lớp học hạnh phúc và vui vẻ” đăng trên tạp chí Giáo dục số 97 (2), (trang 192–198) đã mô tả về tình trạng lớp học tại các trường công lập Tác giả đánh giá phần lớn lớp học tại những trường công lập tại Hoa Kỳ trong thời gian 1960 đến 1970 là những nơi không mang lại hạnh phúc cho học sinh và được quản lý bởi những quy tắc nhỏ nhặt Điều này đã được các hiệp hội Tâm lý học đường tại Hoa Kỳ ghi nhận và xây dựng các chương trình can thiệp Trong hoạt động đánh giá trên 257 học sinh và giáo viên lớp 6 năm 1973 đã cho thấy sự thay đổi nhất định Bầu không khí của lớp học trở nên hạnh phúc hơn, trong đó giáo viên và học sinh thích và tôn trọng các ý kiến cũng như phát biểu của nhau hơn Phát biểu của học sinh trong lớp học được khuyến khích và gợi mở tạo ra bầu không khí vui vẻ và hạnh phúc [8]
Tại Tây Ban Nha, một trong những chương trình đầu tiên đã được phát triển là Chương trình Lớp học Hạnh phúc của tác giả Arguís (2012) (thêm khảo tại: http://www.aulasfelices.org) Chương trình này được thiết kế để thực hiện trên đối tượng học sinh mầm non, tiểu học và trung học Mục tiêu của chương trình lớp học được xây dựng tại Tây Ban Nha là tăng cường sự phát triển nhân cách và kỹ năng
Trang 133
tương tác xã hội, qua đó thúc đẩy mức độ hạnh phúc ở học sinh, giáo viên và gia đình để đóng góp vào sự phát triển của học sinh ngoài việc học tập [5] Nghiên cứu này là nền tảng cho thấy bên cạnh kiến thức, trường học còn là nơi phát triên kỹ năng xã hội, nền tảng của việc phát triển nhân cách ở học sinh
Nghiên cứu “Lớp học hạnh phúc: Bài học từ nghiên cứu tại các trường học ở Delhi, Ấn Độ” của tác giả Esther Care và cộng sự công bố trên Tạp chí Phát triển giáo dục xuất bản năm 2020 đã cho thấy nhữn kinh nghiệm và kết quả thực tiễn trong việc xây dựng lớp học hạnh phúc tại Ấn Độ Chương trình lớp học hạnh phúc tại Delhi được thiết kế để củng cố nền tảng của hạnh phúc và thúc đẩy cảm giác hạnh phúc cho tất cả học sinh khi các em đến trường trong cả giờ học Chương trình lớp học hạnh phúc này thúc đẩy sự thay đổi mối quan hệ của học sinh với giáo viên theo hướng tích cực hơn với sự tương tác, không phán xét thông qua một tiết học 35 phút được tổ chức mỗi ngày cho mỗi học sinh từ mẫu giáo đến lớp 8 trên 1030 trường ở Delhi Chương trình bắt đầu vào tháng 7 năm 2018 và hướng đến mục tiêu xây dựng trường học hạnh phúc cho hơn 800.000 học sinh [13] Nghiên cứu đã làm
rõ hơn những đặc điểm của một lớp học hạnh phúc cần phải có và các kỹ năng để người giáo viên có thể xây dựng một lớp học hạnh phúc như khuyến khích học sinh phát biểu, điều phối học sinh thảo luận và phản hồi ý tích cực những ơhats biểu của học sinh
Từ bài báo khoa học của Bredemeier, M E năm 1976, có thể thấy được rằng phần lớn trong giai đoạn này đa số các lớp học tại những trường công lập ở Hoa Kỳ không mang lại hạnh phúc cho học sinh, các nội quy về lớp học hướng tới các nguyên tắc về mặt kỷ luật, chưa có sự xuất hiện các yếu tố để tạo ra một lớp học mang bầu không khí vui vẻ, thoải mái, không gây áp lực đối với học sinh Về mặt tinh thần, khi đứa trẻ không được thoải mái hay không cảm thấy hạnh phúc đối với việc đến trường nó sẽ có nguy cơ trở thành một rào cản đối với việc tiếp nhận lời giảng của thầy cô, học tập một cách thụ động không còn hứng thú xây dựng bài, hay giơ tay phát biểu ý kiến Sau khi nhận ra điều này các hiệp hội Tâm lý học đường tại Hoa
Kỳ đã xây dựng và tạo ra một khung chương trình mới thông qua khảo sát thực tế để
Trang 144
tạo ra được một môi trường học tập hạnh phúc hơn, nhấn mạnh đến sở thích và quyền được tôn trọng giữa học sinh và giáo viên Ngoài ra Tây Ban Nha cũng đã nhận ra tầm quan trọng của việc tạo ra một môi trường học hạnh phúc nên các chương trình tại nước này được thiết kế hướng đến các đối tượng học sinh là nhóm học sinh mầm non, nhóm học sinh tiểu học và nhóm học sinh THCS Chương trình do Tây Ban Nha thiết kế chú trọng vào sự phát triển nhân cách và khả năng tương tác xã hội của học sinh Từ các công trình nghiên cứu trên, ta thấy được rằng xây dựng một môi trường học hạnh phúc là điều hết sức cần thiết mà chúng ta cần quan tâm nhiều hơn để thúc đẩy sự phát triển toàn vẹn về nhân cách đến các kỹ năng tương tác xã hội cho mỗi cá nhân khi còn ngồi trên ghế nhà trường
2.2 Các công trình nghiên cứu về nhận thức của giáo viên về xây dựng lớp học
hạnh phúc
Một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự thành công của chương trình lớp học hạnh phúc là nhận thức của giáo viên Nghiên cứu của Shim, Kiefer, & Wang (2013) cho thấy việc giáo viên khuyến khích hỗ trợ học tập lẫn nhau ở học sinh và sự nâng đỡ của giáo viên có liên quan trực tiếp đến việc học sinh tương tác tích cực với bạn bè đồng trang lứa Hành vi của học sinh phát triển trong bối cảnh môi trường giáo dục của họ, do đó điều quan trọng là phải đánh giá nhận thức của giáo viên về hành vi của học sinh trong toàn lớp ngoài hoạt động của
cá nhân học sinh [31]
Nghiên cứu “Trường học yên bình và hạnh phúc: Cách xây dựng môi trường học tập tích cực” của tác giả Şükran Calp xuất bản năm 2020 đã liệt kê các nguyên tác của một lớp học hạnh phúc bao gồm: tình thương, sự tôn trọng, sự trung thực, lòng dũng cảm, sự đồng cảm và lòng tốt Nghiên cứu này đã xem xét khái niệm “trường học yên bình và hạnh phúc” và nhằm mô tả một ngôi trường yên bình và hạnh phúc theo quan điểm của giáo viên tiểu học và học sinh tiểu học Những người tham gia nghiên cứu bao gồm 126 người, 103 học sinh tiểu học và 23 giáo viên tiểu học từ các trường công lập ở Thổ Nhĩ Kỳ Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp từ học sinh và giáo viên tiểu học Hình thức phỏng
Trang 155
vấn bán cấu trúc được sử dụng cho cả hai nhóm [10]
Tạo ra một lớp học hạnh phúc là điều không dễ dàng gì khi mà còn nhiều yếu
tố trở ngại như điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực, người có chuyên môn đào tạo về lớp học hạnh phúc Học tập luôn được duy trì như một hoạt động mỗi ngày trong cuộc sống Vì vậy muốn xây dựng một môi trường học tập tích cực, mang lại hạnh phúc giữa người dạy và người học là hành trình lâu dài, bền bỉ Dựa vào nghiên cứu của Şükran Calp chúng ta cần nhìn nhận một cách thực cụ thể về ý niệm tạo ra môi trường học tập hạnh phúc và tích cực Giá trị nào tạo nên thành công của lớp học hạnh phúc, được quyết định bởi người giáo viên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về nhận thức của giáo viên tiểu học
về xây dựng lớp học hạnh phúc, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp giáo viên tiểu học nâng cao nhận thức về xây dựng lớp học hạnh phúc
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng lý luận về nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc;
- Phân tích thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc;
- Đề xuất một số kiến nghị nâng cao nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
Trang 166
về xây dựng mục tiêu phát triển nhân cách cho học sinh
Về địa bàn nghiên cứu: đề tài triển khai nghiên cứu thực trạng tại hai trường
tiểu học trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai: trường tiểu học Tân Phong A, trường tiểu học Tân Phong B
Về khách thể nghiên cứu: đề tài khảo sát trên 180 giáo viên tiểu học trên địa
bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận trong tâm lý học sau:
- Nguyên tắc hoạt động – nhân cách: Nghiên cứu nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc không tách rời các hoạt động - giao tiếp và các đặc điểm nhân cách của giáo viên
- Nguyên tắc hệ thống: Nghiên cứu nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc trong mối quan hệ, tác động qua lại với các yếu tố tâm lý
cá nhân và tâm lý xã hội của giáo viên
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn được sử dụng bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp phân tích số liệu bằng thống kê toán học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài đã xây dựng cơ sở lý luận về nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc; xác định các khái niệm công cụ (nhận thức, xây dựng lớp học hạnh phúc, nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc); xác định các phương diện nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc và chỉ ra thực trạng một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của giáo
Trang 177
viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm vào lý luận tâm lý học, tâm lý học giáo dục một số vấn đề lý luận về nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đã chỉ rõ thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc, làm rõ thực trạng từng phương diện nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
Đề tài đã đưa ra một số kiến nghị giúp giáo viên tiểu học nâng cao nhận thức của họ về xây dựng lớp học hạnh phúc
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo bổ ích dành cho giáo viên tiểu học, là cơ sở để họ xây dựng mô hình lớp học hạnh phsc trong giảng dạy Đây cũng là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu có quan tâm đến nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học thành phố Biên Hòa về xây dựng lớp học hạnh phúc
Trang 18Tác giả Nguyễn Khắc Viện (1995) trong cuốn “Từ điển tâm lý học” đã định
nghĩa: “Nhận thức là một quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý nhưng không bao
giờ nhận thức hết hiệu lực, phải thấy dần đến cái sai, tức không ăn khớp với hiện thực để đi hết bước này đến bước khác” [4]
Nguyễn Quang Uẩn (2000) định nghĩa: “Nhận thức là một quá trình tâm lý Ở
con người quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ảnh hiện thực khách quan Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng…) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm ,)” Theo định nghĩa này, nhận thức không
chỉ đơn thuần là hiện tượng mà còn là hoạt động thực tiễn của con người có những mục đích nhất định, đồng thời tạo ra những sản phẩm mang tính thực tiễn về hình ảnh, hình tượng, khái niệm [3]
Tác giả Bùi Minh Hiền (2001) trong cuốn “Từ điển Giáo dục học” cho rằng:
“Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong
tư duy của con người” Như vậy, Nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (Nhận biết là mức độ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất)” [2]
Tác giả Vũ Dũng (2012) trong cuốn “Từ điển Thuật ngữ Tâm lý học” cho
rằng: “Nhận thức là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc
được chuyển hoá, được mã hoá, được lưu giữ và sử dụng Hiểu nhận thức là một
Trang 199
quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc con người, được con người lưu giữ và mã hoá” [1]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra định nghĩa như sau: “Nhận thức là
hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu nhất định thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các quy trình của : tri thức, sự chú ý, trí nhớ, năng lực đánh giá và giải quyết vấn đề, việc đưa ra quyết định , lĩnh hội và
sử dụng ngôn ngữ Nhờ những quá trình này mà bộ não con người được kết nối chặt chẽ để có thể nhận thức đúng đắn trước mọi sự việc”
Sơ đồ 1.1 Mô hình nhận thức Miller
Theo mô hình Miller, nhận thức phải trải qua 4 mức độ [26]:
- Mức độ 1: thấp nhất, là biết
- Mức độ 2: mức độ biết
- Mức độ 3: chỉ dẫn
- Mức độ 4: thực hành
Theo Robert M Gagne, cũng là một nhà tâm lý giáo dục của Mỹ, ông đưa ra 8
Hiệu suất được tích hợp vào thực tiễn
Ví dụ như thông qua quan sát trực tiếp, dựa trên
hành dẫn
Giải thích/ ứng dụng thông qua
các vài thuyết trình tình huống,
bài luận, loại đối sánh mở rộng
Trang 2010
mức độ nhận thức, đi từ thấp lên cao bao gồm [14]:
- Mức 1: Học qua tín hiệu: làm thế nào để phản ứng lại với tín hiệu giống như thí nghiệm điều kiện hóa cổ điển của Pavlov
- Mức 2: Phản ứng - Kích thích: học cách phản ứng chính xác với những kích thích/ tín hiệu chính xác Nó khác với học qua tín hiệu ở chỗ học tập qua tín hiệu dẫn đến những phản ứng không tự chủ, trong khi phản ứng kích thích ở mức 2 là phản ứng có kiểm soát, có tự chủ hay còn gọi là điều kiện hóa thao tác
- Mức 3: Hình thành chuỗi: hình thành một chuỗi bao gồm nhiều cặp kích thích và phản ứng đã được học từ trước Đây là quá trình hình thành nên những kĩ năng tâm vận động phức tạp như đạp xe, chơi đàn
Mức 4: Liên kết với ngôn ngữ: Các chuỗi là những liên kết được hình thành bằng ngôn ngữ, đây là quá trình tiên quyết để phát triển kĩ năng ngôn ngữ
Mức 5: Phân biệt: Biết cách phân biệt giữa các kích thích tương tự nhau, từ đó
có các phản ứng khác nhau với các kích thích tương tự đó
Mức 6: Khái niệm hóa: Khả năng đưa ra những phản ứng thống nhất với những kích thích khác nhau nhưng cùng trong nhóm chung Đây là khả năng khái quát hóa, phân loại
Mức 7: Học nguyên tắc: Đây là quá trình nhận thức cấp cao, là khả năng hiểu được mối quan hệ giữa các khái niệm và áp dụng mối tương quan này trong các tình huống khác nhau, bao gồm cả tình huống mới, giúp hình thành nên nguyên tắc, quy trình
Mức 8: Giải quyết vấn đề: Mức nhận thức cao nhất đòi hỏi khả năng phải tìm ra quy luật phức tạp để giải quyết vấn đề nào đó, và sau đó sử dụng phương pháp đó để giải quyết các vấn đề tương tự
Như vậy theo Miller ta có các mức độ nhận thức từ thấp đến cao gồm: thấp nhất là biết đến các cấp độ của biết, đạt đến mức độ có thể chỉ dẫn lại và thành thạo khi được thực hành Với Miler thì ông cho rằng có 4 mức độ của nhận thức nhưng theo như Robert M Gagne thì ông đã cho rằng có 8 mức độ của nhận thức
đã nêu trên Dù nhận thức dưới góc nhìn của các nhà tâm lý có khác nhau nhưng xét
Trang 2111
về mặt tổng thể thì các ý đều khẳng định sự nhận thức của con người vừa ý thức vừa vô thức vừa cụ thể vừa trừu tượng và mang tính trực giác Trong quá trình nhận thức sử dụng tri thức có sẳn và tạo ra tri thức mới
1.2 Khái niệm xây dựng lớp học hạnh phúc
Có rất nhiều khía cạnh khác nhau định nghĩa về hạnh phúc, tuy nhiên có thể hiểu hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thoả mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng Hạnh phúc là một loại cảm xúc bậc cao mà ta luôn mưu cầu đến, giữa cuộc sống muôn màu, chúng ta không thể trãi qua mỗi ngày đều là buồn bả, ảm đạm, mà cần có niềm vui và hạnh phúc để lắp đầy tâm hồn Platon là một trong những người đầu tiên phân loại hạnh phúc, bao gồm: hạnh phúc
về xác thịt, hạnh phúc đến từ bên ngoài và hạnh phúc về mặt tâm hồn
Tác giả Myers (1995) cho rằng hạnh phúc như một khái niệm đề cập đến cảm giác mãn nguyện của một cá nhân trong cả hai khía cạnh nhận thức và cảm xúc; sự thống trị của cảm giác tích cực trong cuộc sống của một cá nhân và mức độ thấp của cảm giác tiêu cực và là một quá trình đánh giá chủ quan trong đó các tiêu chí được xác định bởi cá nhân có liên quan [27]
Còn tác giả Veenhoven (2009) thì cho rằng hạnh phúc là mức độ mà một cá nhân cảm nhận cuộc sống của mình là tích cực Bốn yếu tố chính được nhấn mạnh trong định nghĩa này là: cá nhân, chủ quan, nhận thức và mức độ Hạnh phúc là một khái niệm dùng để chỉ tình trạng hiện tại của bất kỳ cá nhân nào Đó là một phân tích chủ quan về cuộc sống của một cá nhân; là một hoạt động trí tuệ được hình thành bằng cách đánh giá những kinh nghiệm trong quá khứ và ước tính những gì tương lai có thể mang lại Một cá nhân có thể nhận ra hạnh phúc của mình bằng cách so sánh với những lần họ không hạnh phúc [34]
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng các khái niệm của hạnh phúc đều nhấn mạnh đến cảm xúc của một cá nhân, khi các cảm xúc cá nhân tồn tại trong một tập thể tạo thành cảm xúc nhóm tập hợp các cảm xúc của mỗi cá nhân Đây là cảm xúc cần có và cần được duy trì thường xuyên, khi một cá nhân không còn cảm
Trang 2212
thấy hạnh phúc hay không còn xuất hiện những cảm xúc mang lại niềm vui nữa
là lúc cá nhân cần điều chỉnh lại ngay lập tức để cơ thể không cảm thấy mệt mỏi hay rơi vào trạng thái bế tắc Nó có thể được biểu hiện thông qua sự thành công trong công việc, trong tình yêu, trong cuộc sống
Snyder và Lopez (2009) cho rằng lớp học hạnh phúc là sự kết hợp hai khái niệm đã được nghiên cứu rộng rãi trong tâm lý học tích cực đó là chánh niệm (mindfulness) và sự phát triển tự do nhân cách học sinh [23] Quan niệm về chánh niệm có nguồn gốc từ Phật giáo và sau này được phát triển rộng rãi trong tâm lý học nói chung và thực hành tâm lý tích cực nói riêng Một trong những định nghĩa được trích dẫn phổ biến nhất về chánh niệm là định nghĩa của Kabat-Zinn (199): “Chánh niệm là loại nhận thức nảy sinh thông qua sự chú ý theo một cách cụ thể: có chủ đích, trong giây phút hiện tại và không phán xét [20] Tuy nhiên, định nghĩa chánh niệm phổ biến nhất là của Bishop (2004): “chánh niệm bao gồm hai thành phần là điều chỉnh chú ý hướng về hiện tại và chấp nhận những trải nghiệm của một chủ thể” [7] Từ khái niệm của Snyder và Lopez, chúng ta nhận ra rằng chánh niệm là nhận thức của bản thân về một vấn đề cụ thể trong đời sống, nó có chủ đích cụ thể không mang mục đích phán xét về thế giới quan với những sự vật hiện tượng đang diễn ra trong đời sống Khi có vấn đề xãy ra, không phán xét, hay đánh giá, tích cực hoá hay cố gắng xua đuổi Chiều kích thứ hai của các lớp học hạnh phúc là sự phát triển về mặt nhân cách Sự phát triển (trưởng thành nhân cách) là sự gia tăng
về năng lực nhận thức, tự ý thức, hành vi, thể hiện lòng tính nhân văn và khả năng hoạt động các thuộc tính tâm lý (tưởng tượng, giải quyết vấn đề, ghi nhớ) với hiệu suất cao [28] Trong công trình nghiên cứu của mình, Peterson và Seligman (2004) đã thiết lập một hình mẫu về nhân cách tốt với 24 điểm mạnh được tổ chức theo sáu đức tính: Trí tuệ và Kiến thức (bao gồm: tò mò, thích học hỏi, phán đoán, sáng tạo và quan điểm), Mạnh mẽ (bao gồm: dũng cảm, tính tổ chức, liêm chính và đam mê), Nhân văn (bao gồm: tình yêu thương, lòng tốt và trí tuệ xã hội), Công lý (bao gồm: quyền công dân, công bằng và lãnh đạo), Quân bình (nghĩa là, tha thứ, khiêm tốn, thận trọng và tự chủ) và Siêu việt (nghĩa là đánh giá cao vẻ đẹp, lòng
Trang 2313
biết ơn, hy vọng, sự hài hước và đời sống tâm linh) [30] Điều đó cho thấy một lớp học hạnh phúc phải có các mục tiêu về việc phát triển nhân cách cho học sinh, bên cạnh phát triển về mặt tri thức
Lombass và cộng sự (2009) đã định nghĩa Lớp học hạnh phúc là nơi mà học sinh phải có sức khỏe tinh thần khỏe mạnh, có không khí lớp học tích cực và không
có các vấn nạn bạo lực học đường [22] Tác giả Jennings & Greenberg (2009) đã bổ sung thêm về khía cạnh giáo viên, lớp học hạnh phúc là nơi mà giáo viên cần có năng lực về giáo dục cảm xúc, kết nối được với học sinh và giúp đỡ học sinh giải quyết các vấn đề của mình [19]
Sự hỗ trợ phát triển nhân cách cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục nói chung và chương trình lớp học hạnh phúc nói riêng cho thấy những thành quả nhất định trong việc thúc đẩy sự phát triển tích cực của học sinh, ngăn ngừa các rối loạn tâm lý và thăng tiến con người [29] Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hạnh phúc
có liên quan chặt chẽ hơn đến sự hài lòng cuộc sống, tăng thành tích ở trường; giảm các triệu chứng trầm cảm và tham gia vào hoạt động xã hội tích cực ở trường [32] Mặc dù sự phát triển nhân cách được coi là ổn định trong suốt dòng đời, đây cũng là
hệ quả của những can thiệp có chủ ý như là hoạt động giáo dục Nghiên cứu trong môi trường giáo dục ở học sinh phổ thông đã chỉ ra rằng các can thiệp dựa trên điểm mạnh của tính cách làm tăng mức độ hài lòng và hạnh phúc trong cuộc sống của học sinh, tăng mức độ gắn kết học đường, thỏa mãn nhu cầu tâm lý, cảm xúc tích cực và tham gia vào lớp học; và có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến tới các mục tiêu tự phù hợp với tư cách là động lực nội tại [33]
Qua các khái niệm trên, có thể thấy mục tiêu chính của lớp học hạnh phúc là xây dựng được cảm giác hạnh phúc và thúc đẩy phát triển nhân cách
Trang 2414
phản ánh Nó được thúc đẩy bởi hoạt động với sự phản ánh, sự hợp tác để học tập, trách nhiệm của người học đối với việc học tập và tìm hiểu về việc học tập Bên cạnh đó là phương pháp truyền đạt bài giảng bao gồm sử dụng hiệu quả thời gian, các phương pháp và kỹ thuật để học sinh tích cực hơn, giao tiếp và hợp tác hơn để học tập Bài giảng tương tác là một ví dụ về cách truyền đạt kiến thức về học tập có
ý nghĩa, nên triển khai trên lớp học Trong bài giảng tương tác, học sinh được yêu cầu tham gia tích cực và xử lý kiến thức trong suốt bài giảng [39]
Theo tác giả Weare và Nind (2011) Chương trình lớp học hạnh phúc được xây dựng để phù hợp với các mục tiêu và yêu cầu chung của chương trình giảng dạy tại trường học Xây dựng lớp học hạnh phúc phải bao gồm các khía cạnh: Hướng dẫn và tham vấn học đường, Giáo dục Giá trị hoặc Tính cách Qúa trình xây dựng là sự phối hợp của giáo viên và những nhà tâm lý học trường học, trước khi tiến hành đào tạo lại cho giáo viên và bắt đầu áp dụng vào thực tiễn Các hoạt động của lớp học hạnh phúc phải được xây dựng bao gồm: dạy các kỹ năng, hỗ trợ đời sống tinh thần, cân bằng mục tiêu và phương pháp học đa phương thức Tiếp cận đa phương thức là sử dụng các phương pháp vừa truyền thống vừa phi truyền thống để liên kết mục tiêu học tập và khả năng của học sinh, cải thiện đặc tính học đường, liên lạc với phụ huynh, kêu gọi sự tham gia của cộng đồng và phối hợp làm việc với các cơ quan bên ngoài Các can thiệp chỉ có hiệu quả nếu chúng được thực hiện đầy đủ và chính xác: điều này được áp dụng đặc biệt cho các can thiệp trong toàn trường có thể không hiệu quả nếu không được thực hiện rõ ràng, mạnh mẽ và trung thực [35] Trong một công trình nghiên cứu phân tích tổng hợp trên 800 nghiên cứu về tổ chức và quản lý lớp học, Masters (2015) đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng giữa mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh Nghiên cứu này đã xác định 12 yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc học và không khí lớp học: đáp ứng kỳ vọng của học sinh, tổ chức thảo luận trong lớp, sự rõ ràng của giáo viên, khả năng đưa ra phản hồi, kỹ năng sư phạm, quản lý lớp học, chia nhóm trong lớp, bài tập về nhà, tỷ lệ thời gian cho hoạt động tập thể dục/nghỉ ngơi, kỹ năng nhóm, từ chối và ứng phó với thay đổi
từ trường học Ngoài ra, nghiên cứu đã xác định năm đặc điểm nổi bật sau đây của
“giáo viên xuất sắc”: khả năng hôc trợ học sinh kịp thời trong các tình huống cấp
Trang 2515
Nơi mọi trách nhiệm
Nơi có nhiều niềm
yên tĩnh
Nơi mọi
trách nhiệm
Nơi mà giáo viên không tỏ
ra giận dữ
Các trò
khuyến khích
Giống
Ý kiến mọi người đều được tôn trọng
Có kỉ luật
bạo lực học đường
thiết; khả năng hướng dẫn việc học thông qua các tương tác diễn ra trong lớp học; khả năng phản hồi liên tục; khả năng thể hiện sự đồng cảm và bày tỏ cảm xúc tích cực đối với học sinh và gia đình và cuối cùng là khả năng ảnh hưởng đến kết quả của học sinh và biết cách “tạo ra sự khác biệt” Tất cả những khía cạnh này có thể được coi là những cấu trúc phức tạp do sự tương tác giữa các khía cạnh nhận thức, cảm xúc, kinh nghiệm thực tiễn và thái độ của giáo viên [25]
Trong công trình nghiên cứu “Trường học hạnh phúc và an bình: phương pháp xây dựng môi trường học tập tích cực” của tác giả Şükran Calp (2020) đã mô tả các định nghĩa của giáo viên và học sinh tiểu học về lớp học hạnh phúc thông qua việc phỏng vấn từng nhóm đối tượng [10] Định nghĩa lớp học hạnh phúc được mô
Trang 2616
Nơi mọi nguời đều cảm thấy có giá trịKhông có áp
lực học tập
Có giáo dục đặc biệt và hòa nhập
Mọi người đều
tìm thấy
đó từ
chính họ
Lớp học cần trật tựhạnh phúc
đều thấy
yên
Có sự cần bằng trong lớp học
Biết tin tưởng vào
Học sinh và giáo viên có sự giao tiếp hiệu quả,
- Yếu tố về giáo viên: đa phần các em học sinh đều mong muốn giáo viên không thường giận dữ, không khiến học sinh hoảng sợ và đặc biệt cần phải có trách nhiệm
- Mục tiêu của bài học: một số em học sinh đã đề cập đến việc áp dựng được nội dung bài học vào thực tế
Sơ đồ 1.3 Định nghĩa của giáo viên tiểu học về lớp học hạnh phúc
Trang 27- Giúp học sinh phát triển nhân cách: các giá trị như biết tin tưởng, tìm kiếm được những ưu và nhược điểm của bản thân và có cảm giác bình yên, hạnh phúc
Năm 2019 Bộ Giáo dục và đạo tạo đã phát động trên toàn quốc để triển khai
kế hoạch “Nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nahf giáo vì một trường học hạnh phúc”, chúng ta đã manh nha các ý niệm về một trường học lí tưởng hướng đến những giá trị nhân văn và cao đẹp, tạo ra môi trường sư phạm lành mạnh, văn minh đúng với câu “mỗi ngày học là một ngày vui”, đây cúng là một trong những câu slogan được treo ở dất nhiều trường học từ mầm non đến tiểu học, điều này chứng minh việc tọa ra một môi trường học tập hạnh phúc là một sự cần thiết nhường nào
Từ những dẫn chứng trên, chúng tôi đưa ra định nghĩa về xây dựng lớp học
hạnh phúc là:”hoạt động tổ chức, quản lý lớp học và không khí lớp học nhằm
hướng đến việc mang lại hạnh phúc và thúc đẩy sự phát triển nhân cách cho học sinh”
Vậy nhận thức về xây dựng lớp học hạnh phúc có thể hiểu không chỉ là sự an toàn về mặt thể chất mà còn là cả tinh thần của các em học sinh, người đóng vai trò quan trọng là giáo viên của các em, mọi sự hạnh phúc phải dựa trên việc giáo viên thật lòng yêu mến học sinh của mình và học sinh tin yêu vào giáo viên của mình Làm cho mỗi giờ học đều trở nên hạnh phúc, mỗi ngày đến trường là một ngày vui
1.2.5.1 Tổ chức và quản lý lớp học
Haberman (1995) cho rằng: “Dù lý do cho hành vi của trẻ em là gì – do tình trạng nghèo đói, tính cách, tình trạng khuyết tật, một gia đình rối loạn chức năng, hay một môi trường lớp học bất ổn, thì người giáo viên vẫn có trách nhiệm quản lý
Trang 2818
theo dõi tình trạng sống của các em, phải giúp học sinh làm việc cùng nhau trong một không gian hạn chế (lớp học và trong tiết học), và giáo viên có trách nhiệm đảm bảo rằng tất cả các em học sinh đều được học, tham gia vào buổi học (tr 22) Ý kiến của Haberman cho thấy trình học tập của học sinh và phát triển của học sinh phụ thuộc vào khả năng của giáo viên trong việc tạo ra và duy trì môi trường học tập tối ưu Các lớp học tại những đô thị lớn với đặc thù là không gian nhỏ, đông học sinh có thể và thường đặt ra nhiều thách thức cho giáo viên trong việc phát triển không gian học tập hiệu quả [17]
Gibbs, Huang và Associates (1998) ghi nhận: “Ở thanh thiếu niên, những lo âu học đường hoặc trốn học có thể biểu hiện nỗi sợ hãi về một môi trường học đường bạo lực hoặc nhiều bất ổn hoặc thể hiện tình trạng bị kỳ thị (từ học sinh khác hoặc
từ chính giáo viên) (tr.17) Tác giả cũng lưu ý rằng giáo viên cần phải giải quyết được những tinh huống phát sinh trong lớp học, giữa tương tác học sinh với nhau Các giáo viên thêm trách nhiệm trong việc giải quyết những vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến kỷ luật lớp học [15] Wilson và Corbett (2001) và Delpit (1995) cho rằng môi trường lớp học phải là nơi mà các kỳ vọng được nêu rõ ràng, không được phép bào chữa, viện lí do và các hành vi không phù hợp phải được xử lý ngay lập tức [37],[11]
Bên cạnh đó, một trong những phương pháp tổ chức và quản lý lớp học theo
mô hình hiện đại là phân quyền hạn lớp học Một cách mà giáo viên có thể thể hiện
rõ ràng tính quyết đoán và xác lập quyền hạn là thông qua trao đổi bằng lời nói của họ với học sinh Delpit (1995) chỉ ra rằng nhiều học sinh, đặc biệt là học sinh cấp 1 thành thị mong đợi những mệnh lệnh bằng lời nói trực tiếp hơn trẻ ở nông thôn Tác giả cho rằng “các bà mẹ thuộc tầng lớp lao động sử dụng nhiều chỉ thị đối với con cái hơn là đối với tầng lớp trung lưu và thượng lưu” (trang 34) Delpit chỉ ra rằng trẻ em từ các gia đình thuộc tầng lớp lao động gặp khó khăn trong việc tuân theo các yêu cầu gián tiếp mà nhiều giáo viên sử dụng vì các em nghe không giống các quy tắc hoặc chỉ thị rõ ràng đối với mình Delpit giải thích rằng khi học sinh thành thị phớt lờ các mệnh lệnh nghe giống như câu hỏi hơn là chỉ thị, giáo
Trang 2919
viên có thể coi học sinh là bất hợp tác và không ngoan trong khi thực tế là học sinh không hiểu những gì được mong đợi Delpit cũng đã mô tả cách thiết lập quyền lực trong một lớp học: Giáo viên có thể quản lý lớp học thông qua việc nêu rõ vai trò của mình trong từng giờ học, giờ sinh hoạt; thiết lập các mối quan hệ giữa các cá nhân có ý nghĩa để thu hút sự tôn trọng của học sinh; thể hiện một niềm tin mạnh
mẽ rằng tất cả học sinh đều có thể học được; thiết lập một tiêu chuẩn về thành tích
và “thúc đẩy” học sinh đạt được tiêu chuẩn đó [11]
Tổng hợp những nghiên cứu trên, chúng tôi ghi nhận các yếu tố cần thiết để tổ chức và quản lý lớp học bao gồm:
- Giáo viên đưa ra những quy định rõ ràng về kỷ luật
- Giáo viên và học sinh cùng thảo luận và thống nhất những quy định lớp học
- Lớp học có thời gian biểu rõ ràng cho các hoạt động học và vui chơi
- Kỷ luật lớp học phải có cả phạt và thưởng
- Lớp học có hoạt động can thiệp đặc biệt và hòa nhập cho học sinh có nhu cầu
- Có các hoạt động ngoại khóa bên cạnh việc học trên lớp
1.2.5.2 Xây dựng không khí lớp học
Brown (2004) ghi nhận rằng ý nghĩa nhất đối với mỗi trẻ em hoặc thanh thiếu niên ở các trường học là sự sẵn lòng và khả năng của một nhà giáo dục trong việc chạm đến tính cách xã hội và tình cảm của mỗi học sinh Học sinh ơ tất cả các cấp đều có nhu cầu phát triển mối quan hệ kết nối và an toàn với giáo viên [9] Nhu cầu này đặc biệt cao khi học sinh không có một mối liên hệ tốt với gia đình, gặp những khó khăn trong các giai đoạn phát triển tâm lý Nghiên cứu của Dryfoos (1998) cho thấy học sinh “thiếu sự nuôi dưỡng, quan tâm, giám sát, thấu hiểu và chăm sóc” từ gia đình có thể gặp những hạn chế trong giao tiếp với giáo viên và bạn học [12] Các em có xu hướng tránh né giao tiếp với người lớn, tỏ ra nhút nhát và không tương tác với các bạn có thể có nguồn gốc tâm lý từ chất lượng mối quan hệ trong gia đình Do đó, chất lượng giao tiếp của học sinh và giáo viên là một yếu tố quan trọng để xây dựng bầu không khí lớp học
Các tác giả chỉ ra rằng thu hút sự hợp tác của học sinh trong các lớp học liên
Trang 3020
quan đến việc thiết lập bầu không khí lớp học trong đó giáo viên nhận thức và giải quyết các nhu cầu xã hội, tình cảm và kiến thức của học sinh Wlodkowski và Ginsberg (1995) kết luận “Bất kỳ hệ thống giáo dục hoặc đào tạo nào bỏ qua tiền sử phát triển hoặc quan điểm của người học hoặc không cố gắng điều chỉnh các phương pháp giảng dạy để mang lại lợi ích cho tất cả người học đều góp phần vào
sự bất bình đẳng về cơ hội” [38] Để xây dựng bầu không khí lớp học, ngoài giáo viên phải tìm hiểu những nhu cầu tâm lý, tình cảm và kể cả bối cảnh gia đình của các em để điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp, đảm bảo tính công bằng cho toàn bộ học sinh trong một lớp
Ladson-Billings (1994) khi nghiên cứu trên những lớp học có tỉ lệ học sinh da màu cao, thuộc các trường ở những khu có tỉ lệ bạo lực cao tại Hoa Kỳ đã mô tả bản chất của một lớp học hiệu quả là giáo viên phải tạo được một lớp học an toàn về mặt tâm lý Trong đó, các em học sinh cảm thấy thoải mái và được hỗ trợ [21] Gordon (1999) mô tả thêm “Những giáo viên tốt cần thể hiện sự quan tâm, cởi mở với học sinh của họ và ưu tiên phát triển mối quan hệ lành mạnh đặc trưng bởi sự nâng đỡ để học sinh phát triển” [16]
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng giáo viên cần phải nỗ lực trong việc xây dựng các lớp học, cùng với học sinh thiết lập một môi trường mà học sinh tôn trọng quyền hạn của mình Để học sinh tôn trọn lẫn nhau và tôn trọng quyền hạn của mình, đòi hỏi người giáo viên phải tôn trọng các em học sinh trước Tác giả Ladson- Billings (1994) trong một nghiên cứu định tính bằng cách phỏng vấn sâu học sinh lớp 8 tại một trường ở thành phố lớn về khái niệm tôn trọng của giáo viên dành cho học sinh
Các câu trả lời bao gồm “Cô ấy lắng nghe chúng em! Cô ấy tôn trọng chúng em! Cô
ấy hãy để chúng em bày tỏ ý kiến của mình! Cô ấy nhìn vào mắt chúng em khi cô ấy nói chuyện với chúng em! Cô ấy cười với chúng em! Cô ấy nói chuyện với chúng em khi cô ấy nhìn thấy chúng em trong hội trường hoặc trong căng tin!" (tr 68) Có thể
thấy từ những phản hồi này rằng học sinh nhận ra ngôn ngữ không lời nhiều hơn là phản ứng bằng lời của giáo viên đối với mình Các em chú ý đến các biểu hiện trên khuôn mặt và các ngôn ngữ cơ thể khác của giáo viên, đặc biệt khi Các em
Trang 3121
tin rằng giáo viên nên lắng nghe họ [21] Như vậy sự không khí tôn trọng trong lớp học sẽ được xây dựng thông qua các hoạt động tương tác, giao tiếp cơ bản như lắng nghe ý kiến của học sinh Để học sinh được phép bày tỏ ý kiến của mình và phản hồi tích cực
Giáo viên có thể quản lý lớp học thông qua việc nêu rõ vai trò của mình trong từng giờ học, giờ sinh hoạt; thiết lập các mối quan hệ giữa các cá nhân có ý nghĩa
để thu hút sự tôn trọng của học sinh; thể hiện một niềm tin mạnh mẽ rằng tất cả học sinh đều có thể học được; thiết lập một tiêu chuẩn về thành tích và “thúc đẩy” học sinh đạt được tiêu chuẩn đó; và thu hút sự chú ý của học sinh bằng cách kết hợp chơi và học xen kẽ [11]
Như vậy, các hoạt động cần thiết để xây dựng bầu không khí của lớp học hạnh phúc bao gồm:
- Tổ chức hoạt động học và chơi xen kẽ nhau
- Tăng cường độ tương tác với học sinh thông qua các câu hỏi gợi ý
- Tổ chức các hoạt động thảo luận giữa học sinh với nhau
- Giáo viên phản hồi ý kiến của học sinh
- Giáo viên khen ngợi khi học sinh phát biểu
- Lớp học bình đẳng
- Lớp học không có bạo lực học đường, tẩy chay và cô lập
- Mọi học sinh đều là một phần của lớp học
1.2.5.3 Xây dựng mục tiêu phát triển nhân cách cho học sinh
Gordon (1999) mô tả thêm “Những giáo viên tốt cần thể hiện sự quan tâm, cởi
mở với học sinh của họ và ưu tiên phát triển mối quan hệ của họ với học sinh như một con đường để học sinh phát triển” [16] Triết lý này cho thấy sự quan trọng của giáo dục nói chung và người giáo viên nói riêng trong việc xây dựng nhân cách cho học sinh, nhằm giúp các em phát triển lành mạnh Weiner (1999) ghi nhận rằng giáo viên cần có nang lực về chuyên môn sư phạm, tuy nhiên cũng cần phải có phẩm chất đạo đức để có thể cam kết giúp tất cả học sinh thành công, trong trường học và cuộc sống [36]
Trang 3222
Một lớp học có nguyên tắc và tổ chức rõ ràng, bầu không khí thân thiện và vui
vẻ sẽ là điều kiện giúp học sinh muốn đến lớp Tất cả những yếu tố này cộng với mục tiêu giáo dục đúng đắn của giáo viên sẽ giúp học sinh phát triển các mặt trí, đức
và nhân Esther (2020) trong nghiên cứu của mình đã xây dựng kết quả học tập dự kiến của Chương trình lớp học Hạnh phúc tại Ấn Độ chủ yếu nhắm vào sự an lạc, tư duy phản biện và thấu hiểu bản thân, và một nhóm các kỹ năng xã hội-cảm xúc ở học sinh Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng sự tự nhận thức về bản thân, nhận thức về người khác và giao tiếp tốt sẽ giúp học sinh phát triển được về khả năng học tập [13] Như vậy, lớp học hạnh phúc sẽ đến các mục tiêu sau:
- Xây dựng được cảm xúc tích cực và hạnh phúc ở học sinh
- Xây dựng sự tự tin ở học sinh
- Hoàn thiện các kỹ năng cảm xúc-xã hội ở học sinh (như kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, v.v…)
- Giúp học sinh hình thành được tư duy phản biện
- Giúp học sinh hiểu hơn về giá trị bản thân
- Giúp học sinh có khả năng thấu cảm/thông cảm với người khác
1.3 Nhận thức của giáo viên về xây dựng lớp học hạnh phúc
Các chương trình Lớp học hạnh phúc hiện nay đã được phổ biến rộng rãi trên thế giới, nhất là các nước phát triển lớn: Châu Âu, Châu Mỹ Tuy nhiên tại Việt Nam, hiện vẫn chưa thật sự phổ biến nhiều và được nghiên cứu một cách chuyên sâu Các công trình nghiên cứu trước đây cũng tập trung vào những chủ đề như: quy tình tổ chức lớp học hạnh phúc, các yếu tố liên quan và một số nghiên cứu chỉ ra rằng chính nhận thức của giáo viên là yếu tố
quyết định cho sự thành công của lớp học hạnh phúc Nhận thức tốt dẫn đến thái độ tốt, thái độ tốt sẽ hình thành kỹ năng đúng trong các tổ chức hoạt động Do đó trong nghiên cứu này, tôi hướng đến việc tìm hiểu và xác định mức độ nhận thức của giáo viên về xây dựng lớp học hạnh phúc thông qua các thang đó, bảng hỏi để
từ đó tất cả chúng ta có thể thấy được nhận thức của giáo viên có mong muốn xây
Trang 3323
dựng thành công lớp học hạnh phúc là hết sức cần thiết
Từ lý luận về nhận thức, lớp học hạnh phúc, xây dựng lớp học hạnh phúc đã trình bày ở phần trên, chúng tôi đưa ra khái niệm nhận thức của giáo viên về xây
dựng lớp học hạnh phúc như sau: “Nhận thức của giáo viên về xây dựng lớp học
hạnh phúc là sự hiểu biết của giáo viên về các phương pháp tổ chức, quản lý lớp học và thiết lập mục tiêu nhằm xây dựng cảm giác hạnh phúc và phát triển nhân cách cho học sinh”
Từ đó, nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc cũng được trình bày là những hiểu biết của giáo viên về: (1) tổ chức và quản lý lớp học, (2) xây dựng không khí lớp học và (3) xây dựng mục tiêu phát triển nhân cách cho học sinh
Dựa trên cơ sở lý luận về xây dựng lớp học hạnh phúc, nghiên cứu xin xác định các nội dung khảo sát nhận thức của giáo viên về xây dựng lớp học hạnh phúc
cụ thể như sau:
1.3.2.1 Nội dung nhận thức của giáo viên về tổ chức và quản lý lớp học
Cấu trúc lớp học là tiền đề của hoạt động giáo dục Để một lớp học có thể vận hành tốt cần có các nguyên tắc như kỷ luật, phân bố hoạt động học tập và vui chơi đồng đều và xen kẽ nhau Ngoài ra cũng cần có các phương thức giao tiếp giữa giáo viên – học sinh Cùng với sự bình đẳng xã hội, một lớp học cũng cần phải được thiết kế để có thể hỗ trợ những học sinh có nhu cầu
- Tổ chức hoạt động học và chơi xen kẽ nhau
- Tăng cường độ tương tác với học sinh thông qua các câu hỏi gợi ý
- Tổ chức các hoạt động thảo luận giữa học sinh với nhau
- Giáo viên phản hồi ý kiến của học sinh
- Giáo viên khen ngợi khi học sinh phát biểu
- Lớp học bình đẳng
- Lớp học không có bạo lực học đường, tẩy chay và cô lập
- Mọi học sinh đều là một phần của lớp học
Trang 34cơ hội cho các học sinh được tương tác cùng nhau, cùng xây dựng phát triển bài học thông qua các câu hỏi Cho học sinh thảo luận và xử lý tình huống thực tế từ bài vừa học, giúp học sinh có cơ hội găn kết với nhau, cùng nhau suy nghĩ và phát biểu Sau khi học sinh đưa ra các câu trả lời, giáo viên cần phải phản hồi lại học sinh, có thể khích lệ bằng vỗ tay hoặc khen trước tập thể lớp, đối với học sinh có câu trả lời chưa hoàn chỉnh, giáo viên sẽ bổ sung và khích lệ lần sau, tránh đưa ra lời nhận xét gay gắt Sẽ có nhiều tình huống xãy ra trong lớp học, có thể là tình huống vui vẻ, cũng có thể là tình huống xích mích giữa các học sinh với nhau, vì vậy vấn đề giữ lớp học đoàn kết không xãy ra bạo lực là yếu tố cần thiết trong việc xây dựng lớp học hạnh phúc Một tập thể có thể từ 30 đến 35 em học sinh, mỗi học sinh mang một màu sắc riêng lẻ, giáo viên là người sẽ kết nối những màu sắc riêng lẻ này thành một thể thống nhất, cùng nhau học tập, cùng nhau tiến bộ Để quản lí tốt một lớp học, cần có những nguyên tắc rõ ràng được xác lập ngay từ đầu với học sinh, thông qua ý kiến của các thành viên trong lớp học đó
1.3.2.2 Nội dung nhận thức của giáo viên về sự phát triển nhân cách của học sinh Học sinh ý thức bản ngã của mình, được thể hiện rõ nhất khi các em tự đánh giá về điểm mạnh và điểm yếu của mình, về những giá trị mà mình
mong muốn hướng đến Các em học sinh biết so sánh mình với người khác và đánh giá người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là
cơ sở để trẻ noi gương những người tốt, việc tốt Thường hay nói rằng gieo gì thì gặt nấy, gieo mầm hi vọng sẽ gặt hái thành công, mỗi đứa trẻ là một trang giấy trắng tinh khôi, khi trẻ bước chập chững những bước chân đầu tiên vào môi trường mẫu giáo, rồi dần dần đến tiểu học, giai đoạn này trẻ vẫn còn non nớt, tâm hồn trong trẻo, nhân cách cũng đang trong giai đoạn bồi dưỡng và hoàn thiện, vì vậy
Trang 3525
giáo viên dạy học trong lứa tuổi này (tuổi tiểu học) như một người mẹ thứ hai của mỗi đứa trẻ Con người từ khi sinh ra, bản thân không được trang bị sẳn cái gọi là nhân cách, qua thời gian rèn dũa học tập của mỗi cá nhân mà được hình thành Qúa trình phát triển nhân cách được xác định trong khoảng thời gian trước tuổi trưởng thành của mỗi trẻ Có rất nhiều hoạt động có thể góp phần xây dựng nên một nhân cách, trong đó kể đến là yếu tố giáo dục, đây là một hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội Cho đến thời điểm này, trẻ em vẫn luôn là điều quan tâm hàng đầu, chúng ta bắt dầu học tập nước ngoài, tham khảo, xây dựng, học hỏi nhiều phương pháp giảng dạy tích cực vì một mục đích chung là xây dựng môi trường học hạnh phúc góp phần kiến tạo hoàn thiện nhân cách của học sinh
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của giáo viên về xây dựng lớp học hạnh phúc
Trên thực tế, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hầu hết các thế hệ thầy cô giáo trước đây chưa được hướng dẫn một cách cụ thể về mô hình lớp học hạnh phúc, cũng chưa có một giáo án chuẩn về xây dựng lớp học hạnh phúc để giáo viên được tập huấn, tuy nhiên con người chúng ta từ già trẻ, lớn bé, bất kì người có địa vị nào trong xã hội đều có những mưu cầu hạnh phúc nhất
định, nhưng từ còn thuở nhỏ, khi ta còn ngồi trên ghế nhà trường lại ít được hướng dẫn về điều nay Vậy ở đây đặt ra một vấn đề nan giải: Làm sao giáo viên có kinh nghiệm trong việc xây dựng lớp học hạnh phúc? Hầu hết là không hoặc nó chỉ dừng ở mức độ, biết, có nghe nói tới nhưng chưa bao giờ đi sâu vào tìm hiểu, hoặc
có tìm hiểu nhưng điều kiện môi trường thực tế chưa phù hợp để xây dựng thành cơ cấu chung để được phổ biến rộng rãi Xét về mặt kiến thức chuyên môn sư phạm, các thầy cô đều được trau dồi, đào tạo kĩ lưỡng bài bản, nghề giáo là một trong những nghề đòi hỏi rất cao năng lực chuyên môn và cả những kỹ năng mềm, những nghiệp
cụ nghề nghiệp khác Đổi lại là một ngành nghề nào khác họ chỉ cần giỏi về chuyên ngành của họ, nhưng nếu là một giáo viên cái chúng ta cần có gần như nhiều hơn hai chữ chuyên môn, vì nghề giáo là đào tạo lại thế hệ măng non, dạy lại một con
Trang 3626
người khác, có thể nói giáo viên vừa là những người trực tiếp hình thành nên trình
độ năng lực cũng chính là những người tác động trực tiếp đến công cuộc hình thành nhân cách của một con người
Là một người giáo viên, hầu như họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về lớp học của mình, về tất cả học sinh do giáo viên phụ trách Trong những giờ lên lớp, giáo viên nhất là giáo viên chủ nhiệm kiêm thêm vai trò là người “mẹ thứ hai” của các em học sinh, luôn gần gũi, quan sát mọi hoạt động diễn ra trong phạm vi trường học Để làm tốt vai trò của một giáo viên, kinh nghiệm giảng dạy và các kỹ năng xử
lý tình huống là hai yếu tố song hành với nhau Mỗi giờ lên lớp không chỉ là truyền tải nội dung bài học mà còn cần tạo ra bầu không khí thoải mái, nhưng hiện nay số lượng giáo viên có đủ kinh nghiệm để duy trì được một lớp học trong không khí vui
vẻ và hạnh phúc không thực sự nhiều, họ chỉ có thể duy trì được một khoảng thời gian ngắn nhất định như 15 phút đầu giờ, hay gần cuối giờ học, vì còn nhiều trở ngại về mặt quy định chung và các quy chế của nhà trường
Với mô hình trường học ở Việt Nam, sẽ là khó khăn để giáo viên có cơ hội nhận ra các phương pháp giáo dục truyền thống và phương pháp giáo dục tích cực,
cụ thể là lớp học hạnh phúc có gì trở ngại và tiến bộ khi họ không có cơ hội được làm thử Ở một số trường tiểu học liên kết quốc tế đã xây dựng mô hình này và họ tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho giáo viên của mình tiếp cận được với quy trình về lớp học hạnh phúc, giúp các giáo viên có nhận thức đúng đắn nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy theo phương châm tạo nên một lớp học thoải mái, tôn trọng quyền cá nhân của học sinh Tuy nhiên số trường học đi theo hướng mở không nhiều, hiện vẫn còn rất nhiều trường tiểu học áp dụng phương pháp học tập giảng dạy truyền thống, dù
có những giáo viên muốn tạo không khí lớp vui vẻ nhưng sẽ bị đánh đồng với việc làm ồn đến các lớp học bên cạnh, giữ gìn lớp học trật tự được đưa vào đánh giá năng lực đứng lớp của giáo viên, vì vậy khi các quy định về lớp học còn giữ tính
kỹ luật theo hướng truyền thống sẽ là khó khăn cho giáo viên tiếp cận đến môi trường “Lớp học hạnh phúc”
Trang 3727
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã đi vào tìm hiểu một số vấn đề cơ bản của đề tài như khái niệm nhận thức, xây dựng lớp học, xây dựng lớp học hạnh phúc và nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc cũng như đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức Trong đó khái niệm chính của đề tài nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc đã được định nghĩa và thao tác hóa
Chương 1 cũng đã xác lập các biểu hiện của nhận thức của giáo viên tiểu học
về xây dựng lớp học hạnh phúc được chia thành 4 nhóm nhận thức: (1) về tổ chức và quản lý lớp học, (2) về xây dựng không khí lớp học, (3) về xây dựng mục tiêu phát triển nhân cách cho học sinh
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc học đường bao gồm: kiến thức và kinh nghiệm của giáo viên, nhân cách của giáo viên, kinh nghiệm của giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất Những nội dung lý luận này sẽ làm cơ sở cho nghiên cứu thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
Trang 3828
Chương 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổ chức nghiên cứu
Luận văn được thực hiện từ tháng 9/2020 đến tháng 10/2021 và được thực hiện theo hai đoạn: Giai đoạn nghiên cứu lí luận và Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn 2.1.1.1 Giai đoạn nghiên cứu lí luận
Xây dựng cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc, xác định quan điểm định hướng và thao tác hóa khái niệm nghiên cứu
Xác định địa bàn và mẫu nghiên cứu
Tổng quan những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao giáo viên tiểu học
Nghiên cứu tài liệu, văn bản;
Nhận góp ý của giáo viên về bảng hỏi và bộ công cụ nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu bao gồm phần mở đầu và cơ sở lý luận
Bảng hỏi định lượng và định tính về nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
Trang 3929
2.1.1.2 Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn
Làm rõ thực trạng về giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
Thu thập số liệu về thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng
lớp học hạnh phúc
Xử lý dữ liệu thu được từ khảo sát thực tiễn
Phân tích thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc và các yếu tố ảnh hưởng trên cơ sở những dữ liệu thu được từ khảo sát thực tiễn và nghiên cứu lí luận
Tiến hành cho 180 giáo viên tiểu học làm bảng hỏi định lượng đánh giá về nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh phúc
Thu bảng hỏi và kiểm tra, ghi mã số phiếu
Nhập dữ liệu từ những bảng hỏi hợp lệ vào phần mềm SPSS phiên bản 20.0
Phân tích độ tin cậy, độ hiệu lực của các thang đo trong bảng hỏi thông qua phương pháp thống kê toán học
Phỏng vấn sâu 10 giáo viên tiểu học, 2 cán bộ quản lý
Phân tích thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp
học hạnh phúc và các yếu tố ảnh hưởng từ kết quả bảng hỏi, phỏng vấn sâu
Chương 2 của luận văn: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựng lớp học hạnh
phúc dưới hình thức định lượng và kết quả định tính
Trang 4030
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của giáo viên tiểu học về xây
dựng lớp học hạnh phúc
Luận văn hoàn chỉnh
2.1.2.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Biên Hòa bao gồm: trường tiểu học Tân Phong A và trường tiểu học Tân Phong B
2.1.2.2 Khách thể nghiên cứu
Mẫu của nghiên cứu này là mẫu ngẫu nhiên, thuận tiện Mẫu điều tra bằng bảng hỏi định lượng chính thức bao gồm: 180 giáo viên tiểu học tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Biên Hoa bao gồm: trường tiểu học Tân Phong A và trường tiểu học Tân Phong B
Cuối cùng, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn định tính 10 giáo viên tiểu học, 2 cán bộ quản lý
Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu khách thể giáo viên tiểu học (n=180)