1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu sử dụng cây sậy (Phragmites australis) và cây rau muống (Ipomoea aquatica) trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas bằng bãi lọc trồng cây nhân tạo

9 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sử dụng cây sậy (Phragmites australis) và cây rau muống (Ipomoea aquatica) trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas bằng bãi lọc trồng cây nhân tạo
Tác giả Bùi Thị Kim Anh, Nguyễn Văn Thanh, Phạm Thương Giang, Đặng Đình Kim
Trường học Viện Công nghệ Môi trường, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chuyên ngành Kỹ thuật môi trường
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 559,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu trình bày kết quả sử dụng cây sậy (Phragmites australis) và rau muống (Ipomoea aquatica) trong công nghệ đất ngập nước nhân tạo để xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas. Kết quả ánh giá cho thấy hai loài thực vật này có khả năng chống chịu với nước thải chăn nuôi lợn sau biogas.

Trang 1

TAP CHI SINH HOC 2019, 41(2se1&2se2): 327–335

DOI: 10.15625/0866-7160/v41n2se1&2se2.14184

STUDY ON USING REED (Phragmites australis) AND WATER SPINACH (Ipomoea aquatica) FOR PIGGERY WASTEWATER TREATMENT AFTER

BIOGAS PROCESS BY CONSTRUCTED WETLAND Bui Thi Kim Anh 1,* , Nguyen Van Thanh 1 , Pham Thuong Giang 2 , Dang Dinh Kim 1

1 Institute of Environmental Technology, VAST, Vietnam 2

Thai Nguyen University, Thai Nguyen, Viet Nam Received 12 August 2019, accepted 28 September 2019

ABSTRACT

This research aims to evaluate the capacity of two plants, Phragmites australis (reed) and

Ipomoea aquatica (water spinach) in the constructed wetland to treat the piggery wastewater after

biogas process The results showed that both plants are tolerant to the piggery wastewater Ph

australis well grew in condition with pH 5–9, COD 750–1000 mg/l and NH4 250 mg/l while

those for I aquatica were pH 6–8, COD up to 750 mg/l and NH4 ≤ 100 mg/l The removal efficiency of TSS, COD, total N, total P, NH4 by Ph australis were 84.6%, 80.1%, 71.9%, 53.5% and 75.7% meanwhile, by I aquatica were 81%, 62,8%, 60.5%, 60.4% and 63.7%, respectively It suggests that Ph australis could have higher removal rate than I aquatica The

quality of treated wastewater met the permitted standard (QCVN62-MT:2016 /BTNMT, column B) in all experiments, indicating that it is possible to use these two plants in the constructed wetland for piggery wastewater treatment

Keywords: Ipomoea aquatic, Phragmites australis, constructed wetland, piggery wastewater

Citation: Bui Thi Kim Anh, Nguyen Van Thanh, Pham Thuong Giang, Dang Dinh Kim, 2019 Study on using reed

(Phragmites australis) and water spinach (Ipomoea aquatica) for piggery wastewater treatment after biogas process

by constructed wetland Tap chi Sinh hoc, 41(2se1&2se2): 327–335 https://doi.org/ 10.15625/0866-7160/v41n2se1&2se2.14184

*

Corresponding author email: buianh7811@gmail.com

©2019 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)

Trang 2

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CÂY SẬY (Phragmites australis) VÀ CÂY RAU MUỐNG (Ipomoea aquatica) TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI LỢN

SAU BIOGAS BẰNG BÃI LỌC TRỒNG CÂY NHÂN TẠO

Bùi Thị Kim Anh 1,* , Nguyễn Văn Thành 1 , Phạm Thương Giang 2 , Đặng Đình Kim

1

Viện Công nghệ Môi trường, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

2Trường Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên Ngày nhận bài 12-8-2019, ngày chấp nhận 28-9-2019

TÓM TẮT

Nghiên cứu trình bày kết quả sử dụng cây sậy (Phragmites australis) và rau muống (Ipomoea aquatica) trong công nghệ ất ngập nư c nh n tạo ể xử lý nư c thải chăn nuôi

lợn sau biogas Kết quả ánh giá cho thấy hai loài thực vật này có khả năng chống chịu v i

nư c thải chăn nuôi lợn sau biogas Cây sậy phát triển tốt v i nư c thải có pH: 5–9, nồng ộ COD: 750–1.000 mg/l và NH4+ 250 mg/l Rau muống phát triển tốt ở iều kiện pH: 6–8, nồng ộ COD khoảng 750 mg/l và NH4 ≤ 100 mg/l Hiệu suất xử lý TSS, COD, tổng N, tổng P và NH4 của sậy tương ứng 84,6%, 80,1%,71,9%, 53,5% và 75,7% trong khi của rau muống tương ứng 81%, 62,8%, 60,5%, 60,4% và 63,7% Điều này cho thấy cây sậy có khả năng chống chịu và xử lý nư c thải chăn nuôi tốt hơn rau muống Nư c thải sau xử lý bằng hai loại cây trên ều ạt quy chuẩn cho phép (QCVN62-MT:2016/BTNMT, cột B), chứng tỏ

có thể sử dụng cả cây sậy và rau muống trong bãi lọc trồng cây nhân tạo ể xử lý nư c thải chăn nuôi lợn sau biogas

Từ khóa: Cây sậy, rau muống, bãi lọc trồng cây nhân tạo, nư c thải chăn nuôi lợn

*Địa chỉ email liên hệ: buianh7811@gmail.com

MỞ ĐẦU

Hiện nay ở Việt Nam, phần l n các trại

chăn nuôi lợn ã có hệ thống xử lý nư c thải

bằng hầm biogas Tuy nhiên, kết quả khảo sát

cho thấy nư c thải sau biogas có giá trị pH,

TSS, TN, COD, NH4

+ lần lượt là 5–7, 200–

400 mg/l, 150–600 mg/l, 500–1.300 mg/l và

60–150mg/l còn khá cao và chưa ạt quy

chuẩn cho phép Do vậy, cần có công oạn xử

lý nư c thải sau biogas trư c khi xả thải ra

môi trường

Công nghệ bãi lọc trồng cây nhân tạo ã

ược áp dụng ể xử lý nư c thải chăn nuôi ở

nhiều nơi (Wu et al., 2011, Pongthornpruek,

2017), trong ó, thực vật thủy sinh (TVTS)

óng vai trò quan trọng Nhiều nghiên cứu

cho thấy TVTS không những làm giảm nồng

ộ chất lơ lửng, chất hữu cơ mà còn có khả năng xử lý tốt chất dinh dưỡng, kim loại nặng (Thao & Tuan, 2014; Liu et al., 2018)

Cây sậy (Phragmites australis) là một loài cây thuộc họ Hòa thảo (Poaceae) phân bố ở

những vùng ất ngập nư c Cây sậy có hệ rễ rất phát triển, khả năng hấp thu cao, nhờ vậy cây có thể phân hủy chất hữu cơ và hấp thu kim loại nặng trong nư c thải Một số nghiên cứu ã chứng minh khả năng loại bỏ nư c thải giàu chất hữu cơ, và ; kim loại nặng bằng cây sậy (Sơn và nnk, 2010; Wu et al.,

2011) Rau muống (Ipomoea aquatica) có

tiềm năng xử lý nư c thải chứa kim loại nặng

và Nitơ, Phốt pho (Thao & Tuan, 2014; Saat, 2017; Liu et al., 2018)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng cây sậy và rau muống ể xử lý nư c thải chăn

Trang 3

Nghiên cứu sử dụng

nuôi lợn sau biogas bằng công nghệ bãi lọc

trồng cây nhân tạo Đồng thời, nghiên cứu

cũng ưa ra giải pháp xử lý ô nhiễm nư c thải

chăn nuôi theo hư ng chi phí thấp và thân

thiện v i môi trường

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Cây sậy, Phragmites australis, ược thu

từ ven sông Hồng, trong thí nghiệm chỉ sử

dụng cây bánh tẻ, sức sống tốt, không bị

sâu bệnh

Rau muống, Ipomoea aquatica, ược thu

tại các thủy vực thuộc xã Tốt Động, Chương

Mỹ, Hà Nội Cây ược lựa chọn có sức sống khoẻ, hệ rễ phát triển, không bị sâu bệnh

ư c thải chăn nuôi sau biogas ược lấy tại trang trại chăn nuôi lợn v i quy mô 4000 con tại xóm Trại, Tốt Động, Chương Mỹ, Hà Nội Thông số chất lượng nư c thải ầu vào ược trình bày trong bảng 1

Bảng 1 Thông số chất lượng nư c thải ầu vào

Chất ô nhiễm Đơn vị Nồng ộ trong nư c thải QCVN 62, cột B

NH4

+

Thí nghiệm đánh giá khả năng chống chịu

của Ph australis và I aquatic

Thí nghiệm nhằm ánh giá khả năng

chống chịu của cây sậy và rau muống ối v i

các thông số COD, NH4

+

và pH khác nhau

gưỡng chống chịu ược thiết lập dựa trên

kết quả khảo sát nồng ộ các chất ô nhiễm

trong nư c thải chăn nuôi lợn sau biogas Cây

ược trồng theo phương pháp thủy canh trong

các chậu có dung tích 5 lít Mỗi công thức

ược lặp lại 3 lần Hàng ngày bổ sung lượng

nư c bay hơi của các chậu thí nghiệm Sau 4

tuần cân khối lượng c y ể ánh giá sinh

trưởng của cây ở các công thức khác nhau

Pha dung dịch mẹ ể iều chỉnh nồng ộ

COD, NH4

+, pH khi ặt thí nghiệm: glucose

100.000 mg/l, NH4Cl 10.000 mg/l, HNO3 1M,

NaOH 1M ăm nghiệm thức v i các dải

nồng ộ của pH từ 5 ến 9; COD từ 250 ến

1000 mg/l và NH4

+

từ 50 ến 250 mg/l ược thiết lập

Cân sinh khối: C y ược v t ra khỏi môi

trường, ể ráo nư c và cân bằng cân kỹ thuật

Sartorius (Đức)

Thiết kế thí nghiệm đánh giá hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas

Thí nghiệm sử dụng các bình có dung tích

20 lít ược bố trí như sau: mỗi bình chia làm 3

l p, thực vật thủy sinh ược trồng trên l p vật liệu trên cùng gồm 6 khóm khoảng cách 15

cm × 15 cm (hình 1) Mẫu ối chứng không trồng cây Thể tích nư c rỗng của bình là 10 lít Thí nghiệm ược lặp lại 3 lần Trong ó, cây sậy và rau muống ược trồng riêng rẽ trên

hệ vật liệu á, sỏi, cát trong vòng 30 ngày

Đổ 10 lít nư c thải chăn nuôi lợn sau biogas vào các chậu thí nghiệm Lấy mẫu ở các mốc thời gian khác nhau: 1, 2, 3, 4, 5, 6,

7 ngày Mỗi lần lấy 100 ml mẫu nư c ể phân tích sự thay ổi hàm lượng của pH, TSS, tổng N, tổng P, COD, NH4

+ của các công thức thí nghiệm

Phương pháp lấy mẫu và phân tích

hương pháp lấy mẫu theo TCVN 1:2011 (ISO 5667-1:2006) và TCVN 6663-3:2008 (ISO 5667-3:2003)

hượng pháp phân tích các thông số nghiên cứu theo các quy chuẩn hiện hành, cụ

Trang 4

thể: pH theo TCVN 6492:2011 (ISO

10523:2008); Chất rắn lơ lửng (TSS) theo

SMEWW 2540; COD theo TCVN 6491:1999

(ISO 6060:1989); tổng itơ (theo amoni) qua

TCVN 6638:2000 TCVN 5988:1995 (ISO 5664:1984); tổng Phốt pho theo TCVN 6202:2008 (ISO 6878:2004); Phân tích NH4

+ theo TCVN 6179-1:1996 (ISO 7150-1:1984)

Hình 1 Sơ ồ bố trí thí nghiệm

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Ảnh hưởng của pH lên sinh trưởng của Ph

australis và I Aquatica

Kết quả thí nghiệm cho thấy thấy, có sự

khác biệt giữa khả năng chống chịu pH của

Sậy và Rau muống Ở dải pH từ 5 ến 8, sinh

khối của cây sậy và rau muống ều tăng, trong

ó sinh khối cây sậy tăng nhiều nhất ở pH = 6

là 91,61 g và ở pH = 7 là 71,38 g Tương tự, ở

pH từ 6–7, sinh khối rau muống thu ược là

cao nhất, tăng 22,30–27,78 g so v i ban ầu

(hình 2) Ở pH= 9 cây sinh trưởng kém, sinh

khối chỉ tăng 10,91 g ở thí nghiệm v i Sậy trong khi sinh khối của rau muống giảm 45,29

g so v i ban ầu Các nghiên cứu trư c y

chỉ ra rằng, I aquatica có thể sống trong iều

kiện pH lên ến 7,95 (Saat, 2017) Trong khi

ó, Ph australis có khả năng chống chịu pH

tốt hơn hẳn Sậy ược sử dụng ể xử lý nư c thải có pH từ 7,03–7,15 (Liu et al., 2018), pH

= 4 (Bùi Thị Kim Anh, 2016) Trong các nghiên cứu này, cả hai loài ều có khả năng sinh trưởng tốt trong các loại nư c thải có pH khác nhau

Hình 2 Ảnh hưởng của pH lên sinh trưởng của Ph australis và I aquatica

Khả năng chống chịu COD của Ph

australis và I Aquatica

Kết quả thí nghiệm cho thấy, cây sậy có

khả năng chống chịu COD lên ến 1.000 mg/l,

rau muống có thể sống ở nồng ộ COD lên

ến 750 mg/l Cụ thể, sinh khối của cây sậy tăng nhiều nhất ở nồng ộ COD là 500 mg/l,

ạt 298,4 g, tăng 93,9 g so v i ban ầu Khi tăng nồng ộ COD từ 500 mg/l lên 1.000 mg/l, sinh trưởng của cây sậy giảm dần Ở

Trang 5

Nghiên cứu sử dụng

nồng ộ COD = 1.000 mg/l, sinh khối chỉ tăng

20,5 g Trong khi ó, rau muống có khả năng

chống chịu COD kém hơn Ở nồng ộ COD =

250 mg/l, sinh khối ạt 189,99 g, tăng 18,16 g

so v i ban ầu Khi tăng nồng ộ COD sinh

khối thu ược giảm dần Khi nồng ộ COD là 1.000 mg/l, sinh khối giảm 54,43 g so v i ban

ầu Thậm chí ở nồng ộ này, phát hiện nhiều cây chết trong quá trình thí nghiệm Tỉ lệ cây chết chiếm 35% so v i số cây trồng ban ầu

Hình 3 Ảnh hưởng của COD ến sự sinh trưởng của Ph australis và I aquatica

Ở các nồng ộ COD càng cao, cây càng

kém phát triển Các nghiên cứu trư c y sử

dụng cây sậy và rau muống ể xử lý nư c thải

có nồng ộ COD thậm chí còn cao hơn so v i

nghiên cứu này Saat (2017) sử dụng rau

muống xử lý nư c thải từ sản xuất dầu cọ có

nồng ộ COD ầu vào lên ến 1292mg/L

Calheiros et al (2009) nghiên cứu sử dụng

cây sậy ể xử lý nư c thải công nghiệp có

nồng ộ COD trong nư c thải từ 808 ến

2449mg/l Mặc dù không có báo cáo về tình

hình sinh trưởng của cây trong các thí nghiệm, tuy nhiên các kết quả ều cho thấy, cây sậy và rau muống có thể sử dụng ể xử lý nguồn

nư c thải có nồng ộ COD cao

Khả năng chống chịu NH 4

+

của Ph australis và I Aquatica

Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nồng ộ

NH4 +

ến sự sinh trưởng của cây sậy và rau muống ược trình bày tại hình 4

Kết quả hình 4 cho thấy, sinh khối của cây

sậy tăng trong tất cả thí nghiệm Sau 4 tuần,

sinh khối thu ược cao nhất ở nồng ộ NH4

+

=

150 mg/l, ạt 301,7 g, tăng 98,1 g so v i ban

ầu Ở nồng ộ NH4

+ = 250 mg/l, cây sinh

trưởng chậm, sinh khối chỉ tăng 16,4 g Thí nghiệm v i rau muống cho thấy khả năng chống chịu NH4

+ thấp hơn, sinh khối chỉ tăng khi nồng ộ NH4

+

từ 50–100 mg/l Khi tăng nồng ộ NH4

+

> 100 mg/l, sinh khối thu ược

Trang 6

thấp hơn từ 12,9–37,4 g so v i ban ầu Trong

các nghiên cứu trư c y, I aquatica ược sử

dụng ể xử lý nồng ộ NH4

+ thấp chỉ 38,77 mg/l (Yu et al., 2013) và lên ến 121 mg/l

(Saat, 2017) hư vậy, cây sậy có thể phát

triển tốt ở nồng ộ NH4

+

từ 50–250 mg/l

Trong khi ó, rau muống có thể phát triển tốt

ở nồng ộ NH4

+

từ 50–100 mg/l Điều này chứng tỏ cây sậy chống chịu NH4

+ tốt hơn

Tuy nhiên, cả hai loài ều phù hợp ể xử lý

nư c thải chăn nuôi lợn sau biogas

Khả năng xử lý pH của Ph australis và I

aquatica

Kết quả thí nghiệm cho thấy, pH nư c thải

ầu ra tăng trong cả chậu trồng cây sậy và rau

muống và ạt quy chuẩn cho phép chỉ sau 1 ngày thí nghiệm Giá trị pH của vùng ngập

nư c bị ảnh hưởng áng kể bởi các hoạt ộng

hô hấp của các vi sinh vật Trong vùng ngập

nư c, quá trình quang hợp hấp thụ CO2 nhanh hơn lượng CO2 tạo ra từ quá trình hô hấp nên

vi sinh vật phải lấy CO2 từ dạng HCO3

và sinh ra nhiều cacbonat làm tăng pH của nư c Ngoài ra, thành phần chính của vật liệu lọc là

á, sỏi là các hợp chất cacbonat sẽ làm tăng

ộ kiềm trong nư c (Mayes et al., 2008) Thí nghiệm chỉ sử dụng vật liệu lọc có thể tăng

pH từ 6,11–7,1 Trong khi ó v i thí nghiệm

có sử dụng thực vật, pH cao hơn một chút và luôn ổn ịnh nằm trong khoảng 6,24–7,64

Bảng 3 Khả năng xử lý pH của Ph australis và I aquatica theo thời gian

Thời gian

(ngày)

62, cột B Đối chứng Ph australis I aquatica

5,5–9

Khả năng xử lý TSS và COD của Ph

australis và I aquatic

Trong bãi lọc trồng cây nhân tạo, các

chất lơ lửng bị giữ lại bởi vật liệu lọc và rễ

thực vật Kết quả thí nghiệm cho thấy, TSS

trong nư c thải ầu vào là 213,6 mg/l cao

hơn quy chuẩn cho phép (hình 6a) Sau khi

i qua các hệ thí nghiệm, nồng ộ TSS ã

giảm áng kể Chỉ sau 1 ngày TSS trong

nư c thải ã ạt quy chuẩn, nồng ộ TSS là

83,5 ± 11,4 mg/l ối v i rau muống và 73,4

± 13,2 mg/l ối v i cây sậy Sau 7 ngày,

hiệu suất xử lý TSS của cây sậy và rau

muống tương ứng là 84,6% và 81% Trong

báo cáo của Saat, 2017, hiệu suất loại bỏ

TSS của rau muống là 90% cao hơn không

áng kể so v i nghiên cứu này, tuy nhiên

thời gian xử lý lên ến 25 ngày Hiệu suất

xử lý TSS của cây sậy cũng khá cao trong

các báo cáo trư c y Hiệu suất xử lý TSS của cây sậy ạt 84,3% (Vymazal, 2002) và 88% (Calheiros et al., 2009)

Kết quả hình 6b cho thấy, nồng ộ COD ban ầu là 757,8 mg/l không ạt QCVN62-MT:2016/BTNMT cột B Sau 3 ngày thí nghiệm v i sậy, nồng ộ COD là 247,3 ± 24,6 mg/l, ạt quy chuẩn cho phép Trong khi ó, ở thí nghiệm v i rau muống, cần 7 ngày ể nồng ộ COD giảm xuống còn 281,6 ± 28,3 mg/l, ạt quy chuẩn cho phép Sau 7 ngày, hiệu suất loại bỏ COD là 80,1% ối v i cây sậy và 62,8% ối v i rau muống cao hơn từ 26–43,3% so v i thí nghiệm không sử dụng cây (hình 6b) Các nghiên cứu trư c y báo

cáo hiệu suất xử lý COD của Ph australis khá

tương ồng là 74,9% tại Cộng hòa Séc (Vymazal, 2002) và 80–92% tại Hugary (Todorovics et al., 2005)

Trang 7

Nghiên cứu sử dụng

Hình 6 Khả năng xử lý TSS và COD của Ph australis và I aquatica theo thời gian

(a) TSS; b) COD)

Khả năng xử lý Nitơ, Phốt pho của Ph

australis và I aquatic

Kết quả thí nghiệm cho thấy hiệu xuất

xử lý nitơ, phốt pho của thí nghiệm không

sử dụng cây, chỉ từ 14,5–38,2%, thấp hơn

nhiều so v i thí nghiệm sử dụng thực vật

(hình 7) Hiệu suất loại bỏ phốt pho của I

aquatica và Ph australis tương ứng là

61,7% và 55,7% Nồng ộ phốt pho trong cả

hai thí nghiệm có sự chênh lệch không áng

kể (hình 7c) Trong khi ó, khả năng loại bỏ

itơ của Ph australis tốt hơn I aquatica

(hình 7a, 7b) Sau 7 ngày thí nghiệm, hiệu suất loại bỏ NH4

+

của Ph australis và I aquatica tương ứng 75,3% và 63,5% Nồng

ộ T ban ầu vượt quy chuẩn cho phép Chỉ sau 1 ngày thí nghiệm, nồng ộ TN trong thí nghiệm ối v i rau muống và cây sậy lần lượt là 140,3 ± 10,2 mg/l và 141,8 ±

13 mg/l, ạt QCVN 62-MT:2016/BTNMT cột B Sau 7 ngày thí nghiệm, itơ bị loại

bỏ áng kể, hiệu suất loại bỏ ạt 60,5% và 71,9% tương ứng v i rau muống và cây sậy

c)

Hình 7 Khả năng xử lý itơ, hốt pho của Ph australis và I aquatica

a) NH4 +

; b) TN; c) TP theo thời gian

Trang 8

Các loài thực vật có khả năng hấp thu dinh

dưỡng cao như Ph australis và I aquatica

ược sử dụng phổ biến ể loại bỏ chất dinh

dưỡng trong nư c thải Theo Miao Li et al

(2009) báo cáo hiệu quả loại bỏ nitơ và phốt

pho của rau muống là 51–68% và 54–71%,

tương ồng v i kết quả nghiên cứu Thí

nghiệm của Saat (2017) thực hiện v i I

aquatica trong 25 ngày, hiệu quả xử lý chất

dinh dưỡng vượt trội, hiệu suất ạt 99% Các

thí nghiệm v i cây sậy cũng cho thấy hiệu quả

loại bỏ nitơ, phốt pho cao Wu et al (2011) sử

dụng cây sậy trồng trong hệ ất ngập nư c

nhân tạo, hiệu suất loại bỏ TN, NH4-N và

TP lần lượt là 68%, 93% và 67% Theo tác

giả, sự hấp thu chất dinh dưỡng của thực vật

chỉ loại bỏ 51,89% ối v i itơ và 34,17%

ối v i phốt pho

KẾT LUẬN

Thử nghiệm khả năng chống chịu cho

thấy, nồng ộ các chất ô nhiễm trong nư c

thải chăn nuôi lợn sau biogas nằm trong dải

chống chịu của cây sậy và rau muống Sậy

phát triển tốt v i nư c thải có pH 5–9, nồng

ộ COD 750–1000 mg/l và NH4

+

250 mg/l

Rau muống chịu ược pH = 6–8, nồng ộ

COD khoảng 750 mg/l và NH4

+ nhỏ hơn 100 mg/l Đồng thời, cây sậy có hiệu suất xử lý

cao hơn và thời gian xử lý nhanh hơn rau

muống Mặc dù vậy, các giá trị pH, COD,

TSS, TN ở hai thí nghiệm ều ạt QCVN 62

MT:2016/BTNMT cột B sau 7 ngày thí

nghiệm Cả hai loài thực vật này ều phù hợp

ể sử dụng trong xử lý nư c thải chăn nuôi

lợn sau biogas bằng công nghệ bãi lọc trồng

cây nhân tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bùi Thị Kim Anh, 2016 Thử nghiệm quy

trình tích hợp á vôi và công nghệ ất

ngập nư c nhân tạo ể xử lý mangan, kẽm

và sắt trong nư c thải mỏ than Tạp chí

Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái

đất và Môi trường, 32(1S): 9–14

Calheiros C S C., Rangel A O S S., Castro

P M L., 2009 Treatment of industrial

wastewater with two-stage constructed

wetlands planted with Typha latifolia and

Technology, 100(13): 3205–3213

Liu X., Zhang Y., Li X., Chunyan Fu C., Shi T., Yan P., 2018 Effects of influent nitrogen loads on nitrogen and COD removal in horizontal subsurface flow con-structed wetlands during different growth periods of Phragmites australis

Sci Total Environ, 635: 1360–1366

Mayes W M., Batty L C, Younger P L., Mander U Mander, 2008 Wetland Treatment at Extremes of Ph: A Review

Environment, 407(13): 3944–3957

Miao Li, Yue-Jin Wu, Zeng-Liang Yu, Guo-Ping Sheng, Han-Qing Yu, 2009 Enhanced nitrogen and phosphorus removal from eutrophic lake water by Ipomoea aquatica with low-energy ion implantation Water research, 43: 1247–1256

Phạm Hương Sơn, Đặng Xuyến hư, guyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Thanh Mai, 2010,

Sử dụng cây sậy ể xử lý nư c thải chứa

kim loại nặng Tạp chí Sinh học, 32(2):

74–79

Pongthornpruek S., 2017 Treatment of Piggery Wastewater by Three Grass Species Growing in a Constructed

Wetland App Envi Res., 39(1): 75–83

Saat S K Md., 2017 Suitability of Ipomoea aquatica for the treatment of effluent from palm oil mill Journal of Built

Engineering, 2: 39–44

Vymazal J., 2002 The use of sub-surface constructed wetlands for wastewater treatment in the Czech Republic: 10 years

experience Ecological Engineering, 18:

633–646

Thao V T P., Tuan L X., 2014 Content of some heavy metals in water and in

Impomoea aquatic collecting from Nhue

river International conference on Ad-vances in Mining and tunneling, 10/2014, Vung Tau, Vietnam Publishing House for Science and Technology: 582 – 587

Trang 9

Nghiên cứu sử dụng

Todorovics C., T M Garay, Z Bratek, 2005

The use of the reed (Phragmites australis)

in waste-water treatment on constructed

wetlands, Acta Biologica Szegediensis.,

49(1–2): 81– 83

Wu H., Zhang J., Li P., Zhang J., Xie H.,

Zhang, B., 2011 Nutrient removal in

constructed microcosm wetlands for

treating polluted river water in northern

China Ecol Eng., 37: 560–568

Yu X., Li Z., Zhao S., Li K., 2013 Biomass Accumulation and Water Purification of Water Spinach Planted on Water Surface

by Floating Beds for Treating Biogas Slurry Journal of Environmental

Protection, 4: 1230–1235

Ngày đăng: 17/05/2022, 09:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thông số chất lượng nư c thải ầu vào - Nghiên cứu sử dụng cây sậy (Phragmites australis) và cây rau muống (Ipomoea aquatica) trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas bằng bãi lọc trồng cây nhân tạo
Bảng 1. Thông số chất lượng nư c thải ầu vào (Trang 3)
Hình 2. Ảnh hưởng của pH lên sinh trưởng của Ph. australis và I. aquatica - Nghiên cứu sử dụng cây sậy (Phragmites australis) và cây rau muống (Ipomoea aquatica) trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas bằng bãi lọc trồng cây nhân tạo
Hình 2. Ảnh hưởng của pH lên sinh trưởng của Ph. australis và I. aquatica (Trang 4)
Hình 1. Sơ ồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu sử dụng cây sậy (Phragmites australis) và cây rau muống (Ipomoea aquatica) trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas bằng bãi lọc trồng cây nhân tạo
Hình 1. Sơ ồ bố trí thí nghiệm (Trang 4)
Hình 3. Ảnh hưởng của COD ến sự sinh trưởng của Ph. australis và I. aquatica - Nghiên cứu sử dụng cây sậy (Phragmites australis) và cây rau muống (Ipomoea aquatica) trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas bằng bãi lọc trồng cây nhân tạo
Hình 3. Ảnh hưởng của COD ến sự sinh trưởng của Ph. australis và I. aquatica (Trang 5)
hình sinh trưởng của cây trong các thí nghiệm, tuy nhiên các kết quả  ều cho thấy, cây sậy và  rau  muống  có  thể  sử  dụng   ể  xử  lý  nguồn  nư c thải có nồng  ộ COD cao - Nghiên cứu sử dụng cây sậy (Phragmites australis) và cây rau muống (Ipomoea aquatica) trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas bằng bãi lọc trồng cây nhân tạo
hình sinh trưởng của cây trong các thí nghiệm, tuy nhiên các kết quả ều cho thấy, cây sậy và rau muống có thể sử dụng ể xử lý nguồn nư c thải có nồng ộ COD cao (Trang 5)
Bảng 3. Khả năng xử lý pH của Ph. australis và I. aquatica theo thời gian Thời gian  - Nghiên cứu sử dụng cây sậy (Phragmites australis) và cây rau muống (Ipomoea aquatica) trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas bằng bãi lọc trồng cây nhân tạo
Bảng 3. Khả năng xử lý pH của Ph. australis và I. aquatica theo thời gian Thời gian (Trang 6)
(hình 7a, 7b). Sau 7 ngày thí nghiệm, hiệu suất  loại  bỏ  NH4 - Nghiên cứu sử dụng cây sậy (Phragmites australis) và cây rau muống (Ipomoea aquatica) trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas bằng bãi lọc trồng cây nhân tạo
hình 7a 7b). Sau 7 ngày thí nghiệm, hiệu suất loại bỏ NH4 (Trang 7)
Hình 6. Khả năng xử lý TSS và COD của Ph. australis và I. aquatica theo thời gian (a) TSS; b) COD)  - Nghiên cứu sử dụng cây sậy (Phragmites australis) và cây rau muống (Ipomoea aquatica) trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau biogas bằng bãi lọc trồng cây nhân tạo
Hình 6. Khả năng xử lý TSS và COD của Ph. australis và I. aquatica theo thời gian (a) TSS; b) COD) (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm