1 Nghiên cứu chế tạo hỗn hợp cấp phối bê tông nhựa nguội chặt sử dụng nhựa lỏng trong công tác sửa chữa đường ô tô Tiểu Ban: Cầu và công trình ngầm/ Bridge and Tunnel engineering 1 Ngh
Trang 1Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA XÂY DỰNG CẦU ĐƯỜNG
HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trang 3HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
KHOA XÂY DỰNG CẦU ĐƯỜNG, LẦN 16-NĂM 2019
15th CONFERENCE ON STUDENT SCIENTIFIC RESEARCH, 2019
ĐƠN VỊ TỔ CHỨC/Organizing Association:
KHOA XÂY DỰNG CẦU ĐƯỜNG – TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BAN TỔ CHỨC/ Organizing Committee:
PhD Huỳnh Phương Nam PhD Cao Văn Lâm
MsC Nguyễn Thanh Cường PhD Trần Trung Việt PhD Đỗ Việt Hải PhD Hoàng Phương Tùng MsC Lê Thị Ái Thi
BAN CỐ VẤN /Advisory Committee:
Assoc.Prof.PhD Hoàng Phương Hoa Assoc.Prof PhD Nguyễn Xuân Toản Assoc.Prof PhD Châu Trường Linh
PhD Nguyễn Văn Mỹ PhD Nguyễn Lan PhD Đỗ Hữu Đạo MsC Nguyễn Biên Cương
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC/ Scientific Committee
Assoc.Prof PhD Phan Cao Thọ
Assoc.Prof PhD Hoàng Phương Hoa
PhD Huỳnh Phương Nam PhD Cao Văn Lâm PhD Hoàng Phương Tùng MsC Nguyễn Xuân Chương MsC Nguyễn Hoàng Vĩnh MsC Nguyễn Tiến Dũng PhD Trần Đình Quảng PhD Nguyễn Văn Châu KTS Trần Dân
MsC Phạm Ngọc Thủy MsC Lê Nguyễn Tấn Phú MsC Hà Phước Lộc MsC Hoàng Mạnh Hiền MsC Phạm Văn Cửu MsC Trần Hoài Nam MsC Đỗ Nguyên Hưng MsC Phạm Thái Uyết
MsC Đoàn Ngọc Quang
Mai Triệu Quang Nguyễn Thanh Trà Nguyễn Mừng
Lý Quang Huy Nguyễn Tuấn Hiển Bùi Tô Hoài
Võ Trọng Vinh Nguyễn Thanh Hà
- Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật – Đại học Đà Nẵng
- Khoa XDCĐ – Đại học Bách Khoa
- Khoa XDCĐ - Đại học Bách Khoa
- Khoa XDCĐ - Đại học Bách Khoa
- Khoa XDCĐ - Đại học Bách Khoa
- Khoa XDCĐ - Đại học Bách Khoa
- Khoa XDCĐ - Đại học Bách Khoa
- Khoa XDCĐ - Đại học Bách Khoa
- Hội KTKH Cầu Đường Đà Nẵng
- PTGĐ – Cty KCon Group
- PCT Hội KTKH Cầu Đường Đà Nẵng
- PGĐ Sở GTVT, Tỉnh Quảng Ngãi
- Trưởng phòng Thẩm định Sở GTVT, Tỉnh Quảng Ngãi
- Sở GTVT, Tỉnh Quảng Nam
- GĐ Cty CPTVXD CTGT 308
- TGĐ Cty CPĐTXD Đường Việt
- CTHĐQT, GĐ – Cty CPTVĐTXD&PTCN (TDIC)
- Công ty TNHH Sika Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng
- Trưởng PTN – TTKT Đường bộ III
- Cty CPTVXD 533
- TGĐ – Cty CPTV&ĐTXD – ECC
- GĐ dự án – Cty CPTV&ĐTXD – ECC
- PGĐ Cty CPTV&ĐTXD CICCO, Đà Nẵng
- Cty TNHH FOSROC Việt Nam
- GĐ – PTN trọng điểm ĐB II
- PCT Hội KTKH Cầu Đường Đà Nẵng
- PGĐ Cty CPTV&ĐTXD CICCO, Đà Nẵng
- PTGĐ Cty CPĐTXD Đường Việt
ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 4Tiểu Ban: Đường và Kỹ thuật giao thông/ Highway and Traffic engineering p
1 Nghiên cứu chế tạo hỗn hợp cấp phối bê tông nhựa nguội chặt sử dụng nhựa lỏng trong công tác sửa chữa đường ô tô
Tiểu Ban: Cầu và công trình ngầm/ Bridge and Tunnel engineering
1 Nghiên cứu hệ thống cân động cầu
3 Nghiên cứu ảnh hưởng của sự tương tác giữa đất nền – kết cấu đến sự phân tích đường cong phá
hủy của kết cấu cầu bê tông cốt thép
5 Xây dựng phần mềm phân tích thiết kế và đánh giá khả năng chịu tải công trình cầu theo tiêu chuẩn
AASHTO trên hệ điều hành Android
65
SVTH: Hoàng Minh Quảng, Phan Văn Rôn, Trần Lê Ánh Huy
GVHD: TS Nguyễn Duy Thảo
6 Nghiên cứu về độ tin cậy của dầm T ứng suất trước
Trang 5Tiểu Ban: Cầu và công trình ngầm/ Bridge and Tunnel engineering p.
7 Chế tạo thiết bị đo muối mới theo thời gian thực ứng dụng trong quan trắc sức khỏe công trình cầu
75
SVTH : Trần Lê Ánh Huy GVHD: TS Nguyễn Duy Thảo, ThS Phạm Ngọc Đức
8 Xây dựng bản đồ gió tự động cho thành phố đà nẵng dựa trên hệ số địa hình thực tế
10 Nghiên cứu về độ tin cậy của dầm btct I căng trước
89
SVTH: Hồ Văn Nhật Phong, Bùi Ngọc Quốc
GVHD: TS Đỗ Việt Hải
Tiểu Ban: Công nghệ vật liệu xây dựng / Civil engineering Materials
1 Nghiên cứu chế tạo vữa liên kết tự bảo dưỡng bên trong sử dụng cho mục đích lắp ghép, sửa chữa
SVTH: Nguyễn Ngọc Dương Thị Dàng, Nguyễn Như Đức, Phạm Quang Hóa, Lê Thị Khánh Ly
GVHD: ThS Đỗ Thị Phượng, KS Nguyễn Đức Tuấn
3 Nghiên cứu sử dụng cát nghiền địa phương chế tạo bê tông cường độ cao, siêu dẻo dùng cho các
công trình xây dựng
105
SVTH: Ngô Viết Thuận, Nguyễn Tấn Thường GVHD: ThS Nguyễn Thị Tuyết An, KS Vũ Hoàng Trí
4 Nghiên cứu giảm khối lượng công việc giấy tờ hành chính cho cán bộ viên chức khoa xây dựng cầu
đường bằng phần mềm Microsoft Access
Trang 6Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ XVI-2019, Khoa XD Cầu đường - Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO HỖN HỢP CẤP PHỐI BÊ TÔNG NHỰA NGUỘI CHẶT SỬ DỤNG
NHỰA LỎNG TRONG CÔNG TÁC SỬA CHỮA ĐƯỜNG Ô TÔ
RESEARCH TO MANUFACTURE COLD MIXED ASPHALT USING CUTBACK ASPHAT
IN ROAD REPAIR
SVTH : Lê Đức Phước (1) ; Võ Xuân Vinh (2)
(1)Lớp 14X3A,Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email:
lephuoc150495@ gmail.com (2) Lớp 14X3A,Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email:
xuanvinhvo96@gmail.com
GVHD : Ths Nguyễn Biên Cương (3) , Ths Trần Thị Thu Thảo (4)
(3)Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: nbcuong@dut.udn.vn (4) Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: tttthao@dut.udn.vn
Tóm tắt : Hiện nay trong công tác sửa chữa đường ô
tô trên địa bàn Đà Nẵng cũng như toàn quốc thường tốn nhiều thời gian, ảnh hưởng đến môi trường Đề tài nghiên cứu này nhằm mục đích chế tạo ra một loại bê tông nhựa nguội chặt sử dụng nhựa lỏng có chất lượng đảm bảo, khắc phục những nhược điểm của các vật liệu sửa chữa đường hiện nay và có giá thành hợp lý, có thể ứng dụng rông rãi trong công tác sửa chữa đường Kết
quả nghiên cứu dựa trên tài liệu tiêu chuẩn cơ sở TCCS
08:2014/TCĐBVN và phương pháp thực nghiệm trong
phòng thí nghiệm, trong đó nhựa lỏng MC 250 (nhựa lỏng đông đặc vừa) được sử dụng thay thế cho nhựa nóng Kết quả cho thấy mẫu bê tông nhựa nguội không đạt được độ ổn định còn lại 75% theo tiêu chuẩn cơ sở, vì vậy cần phải thêm phụ gia tăng dính Tough fix 0.15%
trong mẫu bê tông nhựa
Từ khóa : bê tông nhựa nguội, nhựa lỏng MC 250,
gia cố xi măng, nhựa lỏng đông đặc vừa, phương pháp
thực nghiệm, độ ổn định, phụ gia tăng dính Tough fix
Abstract : Currently, in the repair of roads in Da Nang city and the whole country, it is often time-consuming, affecting the environment This research aims to manufacture a kind of cold mixed asphalt using cutback asphalt that has quality assurance, overcome the disadvantages of the current road repair materials and has reasonable cost, which can be widely applied in road repair works Research results are based on basic standards TCCS 08:2014/TCĐBVN and experimental methods in the laboratory, in which cutback asphalt MC
250 (medium curing asphalt) is used instead of hot asphalt The results showed that the cold mixed asphalt sample did not achieve the remaining stability according
to the basic standards, so it was necessary to improve the Tough Fix adhesive additive 0.15% in the asphalt concrete
Keywords: cold mixed asphalt, cutback asphalt MC
250, medium solid curing asphalt, experimental method, stability, Tough Fix adhesive additive
1.Đặt vấn đề
Trên các tuyến đường toàn quốc sau khi đưa vào
sử dụng khai thác một thời gian thì bắt đầu xuất hiện các biến dạng và hư hỏng mặt đường như các vết nứt, vệt hằn bánh xe, lõm cục bộ, ổ gà… ngày càng nhiều
và trở nên nghiêm trọng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng khai thác của tuyến đường, lưu thông xe cộ khó khăn, dễ tai nạn và nhất là làm giảm hiệu quả kinh tế, làm mất mỹ quan
Trên mỗi con đường lại có mức độ, loại hình hư hỏng khác nhau, do đó công tác sửa chữa cũng khác nhau có nhiều hình thức : lớn - vừa – nhỏ Đối với sửa chữa lớn và vừa hiện nay đại đa số dùng BTN nóng; sửa chữa nhỏ thường dùng BTN nguội trộn sẵn đóng bao (CA) hoặc BTNN của các đơn vị sửa chữa tự chế tạo
Hiện nay, loại bê tông nhựa rải nóng được sử dụng phổ biến nhất ở Việt Nam do có thời gian hình thành cường độ nhanh, cường độ và độ ổn định cao Bê
tông nhựa nguội có nhiều ưu điểm như kịp thời, đơn giản, sử dụng các loại vật liệu địa phương, nhiệt độ thấp nhưng lại có các nhược điểm cường độ kém hơn và thời gian hình thành cường độ kéo dài, giá thành thì quá cao
do một số phụ gia dùng cho việc sản xuất cacbonor asphalt vẫn đang phải nhập khẩu từ Nam Phi; các loại
này nhằm mục đích chế tạo ra một loại Bê tông nhựa nguội (BTNN) có chất lượng tốt hơn, giá thành hợp lý
có thể ứng dụng rông rãi trong công tác sửa chữa đường, góp phần bảo vệ môi trường
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp lý thuyết Dựa vào tiêu chuẩn cơ sở TCCS 08-2014, quy trình thực hiện nghiên cứu được tiến hành theo các bước sau:
- Xác định mục đích sử dụng của loại bê tôngnhựa
- Chuẩn bị vật liệu, kiểm tra chỉ tiêu cơ lý
- Thiết kế thành phần cấp phối
- Xác định hàm lượng nhựa lỏng tối ưu
- Chế bị mẫu với phụ gia tăng dính
2.2 Phương pháp thực nghiệm 2.1 Chuẩn bị nguyên vật liệu và kiểm tra các yêu cầu kỹ thuật của các loại cốt liệu
- Chọn nhựa lỏng (MC250) sử dụng cho BTNC C19 vàthí nghiệm kiểm tra các yêu cầu kỹ thuật theo TCVN8818-1:2011
- Đá dăm các loại, bột khoáng
- Phụ gia Tough Fix Hyper
2.2.2 Thiết kế cấp phối BTNC C19
- Thiết kế cấp phối theo phương pháp thử dần để tìm rađường cong tối ưu Chúng tôi thử dần từ đường cong cấpphối trung vị dần sang đường cong cấp phối có xu hướngthành dạng chữ S, như bảng 1
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 7SVTH: Lê Đức Phước, Võ Xuân Vinh; GVHD: Ths Nguyễn Biên Cương, Ths Trần Thị Thu Thảo
Bàn luận:
- Độ ổn định còn lại sau 4 ngày đêm đối với mẫu
BTNC C19 nhỏ hơn 75% theo TCCS 08:2014 Vì vậy
cần phải tiến hành thử nghiệm thêm phụ gia tăng dính
Tough Fix Hyper với hàm lượng 0.1% - 0.2% của hàm
lượng nhựa lỏng
- Phụ gia được cho vào bằng cách đun nóng cùng một
phần nhựa lỏng đến 1250C rồi hòa trộn cùng toàn bộ
phần nhựa lỏng còn lại rồi trộn với cốt liệu ở nhiệt độ
trộn đã xác định
- Tiến hành thí nghiệm các chỉ tiêu mẫu BTNN có
phụ gia tương tự như mẫu BTNN thường
Hình 10 Phụ gia tăng dính Tough Fix Hyper
Trung bình
Độ ổn định còn lại sau 4 ngày đêm
Trung bình
Tỷ lệ
độ ổn định còn lại
có thể chế tạo mẫu bê tông nhựa nguội C19 phù hợp vớimục đích sử dụng trong công tác sửa chữa đường, đồngthời giảm thiểu nhiệt lượng tránh gây ô nhiễm môitrường
- Tuy nhiên cần phải tiếp tục nghiên cứu thêm vềkiểm soát nhiệt độ và bay hơi của dung môi và nhiệt độđầm nén tốt nhất của hỗn hợp bê tông nhựa
Tài Liệu Tham Khảo :
[1] TCCS 08:2014/TCĐBVN Hỗn hợp bê tông nhựanguội – Yêu cầu thi công và nghiệm thu
[2] TCCS 09:2014/TCĐBVN Lớp vật liệu
Carboncor Asphalt trong xây dựng đường và sửa chữa kết cấu áo đường ô tô – Tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu
[3] TCVN 7572:2006 Cốt liệu cho bê tông và vữa –Phương pháp thử
[4] TCVN 8818:2011 Nhựa đường lỏng[5] TCVN 8860:2011 Bê tông nhựa – Phương pháp
10.85 11.06
11.79
1010.51111.512
Trang 8NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO CẤP PHỐI HỖN HỢP BÊ TÔNG NHỰA NGUỘI SỬ DỤNG
NHỰA LỎNG DÙNG TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐƯỜNG MỚI
RESEARCH TO MANUFACTURE COLD MIX ASPHALT USING CUTBACK ASPHALT
USED IN THE CONSTRUCTION OF NEW ROADS
SVTH : Hoàng Văn Diện (1) , Nguyễn Thanh Hải (2)
(1)Lớp 14X3A,Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng;
Email: hoangdien6886@gmail.com (2) Lớp 14X3A,Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng;
Email: thanhhaixdqt@gmail.com
GVHD : Th.S Nguyễn Biên Cương (3) , Th.S Trần Thị Thu Thảo (4)
(3)Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng;
Email: nbcuong@dut.udn.vn (4) Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng;
Email: tttthao@dut.udn.vn
TÓM TẮT: Nghiên cứu các tính chất cơ lí của cốt liệu đá
trên địa bàn Quảng Nam –Đà Nẵng kết hợp với nhựa
đường lỏng MC250 do công ty Barchamba Đà Nẵng sản
xuất, bột khoáng siêu mịn của Hà Nam nhằm tìm ra một
cấp phối hỗn hợp cốt liệu tốt nhất để sản xuất bê tông
nhựa nguội sử dụng nhựa lỏng dùng trong công tác xây
dựng đường mới ở khu vực Quảng Nam-Đà Nẵng
Nghiên cứu đã cơ bản thành công trong việc tìm ra cấp
phối hỗn hợp tốt, phù hợp với các cốt liệu địa phương,
chế tạo thành công các mẫu bê tông nhựa nguội thỏa mãn
các yêu cầu TCCS 08:2014/TCĐBVN
TỪ KHÓA: xây dựng mới, bê tông nhựa nguội, cấp phối
hỗn hợp, nhựa lỏng, MC250, Tough Fix
1 Đặt vấn đề.
Ở nước ta hiện nay chủ yếu sử dụng bê tông nhựa nóng
phục vụ cho việc xây dựng lớp mặt đường mới Tuy nhiên
bê tông nhựa nóng có một số hạn chế nhất định như sau:
- Phải gia nhiệt trong quá trình sản xuất,gây ảnh hưởng
đến môi trường
- Việc thi công phải phụ thuộc vào thời tiết và nhiệt độ
- Ảnh hưởng đến sức khỏe của người thi công
- Khống chế chiều dài quãng đường từ trạm trộn đến nơi
thi công
Hiện nay, các loại BTNN chỉ dùng trong công tác sửa
chữa, chưa được dùng trong công tác làm mới Việc tạo ra
1 loại BTNN đạt chất lượng trong công tác xây dựng
đường mới có ý nghĩ rất quan trọng
Vì vậy, yêu cầu cần thiết là phải tìm ra một loại bê tông
nhựa có thể thay thế và khắc phục những nhược điểm của
bê tông nhựa nóng trong công tác xây dựng đường mới
ABSTRACT: Research the mechanical properties of
stone aggregates in Quang Nam - Da Nang area with cutback asphalt MC250 produced by the Barchamba Da Nang factory , super smooth powder of Ha Nam to find a best mixture aggregate to produce cold mix asphalt using cutback asphalt used in the construction of new roads in Quang Nam-Da Nang area The study has basically succeeded in finding a good mix of mixtures, suitable for local aggregates, successfully manufacturing cold mix asphalt samples to meet TCCS 08: 2014 / TCĐBVN requirements
KEY WORDS: New construction, cold asphalt concrete,
mixed mix, liquid plastic, MC250, Tough Fix
Nghiên cứu này nhằm chế tạo ra một loại Bê tông nhựa nguội (BTNN) có chất lượng tốt hơn, có thể ứng dụng thay thế một phần BTN nóng trong công tác xây dựng
đường ô tô
2 Mục đích nghiên cứu.
Thiết lập công thức chế tạo hỗn hợp BTNN sử dụngnhựa lỏng MC250 và các loại vật liệu ở khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng phục vụ công tác xây dựng đường mới với chất lượng và giá thành tốt hơn
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 9SVTH: Hoàng Văn Diện- Nguyễn Thanh Hải; GVHD: ThS Nguyễn Biên Cương - ThS Trần Thị Thu Thảo
Hình 6: Biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng nhựa lỏng với
độ rỗng cốt liệu
3.4 Độ ổn định còn lại của mẫu bê tông nhựa nguội
với hàm lượng nhựa tối ưu
Bảng 6: Độ ổn định còn lại của mẫu bê tông nhựa với
hàm lượng nhựa tối ưu
Trong điều kiện bình thường, các mẫu bê tông nhựa rất
khó để đạt chỉ tiêu độ ổn định còn lại Vì vậy phải sử
dụng phụ gia tăng Tough Fix để tăng dính bám giữa cốt
liệu và nhựa đường để độ ổn định còn lại của bê tông
nhựa nguội sử nhựa lỏng đạt được giá trị lớn hơn 75%
4.2 Hàm lượng nhựa tối ưu
Rất khó để đạt được cả hai chỉ tiêu về độ rỗng dư và độ
rỗng khung cốt liệu Dựa vào các biểu đồ cho thấy chỉ có
hàm lượng nhựa từ 5,6% - 5,7% mới có thể đạt được các
chỉ tiêu cơ lí của bê tông nhựa theo TCCS
08:2014/TCĐBVN
Không thể chọn được hàm lượng nhựa có thể đạt được độ
rỗng dư tối ưu (4%) vừa đạt được độ rỗng khung cốt liệu
lớn hơn 14%
5 Kết luận
Cốt liệu đá ở mỏ đá Hố Chuồn khá tốt, có thể làm cốt liệu
chế tạo bê tông nhựa nguội sử dụng nhựa lỏng dùng trong
công tác xây dựng đường ô tô ở khu vực Quảng Nam –
Đà Nẵng
Phải sử dụng phụ gia tăng dính để tăng độ ổn định còn lại của hỗn hợp bê tông nhựa nguội khi dùng trong công tác xây dựng đường
Chế tạo thành công mẫu BTNN đạt được các chỉ tiêu cơ
lí theo TCCS 08:2014/TCĐBVN
Tùy theo mục đích sử dụng hỗn hợp bê tông nhựa mà ta
có thể điều chỉnh hàm lượng nhựa lỏng tối ưu phù hợp với từng loại đường
Tài liệu tham khảo
(1) Tiêu chuẩn cơ sở 08:2014/TCĐBVN – Hỗn hợp bê tông nhựa nguội, yêu cầu thi công và nghiệm thu
(2) TCVN 7572:2006 – Cốt liệu cho bê tông và phương pháp thử
(3) Tiêu chuẩn TCVN 8860:2011 – Bê tông nhựa và phương pháp thử
(4) Tiêu chuẩn 8818:2011 – Nhựa lỏng
(5) Các liệu trực tuyến từ nguồn enternet khác
3.5 Độ ổn định còn lại của mẫu bê tông nhựa nguội khi
có phụ gia
Bảng 7: Độ ổn định còn lại của mẫu bê tông nhựa có phụ
gia
Mẫu thí nghiệm số
Phụ gia 0.2%
1 2 3 4 5 6
Độ ổn định Marshall (KN)
10.31 9.99 10.18 8.56 8.49 9.17
Giá trị trung bình 10.16 8.74
Độ ổn đinh còn lại (%) 86.02
Từ các biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng nhựa lỏng
với các chỉ tiêu kĩ thuật của bê tông nhựa
=> Chọn hàm lượng lỏng tối ưu là 5.6%
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 10NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI LÁI XE KHÔNG AN TOÀN
CỦA TÀI XẾ XE ÔM CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
FACTORS AFFECTING RISKY RIDING BEHAVIOURS AMONG APP-BASED
MOTORCYCLE TAXI RIDERS IN VIETNAM
SVTH: Võ Đình Quang Nhật (1) ; Lê Thành Quang (2)
(1)Lớp 14X3C, Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: qnhatbkdn@gmail.com
(2) Lớp 14X3C, Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email:
thanhquanghdn@gmail.com
GVHD: TS Nguyễn Phước Quý Duy (3) ; ThS Trần Thị Phương Anh (4)
(3)Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: npqduy@dut.und.vn
(4) Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: phuonganhxdcd@gmail.com
Tóm tắt: Ở Việt Nam cũng như các nước đang phát
triển, xe máy thường chiếm tỉ lệ lớn trong thành phần
dòng xe Ước tính đến năm 2020 hơn 60 triệu xe máy
được lưu hành ở Việt Nam Vì vậy, dịch vụ vận tải bằng
loại phương tiện này cũng tăng lên nhanh chóng Cùng
với sự phát triển của công nghệ, các công ty vận tải đã
cho ra đời loại hình giao thông mới được gọi là “Xe ôm
công nghệ” Do đặc thù công việc, hàng ngày các tài xế
“Xe ôm công nghệ” thường phải di chuyển trên đường với
tần suất cao và thời gian dài nên xác suất xảy ra va chạm
giao thông của họ thường cao hơn so với người đi xe máy
thông thường Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nghiên cứu
nào về hành vi lái xe nguy hiểm và mối liên hệ của chúng
với các vụ va chạm giao thông xảy ra đối với nhóm người
này Với các thông tin được khảo sát từ 602 tài xế tại 3
thành phố lớn của Việt Nam gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ
Chí Minh, nghiên cứu đã thống kê tần suất xảy ra các
hành vi lái xe không an toàn của tài xế “Xe ôm công
nghệ”, đồng thời xác định những nhân tố ảnh hưởng đến
những hành vi đó Các hành vi lái xe không an toàn được
khảo sát trong nghiên cứu gồm có: hành vi sử dụng điện
thoại khi lái xe, quên bật đèn xi-nhan khi chuyển hướng,
chạy quá tốc độ, lạng lách đánh võng, lấn làn, vượt đèn
đỏ, hút thuốc khi lái xe, không đội mũ bảo hiểm, chở quá
số khách quy định và hành vi sử dụng bia rượu trước khi
lái xe Kết quả nghiên cứu, phân tích với mô hình hồi quy
Logistic cho thấy tài xế đang là sinh viên, có thời gian lái
xe ≥50 giờ/tuần và tài xế có thói quen sử dụng bia rượu
được tìm thấy có khả năng cao thực hiện hầu hết các hành
vi lái xe nguy hiểm trên (8/10 hành vi) Ngoài ra, hành vi
quên bật đèn xi-nhan, chở quá hành khách cho phép và
hút thuốc trong khi lái xe được tìm thấy là có liên quan
đáng kể đến các vụ va chạm đã được khảo sát Từ kết quả
đó các kiến nghị, giải pháp nhằm cải thiện vấn đề va chạm
giao thông của tài xế “xe ôm công nghệ” cũng được đề
xuất
Từ khóa : Tài xế xe ôm công nghệ; tai nạn giao thông;
hành vi lái xe
Abstract: In developing countries, particularly in
Vietnam, motorcycles account for the highest proportion
in traffic flow It is expected that the number of motorcycles in this country will be more than 60 million motorcycles in 2020 Transportation services based on this type of vehicle was, therefore, considered to be increased significantly The emerging of technology has contributed into the launch of ride-hailing services, called
"App-based motorcycle taxi" This new transport mode has become very popular in Vietnam However, with the vulnerability of motorcycles, the probability of road traffic crash involvement among app-based motorcycle taxi riders has been recognized to be much higher than regular motorcycle riders Recently, there has been no study exploring crash involvement and risky behaviours among this group Through a survey of 602 riders conducted in three large cities in Vietnam including Ha Noi, Da Nang and Ho Chi Minh City, the study investigates the prevalence of risky riding behaviours and their associations with traffic crashes Risky riding behaviours surveyed include: mobile phone use, turn signal neglect, encroach into car lanes, exceed speed limit, red-light running, carry more than one passenger, smoke while riding, no helmet, reckless over-taking and drink riding Binary logistic regression results show that app-based motorcycle taxi riders who are students, working more than 50 hours per week and drink riding are more likely to engage in most surveyed risky behaviours (eight out of ten) In addition, turn signal neglect, carrying more than one passenger and smoke while riding are also found
to have significant impacts on road traffic crashes Based
on findings, measures will be proposed to improve the safety among the riders
Keywords: App-based motorcycle taxi riders; traffic
crashes; risky riding behaviour; binary logistic regression, Vietnam
1 Đặt vấn đề
Tại các nước đang phát triển, xe máy được xem là
phương tiện giao thông chủ yếu của người dân bởi hệ
thống giao thông công cộng chưa phát triển, giá ô tô cao
so với thu nhập của đại đa số người dân, xe máy lại có các
ưu điểm nổi bật như thuận tiện, linh động, chi phí đi lại
thấp [1] Chúng ta có thể thấy rằng hơn 77% tổng số
lượng xe máy trên thế giới xuất hiện tại các nước này [2]
Trong số đó, Việt Nam được xem là một “cường quốc xe máy” khi sở hữu số lượng loại phương tiện này xếp thứ hai trên toàn thế giới Năm 2016, cơ quan thanh tra đã ghi nhận con số hơn 45 triệu mô-tô, xe máy các loại đang chạy trên khắp các nẻo đường Việt Nam Tính theo dân số
cả nước hiện nay thì bình quân cứ 1.000 người sẽ sở hữu khoảng 460 chiếc xe máy [3] Con số này sẽ tăng trung
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 11Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ XVI-2019, Khoa XD Cầu đường - Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
n=602; * p < 0.05, ** p < 0.01, *** p < 0.001 1 = Không bao giờ, 2 = Vài lần trong năm, 3 = Vài lần trong tháng, 4 = Vài lần
trong tuần, 5 = Vài lần trong ngày
4 Thảo luận và kết luận.
Nghiên cứu đã trình bày mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố tác động đến hành vi lái xe không an toàn của tài
xế “xe ôm công nghệ” Kết quả cho thấy rằng tài xế là
sinh viên khi tham gia giao thông có nhiều khả năng thực
hiện những hành vi lái xe không an toàn hơn là những tài
xế không phải là sinh viên Tài xế trong độ tuổi này được
tìm thấy phù hợp với một nghiên cứu của tác giả Brian và
cộng sự ở Canada đã thực hiện để chỉ ra rằng những tài xế
trẻ từ 16 đến 25 tuổi có nguy cơ gặp tai nạn cao hơn so
với những tài xế lớn tuổi, những rủi ro này chủ yếu đến từ
hành vi lái xe của họ [15] Điều này nói lên rằng giới trẻ
vẫn đang còn rất chủ quan khi điều khiển xe máy tham gia
giao thông, qua đó cần các những biện pháp tập trung
tuyên truyền nâng cao ý thức tham gia giao thông cho
nhóm đối tượng này
Những tài xế lái xe toàn thời gian cũng được tìm thấy
thực hiện những hành vi hút thuốc trong khi lái xe và sử
dụng rượu bia trước khi lái xe cao hơn tài xế lái xe bán
thời gian gấp ba lần Điều này cũng dễ giải thích khi tài xế
lái xe toàn thời gian được tìm thầy đa phần có trình độ
học vấn thấp Một nghiên cứu trước đây của Launer và
cộng sự chỉ rằng trình độ học vấn thấp thì có thói quen sử
dụng bia rượu và thuốc lá [16] Vì vậy, để giảm bớt căng
thẳng khi lái xe, tài xế lái xe toàn thời gian lựa chọn sử
dụng bia rượu và thuốc lá, điều đó gây nguy hiểm khi
tham gia giao thông
Không nằm ngoài dự đoán khi những tài xế thu nhập
không đủ để trang trải cuộc sống có xu hướng thực hiện
hành vi lấn làn và chạy quá tốc độ gấp hai lần những tài
xế có thu nhập đủ để trang trải cuộc sống Hành vi vượt
đèn đỏ cũng được xem xét khi tài xế đủ thu nhập có khả
năng thực hiện gấp 1,7 lần những tài xế còn lại Điều này
giống với những kết quả nghiên cứu của Shinar và cộng
sự được thực hiện ở Mỹ chỉ ra rằng các tài xế có thu nhập
thấp có nguy cơ vượt quá tốc độ khi chạy xe [17] Một
nghiên cứu khác từ nhóm tác giả Factor cũng nhận thấy
những người lái xe có thu nhập thấp có nhiều khả năng
tham gia lái xe rủi ro và tham gia vào các vụ va chạm giao
thông [18] Trên thực tế thấy rằng để cải thiện thu nhập
của mình, các tài xế phải chở được nhiều hành khách hoặc
tăng thời gian chạy xe Vì vậy, họ phải lái xe nhanh hơn
nên việc lấn làn và vượt đèn đỏ là việc khó tránh khỏi
Những tài xế có thời gian làm việc ≥ 50 giờ/tuần có
khả năng thực hiện hầu hết tất cả các hành vi tiềm ẩn gây
tai nạn, chiếm 8 trên tổng số 10 hành vi được khảo Khả
năng thực hiện các hành vi đó cao gấp từ 1,5 đến 5,3 lần
so với những tài xế có thời gian lái xe < 50giờ/tuần Giải
thích cho kết quả này là những tài xế có thời gian lái xe
nhiều đồng nghĩa với việc họ sẽ chở được lượng khách
nhiều hoặc hành trình chở khách dài Vì vậy, việc thực
hiện những hành vi tiềm ẩn gây tai nạn là khó tránh khỏi Tác giả Lasse và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu ở Đan Mạch để chỉ ra rằng mối quan hệ giữa việc lái xe nhiều trên đường và tai nạn giao thông là mối quan hệ tỉ
lệ thuận [9] Theo luật giao thông đường bộ 2008, điều 65: thời gian làm việc của người lái xe ô tô không được quá 10 giờ trong một ngày và không được lái xe liên tục quá 4 giờ Tuy nhiên đối với xe máy vẫn chưa có luật cụ thể Kết quả giúp các công ty vận tải xem xét và quản lý thời gian lái xe của tài xế một cách hợp lý
Không nằm ngoài dự đoán khi các tài xế có thói quen hút thuốc thường xuyên thường có khả năng cao thực hiện hành vi hút thuốc lá khi lái xe cao gấp 17,5 đến 19 lần những tài xế không hút thuốc Việc hút thuốc khiến tài xế phải lái xe bằng một tay gây bất lợi trong việc điều khiển
xe máy, khó phản ứng xử lý kịp thời khi xảy ra sự cố hay gặp chướng ngại vật trên đường Khói thuốc cũng được cho là ảnh hưởng đến tầm nhìn của tài xế lái xe Một kết quả nghiên cứu của DiFranza và cộng sự đã chỉ ra rằng những người hút thuốc đã gặp tai nạn nhiều hơn 50% và
vi phạm giao thông nhiều hơn 46% so với những người không hút thuốc [19]
Việc thường xuyên sử dụng bia rượu cũng có khả năng cao thực hiện hầu hết những hành vi gây tai nạn chiếm 8 trên 10 hành vi được khảo sát Trong đó, chắc chắn việc thỉnh thoảng và thường xuyên sử dụng bia rượu
là nguyên nhân dẫn để hành vi uống bia rượu trước khi lái
xe Hành vi này cao gấp 6,3 đến 11 lần đối với những người không bao giờ sử dụng bia rượu Một nghiên cứu của Ralph thực hiện chứng minh cho sự nguy hiểm của thói quen trên khi chỉ ra rằng 50% những người uống bia rượu trước khi lái xe bị tai nạn giao thông [20] Những hành vi nguy hiểm khác được thực hiện như: sử dụng điện thoại khi lái xe, quên bật đèn xi-nhan khi chuyển hướng, chạy quá tốc độ, lấn làn, vượt đèn đỏ, không độ mũ bảo hiểm khi lái xe và chở quả số khách quy định Giải thích
về xu hướng thực hiện những hành vi trên là do chất cồn
có trong bia rượu gây ảo giác nặng với hệ thần kinh, mất khả năng tự chủ, định hướng, giảm tầm nhìn, giảm khả năng điều khiển vận động nên người có thói quen này sẽ
dễ vì thế mà gây ra va chạm [21]
Nghiên cứu đã xem xét mối liên hệ giữa hành vi lái xe không an toàn và đặc điểm của tài xế “xe ôm công nghệ” Bài viết này cung cấp thêm hiểu biết về các hành vi lái xe không an toàn có liên quan đến va chạm nạn giao thông đường bộ Kết quả cho thấy khoảng 30% tài xế “xe ôm công nghệ” được khảo sát xác nhận đã xảy ra ít nhất một
vụ va chạm giao thông trong 12 tháng qua Trong số này, gần 80% báo cáo rằng hành vi lái xe mạo hiểm của chính
họ là nguyên nhân chính Tỷ lệ va chạm được thống kê từ
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 12nghiên cứu này thấp hơn đáng kể so với báo cáo của các
tài xế xe ôm thông thường ở các nước đang phát triển
khác, bao gồm Ghana (50%) và Nigeria (46%) [22, 23]
Tỷ lệ mười hành vi lái xe rủi ro trong số các lái xe
cũng được điều tra trong nghiên cứu này Sử dụng điện
thoại di động trong khi lái xe có tỷ lệ phổ biến cao nhất
với 52% và nguyên nhân đóng góp đến 13,1% số vụ va
chạm giao thông xảy ra với tài xế “xe ôm công nghệ”
Thực tế cho thấy tài xế “xe ôm công nghệ” thường xuyên
tương tác trên Smartphone để đón/trả khách, liên lạc với
hành khách hay sử dụng bản đồ định vị GPS, … Điều này
dẫn đến nguy cơ cao xảy ra va chạm trên đường do mất
tập trung Trong một nghiên cứu riêng biệt với đối tượng
học sinh, sinh viên sử dụng xe máy để di chuyển, được
thực hiện bởi Long Truong và cộng sự [12], việc sử dụng
điện thoại di động cũng được phát hiện là hành vi lái xe
không an toàn phổ biến nhất với 74% xác nhận có hành vi
này Trong nghiên này, bỏ qua việc sử dụng xi-nhan khi
rẽ là hành vi không an toàn phổ biến thứ hai Việc không
sử dụng đèn báo rẽ được coi là một trong những nguyên
nhân chính gây ra tai nạn xe cộ [24] Trong cuộc khảo sát,
khoảng 31% tài xế cho biết họ không phát tín hiệu khi
thực hiện rẽ ít nhất vài lần trong năm Con số này thấp
hơn nhiều so với kết quả từ một nghiên cứu quan sát riêng
về việc sử dụng đèn xi-nhan ở người đi xe máy ở Đà
Nẵng, Việt Nam, cho thấy gần 60% người đi xe máy quan
sát không sử dụng tín hiệu rẽ ở ngã tư [25]
Tỷ lệ va chạm giao thông và tỷ lệ hành vi lái xe không
an toàn dường như thấp hơn ở những tài xế “xe ôm công
nghệ” so với những người sử dụng xe máy được khảo sát
trong nghiên cứu trước đây Điều này có thể là kết quả
của những buổi tập huấn các yêu cầu an toàn đường bộ
dành cho tài xế được tổ chức bởi các công ty dịch vụ “xe
ôm công nghệ” Ngoài ra, năng suất của các tài xế tham
gia dịch vụ này cũng chịu tác động bởi đánh giá của
khách hàng thông qua xếp hạng và nhận xét sau khi sử
dụng Nếu một tài xế bị khách hàng đánh giá là có hành vi
lái xe không an toàn, công ty chủ quản của họ có thể tự
động hạn chế công việc hoặc khóa tài khoản của họ trong
vài ngày hoặc thậm chí cấm vĩnh viễn Chẳng hạn, nếu
xếp hạng của tài xế Uber giảm xuống dưới 4,6 trên 5, họ
có nguy cơ bị vô hiệu hóa [26] Ngược lại, một tài xế có
thể tăng thu nhập của họ thông qua sự ưu tiên nhận khách
nếu họ duy trì xếp hạng cao
Kết quả hồi quy logistic cho thấy các tài xế không sử
dụng đèn xi-nhan, chở quá hành khách hoặc hút thuốc khi
lái xe có tác động lớn đến khả năng xảy ra các vụ va chạm
giao thông chủ động, va chạm mà chính tài xế “xe ôm
công nghệ” là người va vào phương tiện khác Trong số
những hành vi đó, không sử dụng đèn xi-nhan được phát
hiện là hành vi lái xe không an toàn duy nhất có tác động
đáng kể đến các vụ va chạm chủ động nghiêm trọng
Những phát hiện này chứng thực nghiên cứu trước đây,
cho thấy bỏ qua đèn xi-nhan là một trong những hành vi
lái xe rủi ro chính góp phần gây ra tai nạn giao thông
đường bộ Theo Hiệp hội kỹ sư ô tô, ước tính có khoảng
hai triệu người Mỹ xảy ra va chạm giao thông mỗi năm vì
bỏ qua việc sử dụng đèn tín hiệu rẽ [24] Con số này
nhiều gấp đôi số vụ tai nạn giao thông đường bộ
(950.000) được ước tính là do lái xe mất tập trung, chẳng
hạn như sử dụng điện thoại di động Bỏ qua việc sử dụng
đèn tín hiệu rẽ là vấn đề an toàn đường bộ quan trọng của
Bộ Giao thông Vận tải Hoa Kỳ [27]
Kết quả từ hồi quy Logistic cũng cho thấy các tài xế
“xe ôm công nghệ” lấn sang làn đường ô tô ít có khả năng xảy ra các vụ va chạm giao thông Điều này có thể được giải thích bởi mong muốn tránh tình trạng tắc nghẽn cao trên các làn đường giao thông hỗn hợp (nơi cho phép cả ô
tô và xe máy) và bằng cách đi trong làn đường chỉ dành cho ô tô, các tài xế có thể giảm nguy cơ va chạm với những tài xế xe máy khác vì họ thường có nhiều không gian hơn để di chuyển Tuy nhiên, trong những trường hợp này, họ cũng phải đối mặt với nguy cơ va chạm nghiêm trọng với ô tô
Nhìn chung, dịch vụ “xe ôm công nghệ” hiện đang là một loại hình phương tiện giao thông công cộng tiện lợi, nhanh chóng và được nhiều người tin dùng ở Việt Nam cũng như một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á Tài
xế “xe ôm công nghệ” được cho là trực tiếp và gián tiếp góp phần lớn đến vấn đề tai nạn giao thông trong đô thị
Do đó, nghiên cứu này được thực hiện với ý nghĩa xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lái xe không an toàn và mối quan hệ giữa các hành vi đó đến va chạm giao thông Từ đó, giúp các nhà quản lý đề xuất các chính sách cải thiện nhằm nâng cao hành vi lái xe an toàn của các tài xế Một số chính sách kiến nghị như: các công ty dịch vụ “xe ôm công nghệ” cần quản lý chặt chẽ hơn, giới hạn về thời gian chạy xe, tổng số kilomet hành trình của tài xế tham gia dịch vụ; tăng cường giáo dục về an toàn giao thông được tổ chức bởi các công ty vận tải chủ quản
và nhà trường, đặc biệt đối với những tài xế là sinh viên, trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm Kết quả bài nghiên cứu cũng
đã nhấn mạnh sự phổ biến của việc bỏ qua việc sử dụng tín hiệu rẽ và mối liên hệ quan trọng của nó với va chạm giao thông, đặc biệt là các vụ tai nạn nghiêm trọng Hành
vi này nên được chú trọng nhiều hơn trong những buổi tập huấn mà các công ty dịch vụ “xe ôm công nghệ” tổ chức Ngoài ra, việc thực thi pháp luật hiện hành nhiều hơn kết hợp với các chiến dịch giáo dục có thể giúp thúc đẩy việc
sử dụng đèn xi-nhan cũng nhưng những hành vi lái xe không an toàn đã được phát hiện có tác động mạnh đến va chạm giao thông đường bộ
Nghiên cứu đã chỉ rõ mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến các hành vi lái xe không an toàn gây va chạm giao thông của tài xế “xe ôm công nghệ” với điều kiện cụ thể về đường, giao thông và tổ chức điều khiển giao thông trong đô thị Việt Nam Các kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các đô thị khác có điều kiện tương tự Tuy nhiên, việc thực hiện nghiên cứu cũng có một số hạn chế nhất định Thứ nhất, không thể lấy thông tin của những tài xế đã rời bỏ nghề lái xe do đã từng xảy ra tai nạn nghiệm trọng Thứ hai, những câu hỏi khảo sát liên quan đến va chạm hoặc tai nạn là một mối quan ngại lớn với các tài xế “xe ôm công nghệ” Mặc dù các đội khảo sát đã giải thích rõ ràng mục đích của khảo sát chỉ để phục vụ cho nghiên cứu và không bao gồm bất kỳ thông tin cá nhân nào của tài xế, nhưng vẫn có một số tài xế được hỏi dường như không muốn báo cáo về các vụ tai nạn mà đã xảy ra với họ Điều này có thể làm nhiễu kết quả của nghiên cứu
Tài Liệu Tham Khảo :
[1] M.-R Lin, H.-F Hwang, and N.-W Kuo, "Crash
severity, injury patterns, and helmet use in adolescent
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 13Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ XVI-2019, Khoa XD Cầu đường - Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
motorcycle riders," Journal of Trauma and Acute Care
Surgery, vol 50, no 1, pp 24-30, 2001
[2] N Rogers, "Trends in motorcycles fleet worldwide,"
in Presentation to Joint OECD/ITF Transport Research
Committee Workshop on Motorcycling Safety, 2008
[3] ThanhTraChínhPhủ (2016) Tuyệt chiêu không bị
cháy túi khi mua xe máy mới
[4] C Bản-JICA, "Nghiên cứu Quy hoạch tổng thể về an
toàn giao thôngđến năm 2020," Báo cáo cuối kỳ, Hà Nội,
2009
[5] Grab (2017) Grab Celebrates Fifth Anniversary and
Significant User Milestones
[6] WHO (2018) Global status report on road safety
2018 World Health Organization
[7] U NATIONS (2018) Road safety performance
review Viet Nam
[8] P Johnson, C Brooks, and H Savage, Fatal and
serious road crashes involving motorcyclists (no
Monograph 20) 2008
[9] L Fridstrøm, J Ifver, S Ingebrigtsen, R.
Kulmala, and L K Thomsen, "Measuring the
contribution of randomness, exposure, weather, and
daylight to the variation in road accident counts,"
Accident Analysis & Prevention, vol 27, no 1, pp 1-20,
1995
[10] L D Olvera, A Guézéré, D Plat, and P.
Pochet, "Earning a living, but at what price? Being a
motorcycle taxi driver in a Sub-Saharan African city,"
Journal of transport geography, vol 55, pp 165-174,
2016
[11] O C Akinlade and W R Brieger, "Motorcycle
taxis and road safety in southwestern Nigeria,"
International quarterly of community health education,
vol 22, no 1, pp 17-31, 2003
[12] L T Truong, H T Nguyen, and C De
Gruyter, "Correlations between mobile phone use and
other risky behaviours while riding a motorcycle,"
Accident Analysis & Prevention, vol 118, pp 125-130,
2018
[13] R Dandona, G A Kumar, and L Dandona,
"Risky behavior of drivers of motorized two wheeled
vehicles in India," Journal of safety research, vol 37, no
2, pp 149-158, 2006
[14] H.-L Chang and T.-H Yeh, "Risk factors to
driver fatalities in single-vehicle crashes: comparisons
between non-motorcycle drivers and motorcyclists,"
Journal of transportation engineering, vol 132, no 3, pp
227-236, 2006
[15] B A Jonah, "Accident risk and risk-taking
behaviour among young drivers," Accident Analysis &
Prevention, vol 18, no 4, pp 255-271, 1986
[16] L Launer, E Feskens, S Kalmijn, and D.
Kromhout, "Smoking, drinking, and thinking: the
zutphen elderly study: the zutphen elderly study,"
American Journal of Epidemiology, vol 143, no 3, pp
219-227, 1996
[17] D Shinar, E Schechtman, and R Compton,
"Self-reports of safe driving behaviors in relationship tosex, age, education and income in the US adult drivingpopulation," Accident Analysis & Prevention, vol 33, no
1, pp 111-116, 2001
[18] R Factor, D Mahalel, and G Yair, "Inter-group
differences in road-traffic crash involvement," AccidentAnalysis & Prevention, vol 40, no 6, pp 2000-2007,2008
[19] J R DiFranza, T H Winters, R J Goldberg,
L Cirillo, and T Biliouris, "The relationship of
smoking to motor vehicle accidents and trafficviolations," New York state journal of medicine, 1986
[20] R W Hingson, E M Edwards, T Heeren, and
D Rosenbloom, "Age of drinking onset and injuries,
motor vehicle crashes, and physical fights after drinkingand when not drinking," Alcoholism: Clinical andExperimental Research, vol 33, no 5, pp 783-790, 2009
[21] binhduong.gov.vn (2018) Những nguy hiểm khi
người điều khiển xe uống rượu, bia
[22] F O Oginni, V I Ugboko, and R A Adewole,
"Knowledge, attitude, and practice of Nigeriancommercial motorcyclists in the use of crash helmet andother safety measures," Traffic injury prevention, vol 8,
no 2, pp 137-141, 2007
[23] P Agyekum-Boamah, "The growing use of
motorcycles for commercial transport and traffic safety inGhana," Injury prevention, vol 18, no Suppl 1, pp
A190-A190, 2012
[24] R Ponziani, "Turn signal usage rate results: A
comprehensive field study of 12,000 observed turningvehicles," SAE Technical Paper0148-7191, 2012
[25] D Q Nguyen-Phuoc, A H Nguyen, and C De Gruyter, "Exploring The Prevalence And Factors
Associated With Self-Reported Traffic Crashes AmongApp-Based Motorcycle Taxis In Vietnam," Transportation Research Board 98th Annual MeetingTransportation Research Board, Conference Paper no 43, 2019 Washington DC, United State [26] Ridester, "Uber Passengers Begin to Feel the
Sting of Low Ratings," Online Multimedia no 57, 2018
[27] NHTSA, "Trafic Safety Facts," Nationl Highway
Traffic Safety Administration (NHTSA), OnlineMultimedia no 62, 2010
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 14NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO CẤP PHỐI HỖN HỢP BÊ TÔNG NHỰA NGUỘI CHẶT SỬ DỤNG NHŨ TƯƠNG PHÂN TÍCH CHẬM DÙNG TRONG CÔNG
TÁC XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ
RESEARCH ON MANUFACTURING COLD MIXED ASPHALT USING SLOW SETTING
EMULSIFIED ASPHAT IN THE CONTRUCTION NEW ROADS
SVTH: Nguyễn Thành Trung (1) , Nguyễn Thanh Tùng (2)
(1)Lớp 14X3A,Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng;
Email: ntrung14bkdn@gmail.com
(2) Lớp 14X3B,Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng;
Email: thanhtungbk0991996@gmail.com
GVHD: Th.S Nguyễn Biên Cương (3) , Th.S Trần Thị Thu Thảo (4)
(3)Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: nbcvna@gmail.com
(4) Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: tranthaoxdcd@gmail.co
Tóm tắt – Hiện nay, vấn đề môi trường đang được cả
thế giới quan tâm, trong tất cả mọi lĩnh vực- trong đó có
ngành xây dựng đường Việc xây dựng mặt đường bằng
hỗn hợp bê tông nhựa nóng có rất nhiều ưu điểm, tuy
nhiên lại ảnh hưởng đến môi trường Vì vậy, cần có một
hỗn hợp bê tông nhựa nguội sử dụng nhũ tương phân tích
chậm trong công tác xây dựng mặt đường mới đảm bảo
được vấn đề bảo vệ môi trường khi thi công, bên cạnh đó
vẫn đảm bảo chất lượng và giá cả hợp lý
Bài viết thể hiện kết quả nghiên cứu đánh giá chọn
cốt liệu trong bê tông nhựa nguội cấp phối chặt,liên tục;
so sánh lựa chọn hàm lượng nước, hàm lượng nhựa gốc
thích hợp; quy hoạch thực nghiệm về mối tương quan
giữa hàm lượng nhựa gốc trong nhũ tương, hàm lượng
nước Đề xuất được tỷ lệ tối ưu của nhựa và hàm lượng
nước để tìm ra hàm lượng tối ưu cho bê tông nhựa nguội
Nhằm mục đích thiết lập công thức chế tạo và công nghệ
sản xuất bê tông nhựa nguội sử dụng nhũ tương phân tích
chậm trong công tác xây dựng mặt đường ô tô theo TCCS
08:2014/TCĐBVN
Từ khóa: - Bê tông nhựa nguội; nhũ tương; hàm
lượng nhựa; “hàm lượng nước; mặt đường mới; môi
trường
Abstract- Currently, environmental issues are being
taken care of by the world, in all areas - including road construction The construction of a road surface with a hot asphalt concrete mixture has many advantages, but it affects the environment Therefore, it is necessary to have cold mixed asphalt using slow setting emulsified asphalt
in the contruction new road to ensure environmental protection when construction, besides ensuring quality and reasonable price
The article presents some research results of research and evaluation of the comparison and the selection of materials used in cold mixed asphalt ;the selection of water content, proper plastic content;It planed experimentally the correlation between the original plastic content in emulsions, water content Propose the optimal rate of plastic and water content to find the optimal content for cold mixed asphalt The aim to establish the formula for manufacturing and technology of cold mixed asphalt production using emulsion analysis slowly in the construction of new road according to TCCS 08: 2014 / TCĐBVN
Keywords: - Cold mixed asphalt; emulsion; plastic
content; water content; new road; environment
1 Đặt vấn đề
Hiện nay ở Việt Nam đa số mặt đường được thi công
bằng hỗn hợp bê tông nhựa nóng Việc lựa chọn loại hỗn
hợp này có rất nhiều ưu điểm, tuy nhiên vẫn còn nhiều
nhược điểm chưa được khắc phục Như là:
- Quá trình thi công sản sinh ra lượng nhiệt lớn gây
ô nhiễm môi trường
- Việc thi công phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ và
thời tiết
- Dễ phát sinh biến dạng dưới tác dụng của nhiệt
độ cao
- Khống chế chiều dài quãng đường từ trạm trộn
đến nơi thi công
- Ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân công lao
động
Từ những nhược điểm nêu trên của hỗn hợp bê tông
nhựa nóng, thì yêu cầu cần thiết là cần có một loại hỗn
hợp có thể khắc phục được nhược điểm trên
Qua tìm hiểu nhóm đưa ra một giải pháp, đó là sử dụng nhũ tương nhựa đường gốc axit để thay thế cho nhựa đặc khi trộn hỗn hợp bê tông nhựa Vì nhũ tương nhựa đường gốc axit có những ưu điểm như là:
• Về mặt kỹ thuật:
+ Sản phẩm nhũ tương nhựa đường có thể sử dụng đểthi công trong điều kiện nhiệt độ thấp, vật liệu đá ẩm, khu vực nhiều sương mù hoặc tỷ lệ bột đá cao
+ Nhũ tương có thể bảo quản, vận chuyển dễ dàng vàrất thuận tiện khi sử dụng
• Về môi trường:
+ Hạn chế đáng kể mức ô nhiễm môi trường do khíthải của khói so với thi công bằng đốt nhựa đường đặc nóng chảy
• Vấn đề xã hội:
+ Việc dùng nhũ tương nhựa đường trong xây dựngđường giúp thi công nhanh gọn và chủ động
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 15Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ XVI-2019, Khoa XD Cầu đường - Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
8.5%-9.5% đều thỏa mãn các chỉ tiêu của bê tông nhựa
nguội sử dụng nhũ tương TCCS 08:2014/TCĐBVN, cụ
thể độ rỗng cốt liệu không nhỏ hơn 14%
Kết quả thí nghiệm độ rỗng cốt liệu VMA có tương
quan tốt với các chỉ tiêu cơ bản của hỗn hợp bê tông nhựa
nguôi Qua biểu đồ đường cong cấp phối có thể thấy được
nếu đường cấp phối cốt liệu dịch chuyển ra xa thì độ rỗng
cốt liệu càng lớn và ngược lại
Từ những kết quả thí nghệm với các chỉ tiêu kỹ thuật
trong TCCS 08:2014/TCĐBVN ta thấy được hàm lượng
nhũ tương nhựa đường tối ưu 8% - 8.5% Sự phân tích
dựa trên hỗn hợp bê tông nhựa nguội ở trong tình trạng
bất lợi nhất khi bị nước tác dụng lâu dài Vì thế chỉ tiêu
quan trọng để chọn hàm lượng nhựa tối ưu là độ ổn định
Marshall của mẫu bão hòa nước, tương ứng với hàm
lượng nhựa 8.5%
Hiện nay ở nước ta, công tác xây dựng nông thôn mới
đang được chú trọng Trong đó giao thông nông thôn
đóng vai trò chủ lực- là xương sống để phát triển nèn kinh
tế của nông nghiệp Vì vậy, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng
giao thông nông thôn đang được Nhà nước đặc biệt chú
tâm
Từ trước giờ, mặt đường nông thôn chủ yếu là mặt
đường cấp phối đá dăm, cấp phối thiên nhiên,láng nhựa
hay bê tông xi măng Các mặt đường đó làm cho phương
tiên lưu thông không được êm thuận Và chi phí để xây
dựng mặt đường BTXM là quá đắt Vì vậy cần có một
loại vật liệu mới có ưu thế hơn để thay thế những mặt
đường cũ
Vì những lý do đó mà nhóm đề xuất vật liệu bê tông
nhựa nguội sử dụng nhũ tương phân tích chậm để đưa vào
xây dựng đường mới ở nông thôn vì chất lượng của hỗn
hợp này đảm bảo và giá thành lại không quá cao Mặt
khác phương tiên lưu thông ở nông thôn thấp, vì vậy
không yêu cầu cường độ của BTN nguội quá cao; quá
trình thi công đơn giản, dễ thực hiện, có thể sử dụng nhân
công lao động tại địa phương để thi công
Các cơ quan chức năng cần xem xét, đánh giá và sớm
có quyết định đưa BTN nguội sử dụng nhũ tương phân
tích chậm vào thi công đại trà Bởi vì đây là loại BTN có
giá thành hợp lý vẫn đảm bảo chất lượng và không ảnh
hưởng xấu đến môi trường
5 Kết luận.
5.1 Tổng hợp kết quả:
Tất cả các giá trị của mẫu so sánh 0% cao su và ở hàm
lượng cao su tối ưu điều thỏa mãn tiêu BTN thông
thường
Bảng 5: Bảng so sánh kết quả của BTNCS và BTN
-Thiết lập công thức chế tạo và công nghệ sản xuất bêtông nhựa nguội sử dụng nhũ tương phân tích chậm trong công tác làm mới đường ô tô ta chọn đường cong cấp phối nằm giữa cận trên và cận dưới để thiết kế mẫu vớihàm lượng nước tại lúc đầm nén g= 4.933%, hàm lượng nước i= 6.635 % và hàm lượng nhũ tương nhựa đường axit CSS-1 8.5% Thỏa mãn các chỉ tiêu kĩ thuật trong TCCS 08:2014/TCĐBVN, được thể hiện các biểu đồ mối tương quan giữa hàm lượng nhũ tương nhựa đường với độ ổn định, độ ổn định còn lại, khối lượng thể tích khô, hàm lượng nước hấp thụ, độ rỗng tổng cộng, độ rỗng dư và độ rỗng cốt liệu của hỗn hợp bê tông nhựa nguội
Như vậy đối với những mặt đường có địa hình hiểm trở, lưu lượng xe ít, tải trọng thấp nên dùng hỗn hợp bê tông nguội sử dụng nhũ tương phân tích chậm để tiết kiệm đươc chi phí và giảm ô nhiễm môi trường, nhưng vẫn đạt được yêu cầu về chất lượng
Cần đi Tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần phụ gia tăng dính bám và xi măng đến hỗn hợp bê tông nhựa nguội sử dụng nhũ tương phân tích chậm trong công tác xây dựng mặt đường làm mới.Nghiên cứu chế tạo cấp phối hỗn hợp bê tông nhựa nguội Dmax12.5 chặt, liên tục sửa dụng nhũ tương phân tích chậm trong công tác xây đường ô tô
Tài liệu tham khảo
thi công và nghiệm thu
đá
Torbjörn Jacobson, Per Redelius, Jenny-Ann Östlund.
Thomas Telford Publishing, 2003
kỹ thuật
BTN12,5 0%CS
BTNCS12,5 1,04%CS
Yêu cầu [1], [4],[5]
4
Độ rỗng cốt liệu
14,48 14,37 >13%
5
Độ Rỗng lấp đầy nhựa
66,34 72,16 65-75%
6
Hằn lún vệt bánh xe
1493 2692
>1000(lần/mm)
7 Kéo
uốn 5,90 7,50 >2,8
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 16NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT ĐỘ TIN CẬY PHÂN TÍCH TUỔI THỌ CỦA KẾT CẤU ÁO ĐƯỜNG THIẾT KẾ THEO PHƯƠNG PHÁP CƠ HỌC THỰC
NGHIỆM MEPDG
APPLICATION OF RELIABILITY THEORY TO ANALYSIS THE LIFE-SERVICE
OF FLEXIBLE PAVEMENT BASED ON MECHANISTIC EMPIRICAL PAVEMENT
DESIGN GUIDE METHOD
SVTH: Võ Văn Anh Tuấn (1) , Nguyễn Đăng Huy (2)
(1) Lớp 14X3A, Khoa Xây Dựng Cầu Đường, Trường Đại học Bách Khoa - Đại học Đà
Nẵng;Email: anhtuanltt96@gmail.com , (2) Lớp 14X3A, Khoa Xây Dựng Cầu Đường, Trường Đại học Bách Khoa - Đại học Đà Nẵng;
Email: danghuybkdn96@gmail.com
GVHD: TS Trần Trung Việt (3)
(3) Khoa Xây Dựng Cầu Đường, Trường Đại học Bách Khoa - Đại học Đà Nẵng;
Email: trung-viet.tran@hotmail.com
Tóm tắt: - Nghiên cứu tập trung phân tích các yếu
tố ảnh hưởng của điều kiện khai thác; hằn lún vệt
bánh xe (RD); Nứt (C); chỉ số độ ghồ ghề mặt
đường (IRI) đến tuổi thọ của kết cấu áo đường
(KCAĐ) thiết kế theo phương pháp cơ học thực
nghiệm (MEPDG) Lý thuyết độ tin cậy được sử
dụng để dự báo tuổi thọ của KCAĐ dưới sự thay
đổi ngẫu nhiên của các yếu tố: tính chất cơ lý của
vật liệu, điều kiện khai thác (nhiệt độ T, độ ẩm W)
và yếu tố địa lý trong phương pháp MEPDG Tuổi
thọ của KCAĐ thông qua chỉ số khả năng phục vụ
(PSI) đồng thời khả năng khán hằn lún vệt bánh xe
(HLVBX) cùng chỉ số độ gồ ghề IRI Kết quả phân
tích đã chỉ ra sự ảnh hưởng của nhiệt độ (T) và các
điều kiện khai thác đến tuổi thọ của kết cấu: giảm
từ 15 năm xuống 8 năm khi tăng T =15°C lên 55°C
Trong khi đó khi xét ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu
nhiên, tuổi thọ của KCAD giảm đi 30-50% khi CoV
tăng từ 0.05-0.2
Từ khóa: Tuổi thọ của kết cấu áo đường; Chỉ số
phục vụ kết cấu áo đường (PSI); Phương pháp cơ
học thực nghiệm (MEPDG); Hằn lún vệt bánh xe
(RD); Chỉ số độ ghồ ghề mặt đường (IRI)
Abstract: This study focused on analyzing the
impact of factors following the executive conditions: rutting depth (RD); cracking (C); international roughness index (IRI) to pavement structure based on the Mechanistic empirical pavement design guide method (MEPDG) The reliability theory is used to evaluate a life-service of flexible pavement considerated the variability of materials properties, of executive conditions (temperature T, humidity W) and geographic in MEPDG method The life-service of flexible pavement evaluate based on present serviceability index (PSI), rutting depth (RD) and International roughness index (IRI) Result of this study show that impact of temperature (T) and executive conditions on life-service of flexible pavement are very important: T increase from 15°C to 55°C, this life-service decrease from 15 to 8 years Moreover, this life-service decreases 30-50% within CoV variable from 0.05 to 0.2 in the case of incertain consideration
Key words: Life of pavement structures; Present
serviceability index (PSI); Mechanistic empirical pavement design guide (MEPDG); Rutting Depth (RD); International roughness index (IRI).
1 Đặt vấn đề:
Hình 1: Hư hỏng KCAĐ tại Việt Nam
Khảo sát và đánh giá tuổi thọ của kết cấu áo đường
(KCAĐ) là một trong những nhiệm vụ quan trọng để đưa
ra được lịch trình và giải pháp bảo trì, vận hành để giữ
cho KCAĐ hoạt động trong điều kiện tốt nhất Ở Việt
Nam với sự phát triển không ngừng của khoa học và kỹ
thuật, đời sống và mức sống của nhân dân ngày càng phát
triển kéo theo nhu cầu đi lại của người dân ngày càng cao
Do đó, việc thiết kế, đánh giá đúng tuổi thọ của KCAĐ ngày càng cấp thiết, đảm bảo sự lưu thông hàng hóa, giao thông đi lại một cách tốt nhất cho người dân Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây đã không hợp với xu thế hiện tại như: sử dụng các phương pháp đơn lẻ,thủ công, thiết bị đơn giản, không nhất quán, độ chính xác không cao…vv Để đánh giá trạng thái mặt đường, dự đoán tuổi thọ của kết cấu áo đường, các nghiên cứu trên Thế Giới đều sử dụng một chỉ số dựa trên các giá trị gây hư hỏng mặt đường: độ ghồ ghề, hằn lún vệt bánh xe, nứt, ổ gà
Đó là chỉ số phục vụ mặt đường PSI Đề tài nghiên cứu này đưa ra một phương pháp đánh giá hoàn toàn mới, phù hơp với các điều kiện tại Việt Nam đó là phương pháp ứng dụng mô hình xác suất phân tích độ tin cậy trong dự báo tuổi thọ KCAĐ trên phương pháp cơ học thực nghiệm
MEPDG
Trong nước, việc nghiên cứu này đã từng được thực
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 17SVTH: Võ Văn Anh Tuấn, Nguyễn Đăng Huy; GVHD: Trần Trung Việt
tuổi thọ của KCAD
Hình 10: Ảnh hưởng yếu tố ngẫu nhiên đến tuổi thọ
của KCAD ( CoV=0.2)
Hình 11: Ảnh hưởng CoV các tính chất vật liệu đến
tuoir thọ KCAD
Hình 12 cho ta thấy khi số trục xe tích lũy tăng lên thì
tuổi thọ của KCAD cũng giảm đi: khi N0=110 thì T=12
năm trong khi N0=180 thì T=9 năm
Hình 12: Ảnh hưởng lưu lượng xe N đến tuổi thọ
KCAD (CoV=0.2)
5 Kết luận.
Từ kết quả phân tích trên mô hình xác suất, nghiên
cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của 3 yếu tố chính đó là
điều kiện khí hậu (nhiệt độ), điều kiện vật liệu (modun
đàn hồi các lớp), điều kiện khai thác (tải trọng trục tích
lũy) ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ của công trình Ngoài ra khi xét hệ số thực nghiệm của các lớp vật liệu lớn, xác suất hư hỏng mặt đường do hằn lún vệt bánh xe
có khả năng xảy ra lớn hơn
Dựa trên các biểu đồ, ta có thể thấy được tổ hợp nhiệt
độ cao, mô đun vật liệu thấp, tải trọng trục tích lũy lớn và
hệ số thực nghiệm của các lớp vật liệu lớn ảnh hưởng lớn đến chỉ số phục vụ PSI của kết cấu áo đường, dễ gây
hư hỏng mặt đường trước tuổi thọ thiết kế được dự đoán, tính toán Từ đó cần có biện pháp xử lý, cải thiện thích hợp để hạn chế vấn đề này
Xây dựng mô hình xác suất kết hợp mô hình thí nghiệm xác định các thông số đầu vào, các hệ số thực nghiệm theo phương pháp cơ học thực nghiệm (MEPDG)
áp dụng cho điều kiện Việt Nam để dự báo chính xác tuổi thọ KCAĐ là một trong những việc làm cần thiết và có tính ứng dụng cao trong thực tiễn Bởi thực tế hiện nay có rất nhiều tuyến đường mới chỉ đưa vào khai thác trong thời gian không lâu đã xảy ra hiện tượng hư hỏng do nhiều nguyên nhân khác nhau gây lãng phí, thất thoát kinh tế
Cuối cùng, để cho nghiên cứu được hoàn thiện và ứng dụng rộng rãi, cần có nhiều số liệu so sánh giữa kết quả của mô hình và quan trắc thực tế của các công trình khác nhau
Tài Liệu tham khảo
[1] Nguyen Hoang Long, “Application of Hawkeye insurveying, quality assessment of highway pavement in Vietnam” Transport Journal, 2016
[2] Al-Omari, B and M.I Darter, 1994, Relationshipbetween International Roughness Index and Present Serviceability Rating
[3] W D 0 PATERSON, International RoughnessIndex: Relationship to Other Measures of Roughness and Riding Quality, Transportation Research Record 1084
[4] Hall, K.T., C.E.C Munoz, 1999, Estimation ofPresent Serviceability Index From International Roughness Index, Transportation Research Record 1655, Transportation research Board
[5] Christopher R Bennett, Alondra Chamorro, ChenChen, Hernan de Solminihac, Gerardo W Flintsch, (2007) “Data Collection Technologies for Road Management”
[6] AASHTO 08 Mechanistic Empirical PavementDesign Guide
[7] Guide for M-E Design of New and RehabilitatedPavement Structures, NCHRP, 2004
[8] Estimation of Present Serviceability Index fromInternational Roughness Index KATHLEEN T.HALL AND CARLOS E.CORREA MUNOZ
[9] Calibration of MEPDG performance models forflexible pavement distresses to local conditions of ontario
CoV=0.15
CoV=0.2
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 18NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO CẤP PHỐI HỖN HỢP BÊ TÔNG NHỰA NGUỘI CHẶT
SỬ DỤNG NHŨ TƯƠNG PHÂN TÍCH CHẬM DÙNG TRONG CÔNG TÁC
SỬA CHỮA ĐƯỜNG Ô TÔ
RESEARCH ON MANUFACTURING DENSE COLD ASPHALT MIXTURE USING SLOW
SETTING EMULSION USED IN THE REPAIR OF ROADS
SVTH: Võ Đại Nhật Nam (1) ; Nguyễn Văn Hiệp (2)
(1)Lớp 14X3B,Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng;
Email: nhatnamld15@gmail.com
(2) Lớp 14X3C,Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng;
Email: nguyenvanhiep0353@gmail.com
GVHD : Ths Nguyễn Biên Cương (3) ; Ths Trần Thị Thu Thảo (4)
(3)Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: nbcuong@dut.udn.vn
(4) Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: tttthao@dut.udn.vn
Tóm tắt - Trong đề tài này tác giả đã nghiên cứu chế
tạo vật liệu bê tông nhựa nguội chặt sử dụng nhũ tương
axit phân tích chậm dùng trong công tác sửa chữa đường
ô tô Vật liệu này được chế tạo theo công nghệ trộn nguội
với nhũ tương axit phân tích chậm CSS – 1 Các phân tích
và đánh giá trong quá trình thực hiện đề tài kết hợp với
kết quả nghiên cứu sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng thể về
các mối tương quan giữa các chỉ tiêu kỹ thuật của loại bê
tông nhựa nguội có cỡ hạt lớn nhất danh định dmax 19
Mục tiêu của đề tài nhằm tạo ra công thức chế tạo hỗn
hợp bê tông nhựa nguội đáp ứng về các chỉ tiêu kỹ thuật,
đưa ra đánh giá để thấy được tiềm năng của loại vật liệu
này Ngoài ra, kết quả nghiên cứu là cơ sở để triển khai
những nghiên cứu sâu hơn về bê tông nhựa nguội, nhằm
làm rõ những đặc điểm của loại bê tông nhựa nguội này,
từng bước ứng dụng rộng rãi ở Việt Nam
Từ khóa - bê tông nhựa nguội; bê tông nhựa nguội
chặt; nhũ tương axit phân tích chậm CSS – 1; công nghệ
trộn nguội; cỡ hạt lớn nhất danh định; chỉ tiêu kỹ thuật
Abstract - In this subject the author has researched on
manufacturing the material dense cold asphalt mixture using cationic slow setting emulsion used in the repair of roads This material was produced by cold mix technology with cationic slow setting emulsion CSS – 1 The analysis and reviews in the process of implementing the subject associated with the research results will give
us an overview of the correlations between the technical criteria of cold mix asphalt type with nominal maximum size of aggregate dmax 19 The research subject aims to create a formula for manufacuring cold mix asphalt to meet the technical criteria, give reviews to see the potential of this material In addition, the research results are the basis for implementing further studies on cold mix asphalt, to clarify the characteristics of this type of cold mix asphalt, step by step widely applied in Vietnam
Key words - cold mix asphalt; dense cold asphalt
mixture; cationic slow setting emulsion CSS – 1; cold mix technology, nominal maximum size of aggregate;
1 Đặt vấn đề
Trước đây, do công nghệ lạc hậu, việc thi công sửa
chữa đường ở Việt Nam vừa kéo dài, vừa gây ô nhiễm và
đôi khi gây ách tắc giao thông Phương pháp thi công chủ
yếu công nghệ cũ là đốt nấu nhựa đường ngay hiện
trường Nhược điểm của cách làm này là thời gian thi
công dài, phải đốt lửa nấu nhựa nên gây nguy hiểm và ô
nhiễm môi trường, thời gian giải phóng mặt bằng lâu Để
khắc phục nhược điểm trên, các công ty Việt Nam đã tìm
tòi và áp dụng nhiều công nghệ mới, vừa rút ngắn thời
gian thi công vừa nâng cao chất lượng, bảo đảm an toàn
cho người và xe lưu thông trên đường Một trong những
tiêu biểu là loại bê tông nhựa nguội sử dụng những chất
liên kết là nhũ tương nhựa đường Công nghệ sửa chữa
bằng vật liệu này được ra đời và đã áp dụng tại Pháp và
Mỹ từ những năm 1920 Kỹ thuật hỗn hợp bê tông nhựa
nguội đã được sử dụng ở một số quốc gia và khu vực bao
gồm châu Âu, Mỹ, Canada, New Zealand, Nam Phi trong
gần một thế kỷ Công nghệ trộn hỗn hợp nguội cho đến
nay đã tiết kiệm được 13.396 tấn khí thải CO2, 0,913 tấn
Methane và 183 tấn CO do giảm tiêu thụ nhiên liệu Năm
2011, vật liệu được áp dụng nổi bật có nhiều ưu điểm
vượt trội, có tên gọi là Carboncor Asphalt có nguồn gốc
từ Nam Phi Ưu điểm nổi bật nhất của loại vật liệu này là
sử dụng dung môi là nước, nên có thể thi công trong điều kiện trời mưa nhỏ, phương pháp thi công đơn giản, năng suất cao, giảm nhân công, tiết kiệm chi phí Đặc biệt là thời gian đông kết vật liệu trong khoảng từ 2 đến 4 giờ nên rút ngắn thời gian giải phóng mặt đường và chủ động trong thi công Tuy nhiên, phương pháp này giá thành cao
do một số phụ gia dùng cho việc sản xuất Carboncor Asphalt vẫn đang phải nhập khẩu từ Nam Phi Cho đến năm 2014, bộ Giao thông vận tải đã ban hành tiêu chuẩn
cơ sở về bê tông nhựa nguội sử dụng nhũ tương nhựa đường và nhựa lỏng Do đó, nhóm đã chọn đề tài này để nghiên cứu thử nghiệm, kế thừa những ưu điểm của Carboncor Asphalt Đưa vật liệu là nhũ tương axit phân tích chậm vào sản xuất bê tông nhựa nguội nhằm sửa chữa các mặt đường hư hỏng, nứt gãy mang lại hiệu quả
về chất lượng cũng như giải quyết vấn đề kinh tế, đồng thời góp phần giải quyết bài toán bảo vệ môi trường
Nhũ tương nhựa đường gồm hai chất lỏng ( nhựa đường và nước) không hòa tan lẫn nhau mà do sự phân tán của chất lỏng này vào trong chất lỏng kia để tạo thành những giọt ổn định nhờ sự có mặt của chất nhũ hóa có hoạt tính bề mặt Trong đề tài sử dung nhũ tương axit
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 19Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ XVI-2019, Khoa XD Cầu đường - Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
3.2.5 Độ rỗng tổng cộng
Hình 10: Biểu đồ tương quan giữa độ rỗng tổng cộng và
hàm lượng nhũ tương nhựa đường
Nhận xét: Độ rỗng tổng cộng giảm dần theo chiều
tăng của hàm lượng nhựa
Phân tích: Độ rỗng tổng cộng là độ rỗng bao gồm cả
không khí và nước Mà độ rỗng chỉ có không khí là độ
rỗng dư nên nước hấp phụ và nước trong nhũ tương tạo
nên một phần độ rỗng của hỗn hợp
3.2.6 Hàm lượng nước hấp phụ
Hình 11: Biểu đồ tương quan giữa hàm lượng nước hấp phụ và
hàm lượng nhũ tương nhựa đường
Nhận xét : Hàm lượng nước hấp phụ giảm dần theo
chiều tăng của hàm lượng nhựa
Phân tích: Khi tăng hàm lượng nhựa thì độ rỗng dư
càng giảm nên lượng hấp phụ nước càng giảm
4 Kết luận
- Với điều kiện vật liệu địa phương và điều kiện chế bị
mẫu tại phòng thí nghiệm thì hầu như các giá trị về chỉ
tiêu kỹ thuật của BTNNC 19 đều thỏa mãn tiêu chuẩn của
bê tông nhựa nguội
- Kết quả khảo sát với BTNNC 19 cho hàm lượng nhũ
tương nhựa đường tối ưu là 8,65% cho được hàm lượng
nhựa đường gốc 5,01%
- Mẫu BTNNC 19 sử dụng nhũ tương axit phân tích
chậm có tiềm năng lưu trữ lâu nên cân nhắc ứng dụng
trong việc sửa chữa đường ô tô nhằm khắc phục những hư
hỏng ở địa phương Ưu điểm tiềm năng của sản phẩm an
toàn, kinh tế, dễ thi công sử dụng các thiết bị đơn giản, ít
nhân công, linh hoạt trong các ứng dụng khác nhau
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Có nhiều vấn đề ảnh
hưởng trực tiếp đến độ dính bám đá với nhựa cũng như độ
ổn định của vật liệu nhưng chưa được nghiên cứu cần được làm sáng tỏ như:
+ Nghiên cứu sự ảnh hưởng của phụ gia tăng dính bámđối với hỗn hợp bê tông nhựa nguội dùng trong sửa chữa đường ô tô và xây dựng đường
+ Nghiên cứu sự ảnh hưởng của xi măng portland đốivới hỗn hợp bê tông nhựa nguội dùng trong sửa chữa đường ô tô và xây dựng đường
+ Nghiên cứu sử ảnh hưởng của phụ gia tăng dính bám
và xi măng portland đối với hỗn hợp bê tông nhựa nguội dùng trong sửa chữa đường ô tô và xây dựng đường
+ Phân tích đánh giá tiềm năng ứng dụng sửa chữađường của bê tông nhựa nguội sử dụng nhựa lỏng và bê tông nhựa nguội sử dụng nhũ tương axit phân tích chậm
Tài liệu tham khảo
[1] Nhũ tương nhựa Bitum – Đại cương và ứng dụng – Nguyễn Xuân Mẫn
[2] TCCS 088:2014/TCĐBVN Hỗn hợp bê tông nhựa nguội – Yêu cầu thi công và nghiệm thu
[3] TCVN 8860-5:2011 Bê tông nhựa – Phương pháp thử - Xác định tỷ trọng khối, khối lượng thể tích của bê tông nhựa đã đầm nén.
[4] Các bài báo nghiên cứu khoa học của sinh viên khóa 10X3 và 13X3 [5] A fundamental research on cold mix asphalt modified with cementitious materials - Xing Fang
[6] Energy Conservation using Cold Mix Technology in Road Construction-A Review -S.S Goliya, Gauri R Mahajan and Y P Joshi
[7] 1h/
Trang 20NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO BỘ ĐO ỨNG SUẤT - BIẾN DẠNG CẢNH BÁO SỚM
PHÁ HOẠI KẾT CẤU CÔNG TRÌNH
THE RESEARCH TO MANUFACTURE STRESS-DEFORMATION MEASUREMENT DEVICE AND EARLY WARNING OF THE CONSTRUCTION OF DISABILITY
SVTH: Phan Công Danh (1) ; Lê Viết Thành (2)
(1) Lớp 14X3A, Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa; Email: Pcdanh208@gmail.com (2) Lớp 14X3B, Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa; Email: vietthanh14x3b@gmail.com
GVHD: PGS.TS Châu Trường Linh (3) ; ThS Nguyễn Thu Hà (4)
(3 )(4) Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa; Email: chau-linh@dut.udn.vn, ntha@dut.udn.vn
Tóm tắt - Hiện nay, trên thế giới có nhiều hãng chuyên cung
cấp các thiết bị đo, quan trắc biến dạng - ứng suất, vết nứt công
trình với tính năng cao và được thương mại hoá như các thiết bị
TDS 303, UCAM-60B, P3 STRAIN INDICRATOR , tuy nhiên giá
thành rất cao so với nhu cầu để có thể áp dụng phổ biến cho hầu
hết các công trình và thường chỉ được sử dụng cho công trình có
quy mô lớn Đề tài nghiên cứu chế tạo bộ đo ứng suất - biến dạng,
cảnh báo sớm phá hoại kết cấu công trình bao gồm: thiết bị được
chế tạo để đo biến dạng, lún, phát hiện hiện vết nứt, nhiệt độ môi
trường bằng cảm biến chuyên dụng Sử dụng WebServer để nhận
và theo dõi dữ liệu đo cập nhật theo thời gian Các vị trí quan trắc
được đánh dấu trên bản đồ, tại mỗi vị trí đo hiển thị bảng số liệu,
biểu đồ dữ liệu quan trắc theo thời gian Khi giá trị đo được vượt
ngưỡng quy định sẽ hiển thị cảnh báo ngay trên giao diện Web từ
đó có thể nhanh chóng biết được vị trí và mức độ nghiêm trọng
của sự cố Kết quả đo có thể lưu lại trực tiếp để làm cơ sở, dữ liệu
cho các đơn vị thiết kế, thi công, quản lý và khai thác, đề xuất sớm
các giải pháp nhằm tăng tính an toàn và tăng tuổi thọ cho công
trình Hệ thống quan trắc và thiết bị đo mà nhóm nghiên cứu đã
xây dựng, chế tạo đạt được kết quả khả quan với độ chính xác
tương đối cao, giá thành phù hợp với việc có thể áp dụng phổ biến
cho nhiều loại công trình khác nhau, thiết bị và dữ liệu đo được
quản lý thông qua mô hình Internet of Things, có ý nghĩa trong việc
góp phần xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thông minh, an toàn
và tiết kiệm chi phí quan trắc sức khỏe công trình
Từ khóa - Thiết bị đo, biến dạng, ứng suất, vết nứt, theo dõi
và quan trắc, Web Server, bản đồ, cảnh báo sớm, tuổi thọ công
trình, Internet of Things
Abstract - Currently, the world has many companies dedicated
to providing test equipment, deformation monitoring - stress, cracks works with highly specialized and commercialized as devices TDS
303, UCAM-60B, P3 STRAIN INDICRATOR , but the price is very high compared to the needs to be applied for the most popular works and often only used for large-scale works Research manufacture of measuring stress - deformation, early warning destructive project structure include: devices are designed to measure the deformation, detect cracks, ambient temperature by sensing specialist use Using a web server to identify and track the measured data are updated from time to time The monitoring location is marked on the map, at each measurement position display tables, graphs monitoring data over time When the measured value exceeds the defined threshold will display a warning on the Web interface from which to quickly know the location and severity of the problem Measurement results can be saved directly as a basis, the data for the unit design, construction, management and exploitation, proposed early solutions to increase safety and longevity of building Monitoring systems and instrumentation that the team has developed, manufactured achieve positive results with an accuracy of a relatively high price
in accordance with the applicable common for a variety of other works together, device and data management measured through Internet of Things model, meant to contribute to building infrastructure systems smarter and safer
Key words - Measurement device, deformation, tress, crack,
monitoring, Web Server, map, early- warning, longevity of buildings, Internet of Things
1 Đặt vấn đề
Biến dạng, lún, nứt là những nhân tố gây nên các sự cố
phổ biến trong các công trình xây dựng Khi các nhân tố
này phát triển nhanh và ảnh hưởng từ nhiều nguyên nhân
khác nhau như tĩnh tải, hoạt tải, kết hợp với điều kiện khí
hậu nhiệt đới gió mùa, biên độ nhiệt lớn, co ngót… sẽ tác
động xấu đến kết cấu bên trong làm giảm khả năng chịu
lực Nếu các hiện tượng này diễn ra trong thời gian dài và
không có biện pháp xử lý có thể gây sụp đổ công trình Đề
tài nghiên cứu chế tạo bộ thiết bị đo biến dạng, nứt, kết hợp
với hệ thống quan trắc theo mô hình Internet of Things
giúp người dùng dễ dàng hơn trong việc theo dõi, thu thập
dữ liệu thường xuyên, liên tục, đặc biệt có thể sử dụng cho
nhiều loại công trình khác nhau và giảm chi phí quan trắc
sức khỏe công trình
2 Lý thuyết về biến dạng, lún, nứt và các thiết bị quan
trắc sức khỏe công trình
2.1 Biến dạng, lún, nứt công trình
Biến dạng (ε) là tỷ số giữa độ biến thiên kích thước (l)
và kích thước ban đầu (L), ε=l/L Từ đó xác định được ứng
suất (σ) là đại lượng biểu thị nội lực phát sinh trong vật thể
biến dạng, có giá trị bằng tỷ số giữa lực tác dụng (F) và tiết
diện (A), σ=F/A Ở trạng thái đàn hồi, ứng suất và biến
dạng có quan hệ: σ=E.ε, với E là module đàn hồi của vật liệu Từ mối quan hệ trên, khi xét vật liệu làm việc trong giới hạn đàn hồi có thể dễ dàng tính được ứng suất, lực kéo
từ các thông số biến dạng, tiết diện và module đàn hồi vật liệu
Hình 1: Quan hệ giữa ứng suất - biến dạng của bê tông và
cốt thép [1]
Nứt kết cấu bê tông cốt thép thường gây lo ngại cho chủ đầu tư và người sử dụng Các vết nứt ảnh hưởng đến sự an toàn của kết cấu, làm giảm tuổi thọ của công trình, cần xử
lý hay gia cường để tránh không xảy ra các sự cố công trình [3] Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5574: 2012 [2] kiến nghị
bề rộng khe nứt (an) thẳng góc với trục dọc của cấu kiện xác định: 𝑎𝑛= 𝐾𝐶η𝜎𝑎
𝐸(70 − 20𝑃)√𝑑3 Trong đó: k=1,0;C=1,0 (đối với tải trọng tác dụng ngắn hạn), C= 1,5 (đối
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 21Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ XVI-2019, Khoa XD Cầu đường - Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
Hình 19: Bề rộng vết nứt theo thời gian trên WebServer
Hình 20: Bảng dữ liệu đo theo thời gian trên WebSever
Hình 21: Biểu đồ độ rộng vết nứt theo thời gian
Nhận xét: Trong quá trình đo đạc và đọc số liệu nhóm
nghiên cứu đã kết hợp theo dõi tình hình lưu lượng xe tại
các thời điểm đo và nhận thấy rằng tại khoảng thời điểm
vào buổi sáng từ 8h30 - 9h30 lưu lượng xe tải trọng lớn
nhiều (thường là các xe chở vật liệu xây dựng, container)
Biến dạng tại vị trí cách đỉnh tường chắn 1 (m) có độ mở
rộng vết nứt lớn nhất là 1,852 (mm) và vị trí cách chân
tường chắn 1,2 (m) có độ mở rộng vết nứt lớn nhất là 0,989
(m) Vị trí đỉnh tường có biến dạng lớn nhất là hợp lý vì
hoạt tải phân bố có giá trị lớn và tại đó chịu tác động của
lực xung kích giữa hai kết cấu có độ cứng khác nhau
4.2.2 Công trình cầu Nam Ô (cầu cũ)
Hình 22: Lắp đặt thiết bị đo và kết nối với nguồn
Hình 23: Biểu đồ biến dạng trên Web Sever
Hình 24: Bảng số liệu dữ liệu đo trên WebSever
Hình 25: Biểu đồ biến dạng theo thời gian
Hình 26: Biểu đồ ứng suất theo thời gian
Nhận xét: Công trình là cầu BTCT dự ứng lực, vì vậy khi có tải trọng xe, dầm cầu xuất hiện ứng suất kéo lớn làm tăng độ rộng vết nứt, khi xe đi qua ứng suất giảm và làm vết nứt thu hẹp lại, tuy nhiên nếu không quan trắc trong thời gian dài thì vết nứt sẽ nhanh chóng phát triển và gây ảnh hưởng đến kết cấu bê trong của dầm cầu, gây nguy hiểm, nhóm nghiên cứu đã theo dõi lưu lượng xe đi qua vào các thời điểm mà vết nứt tăng và nhận thấy độ mở rộng vết nứt phát triển khi có tải trọng xe lớn đi qua, theo tiêu chuẩn
về ngưỡng giới hạn nứt cho kết cấu BTCT dự ứng lực thì vết nứt tối đa không được vượt quá 0,1 đến 0,2 (mm) Vì
0.989
0.9220.889
0.8390.8120.805
0.8030.806
1.…
1.412
1.361.296
1.248
1.2721.272
1.2921.341.366
3.664.52
11.49
0.19
4.494.655.38
0.10 2.10 4.10 6.10 8.10 10.10 12.10
Trang 22vậy trên Web Server hiển thị cảnh báo khi có thời điểm vết
nứt phát triển đến giá trị 0,396 (mm), kết quả đo trên có thể
là vết nứt bề mặt chưa đi sâu và trong bản thân kết cấu, tuy
nhiên cần theo dõi và có biện pháp khắc phục
5 Kết luận
Đề tài đã chế tạo được thiết bị đo biến dạng, nứt của kết
cấu công trình và xây dựng hệ thống quan trắc kết hợp giữa
thiết bị đo với Web Server
Qua thí nghiệm kiểm chứng thiết bị tự chế tạo với thiết
bị của các hãng chuyên dụng cho thấy, bộ thiết bị tự chế
cho số liệu đo đạc khá sát với thiết bị TDS 303 Kết quả đo
từ thí nghiệm trong phòng và hiện trường phù hợp với quy
luật lý thuyết và được đánh giá có độ chính xác cao
Sự làm việc đồng bộ giữa thiết bị đo và hệ thống quan
trắc giúp người dùng dễ dàng theo thõi thường xuyên, kết
quả đo được cập nhật liên tục, đầy đủ và hiển thị trực quan,
nhằm giúp người dùng đánh giá trực tiếp được diễn biến
làm việc của kết cấu và cảnh báo sớm phá hoại kết cấu công
trình
Với yêu cầu là độ chính xác cao hơn và quan trắc được
nhiều thông số hơn, nhóm nghiên cứu sẽ hướng đến việc
hoàn thiện và bổ sung các tính năng cho thiết bị như: đo
nhiệt độ môi trường, đo lún, đo chuyển vị lớn cho kết cấu,
giúp người dùng có thể thu thập đầu đủ các số liệu để đánh
giá, theo dõi sự làm việc của công trình một cách chính xác
hơn nữa
Tài liệu tham khảo
[1] Phạm Văn Hội (chủ biên)-Nguyễn Quang Viên-Phạm Văn Tư-Lưu
Văn Tường, Kết cấu thép Cấu kiện cơ bản, Nhà xuất bản Xây dựng,
Năm 2012
[2] Tiêu chuẩn quốc gia, TCVN 5574:2012 Kết Cấu Bê Tông Và Bê
Tông Cốt Thép-Tiêu Chuẩn Thiết Kế, Năm 2012
[3] Đặng Văn Trung, Khống chế bề rộng vết nứt của dầm bê tông theo
các tiêu chuẩn thiết kế, Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật Đại học BKĐN,
Năm 2013
[4] Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng - Bộ Xây dựng, TCVN
9381:2012 Hướng dẫn đánh giá mức độ nguy hiểm của kết cấu nhà,
Năm 2012
[5] Tiêu chuẩn nghành, 22TCN 272-05 Tiêu chuẩn thiết kế cầu, Bộ Giao
thông Vận tải, Năm 2005
[6] Nhà xuất bản xây dựng, quy phạm anh quốc BS 8110:1997 Kết cấu
bê tông và bê tông cốt thép, Năm 1997
[7] Karl Hoffmann, An introduction to Measurements using Strain
Gages,Publisher: Hottinger Baldwin Messtechnik GmbH, Darmstadt,
Year 1989
[8] Tokyo Sokki Kenkyuio Co., Ltd, TML Strain Gauge Catalog, Year
2017
[9] W3School Online Web Tutorials, https://www.w3schools.com
[10] 525+ Free HTML CSS website Templates on Templatemo,
https://templatemo.com
[11] Leaflet a JavaScript library for interactive maps, https://leafletjs.com
[12] Beautiful HTML JavaScript Charts, https://canvasjs.com
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 23Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ XVI-2019, Khoa XD Cầu đường - Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỄN HỆ THỐNG CÂN ĐỘNG CẦU
REASECH ON BRIDGE WEIGH IN MOTION SYSTEM
SVTH: Lê Thạc Cường 1 ; Trần Thị Loan 2 ; Phạm Minh Đức 3
(1)Lớp 14X3A, Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email:
thaccuong95@gmail.com (2) Lớp 14X3A, Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email:
loantran0195@gmail.com (3) Lớp 14X3B, Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email:
minhducx3k@gmail.com
GVHD: TS Nguyễn Lan 4
(4)Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: nlan@dut.udn.vn
Tóm tắt: Để kiểm soát tải trọng lưu hành trên đường bộ
thường sử dụng nhiều biện pháp như trạm cân tĩnh, trạm
cân động đặt trên đường, trạm cân di động Sử dụng các
trạm cân như trên thường yêu cầu phải dừng xe (cân tĩnh,
cân di động) hoặc chạy với tốc độ thấp Trạm cân động đặt
trên đường sử dụng các cảm biến đo lực theo dãy có chi phí
khá đắt và các tài xế biết có thể tránh né trạm cân Hiện nay
nhờ sự phát triển của công nghệ cảm biến và giải các bài
toán ngược trong cơ học, hệ thống cân động cầu (BWIM)
đã được phát triển và áp dụng ở Châu Âu với chi phí khá
thấp Hệ thống BWIM chỉ sử dụng cảm biến biến dạng
động đặt dưới dầm cầu, các xe chạy qua gây ra phổ biến
dạng động tại các vị trí đã xác định trước Từ kết quả phân
tích ngược phổ biến dạng động này có thể nhận dạng được
tải trọng cũng như tốc độ xe qua cầu Bài báo trình bày kết
quả nghiên cứu bước đầu về cả phần cứng, phần mềm của
một hệ thống cân động cầu lắp đặt tại các cầu kết cấu nhịp
giản đơn để nhận dạng tải trọng xe qua cầu từ phổ biến
dạng động thu được Kết quả nhận dạng tải trọng xe phục
vụ quản lý, kiểm soát tải trọng lưu hành trên đường bộ hiện
nay tại Việt Nam
Từ khóa: Cân động cầu, nhận dạng tải trọng, kiểm soát tải
trọng, phổ biến dạng, cảm biến biến dạng
Abstract: In order to control the load capacity circulating
on the road, various measures such as placing static weigh station, weigh-in-motion station and portable weigh station
on the road are commonly used People are often required
to stop the vehicle (static weigh station, portable weigh station) or run at low speed when using the mentioned weigh stations The weigh in motion station on the road uses range-based force sensors that are quite expensive and usually, drivers know that they could avoid these weigh stations Currently, thanks to the development of sensor technology and solving inverse problems in mechanics, the bridge weigh in motion system (BWIM) has been developed and applied in Europe at a relatively low cost The BWIM system uses only strain gauge located under bridge girders, where passing cars causing strain spectrum
at predetermined locations According to the reverse analysis results of this strain, it is possible to identify the load capacity as well as the vehicle’s speed across the bridge This paper introduce initially study results of the hardware and software of a bridge weigh in motion system installed at simple span structure bridges to identify vehicle’s load capacity across the bridge from the obtained strain spectrum The result of vehicle weight recognition will manage and control the circulating load capacity on the current roads in Vietnam
Keywords: weigh in motion, weight recognition, control
load, strain spectrum, strain gauge
1 Đặt vấn đề
Thuật ngữ cân động xe (Weigh in motion, WIM) được định
nghĩa trong ASTM E 1318-09 [1] là quá trình ước tính trọng
lượng tổng phương tiện di chuyển và phần trọng lượng đó
được mang theo bởi mỗi bánh xe, trục hoặc nhóm trục hoặc
kết hợp của chúng, bằng cách đo và phân tích lực động lốp
xe Các thành phân của một hệ thống WIM gồm: Cảm biến
WIM được gắn trên mặt đường, mặt cầu hoặc dưới kết cấu
cầu để nhận dạng trọng lượng và phân loại xe; hệ thống thu
thập tín hiệu và điều khiển (datalogger) để thu thập các tín
hiệu đầu ra từ cảm biến, lưu trữ và hiện thị dữ liệu; hạ tầng
dây dẫn, hộp kết nối, trụ đở; các thiết bị hổ trợ khác như
nguồn cấp cho hệ thống, các thiết bị truyền thông để truyền
dữ liệu đi xa và hệ thống phần mềm cài đặt trong hệ thống
WIM để xử lý tín hiệu và định dạng lưu trữ dữ liệu
Hệ thống cân động cầu (Bridge WIM) thường sử dụng các
cảm biến biến dạng gắn dưới bản mặt cầu hoặc các dầm cầu, các cảm biến trong hệ thống B-WIM không tiếp xúc trực tiếp với bánh xe nên chỉ áp dụng cho một số dạng cầu giản đơn và điều kiện giao thông nhất định Hệ thống BWIM quan trắc biến dạng uốn kết cấu cầu do tải trọng
xe chạy qua Phổ biến dạng này được phân tích để ước tính tải trọng xe, tải các trục xe chạy qua cầu Khoảng cách trục, chiều dài xe, tốc độ xe cũng có thể ước tính từ phổ biến dạng đo được Ưu điểm của hệ thống B-WIM là
có hệ thống thiết bị có thể xách tay, lắp đặt và tháo dỡ dể dàng có thể dùng cho nhiều kết cấu khác nhau; dữ liệu thu được có thể dùng để đánh giá sự làm việc của kết cấu; giá thành hệ thống B-WIM rẻ hơn nhiều so với hệ thống WIM lắp trên mặt đường Nhược điểm của hệ thống B-WIM là khi tháo dở và lắp cho cầu khác cần phải hiệu chuẩn lại
hệ thống, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến biến dạng thu
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 24Hình 8: Nhận dạng và đếm số lượng xe
3.3.2 Chương trình nhận dạng biển số xe
Để nhận dạng biển số xe qua cầu từ dữ liệu camera, xây
dựng một phần mềm viết bằng ngôn ngữ lập trình
Labview theo sơ đồ khối ở hình 9
Hình 9: Sơ đồ chương trình nhận dạng biển số xe
Hình 10: Phần mềm và thiết bị
Hình 11: Kết quả nhận dạng biển số xe ở trạng thái tĩnh
4 Kết luận
Từ kết quả xây dựng mô hình cầu, xe, hệ thống B-WIM
và kết quả thực nghiệm trên mô hình cho nhận xét như sau:
- Hệ thống phần mềm B-WIM đã xây dựng theo thuậttoán của Moses có kết quả chẩn đoán tổng trọnglượng xe từ phổ biến dạng thu được trong dầm cầugiản đơn nhịp nhỏ có sai số nhỏ hơn 10% đáp ứng yêucầu loại I theo ASTM 1318E-09
- Phần mềm Matlab đã xây dựng có thể phân tích vàđếm xe qua cầu từ dữ liệu camera
- Phần mềm nhận dạng biển số xe từ dữ liệu ảnh tĩnhcho kết quả phù hợp Tuy nhiên nhận dạng biển số xe
từ dữ liệu camera (video) cần được tiếp tục hoàn thiệnthêm
Một hệ thống B-WIM hoàn chỉnh có thể lắp đặt trên cầu thực tế sẽ được các tác giả tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh trong thời gian đến
Tài Liệu Tham Khảo :
1 ASTM E1318 – 09, “Standard Specification for Highway Weigh-In-Motion (WIM) Systems with User Requirements and Test Methods”, 2009.
2 Moses, F., “Weigh-in-motion system using instrumented bridges”, Transportation Engineering Journal (ASCE)
4 O’Brien, E.J and Žnidarič, A, “Weighing-in-motion of axles and vehicles for Europe (WAVE)”, Report of work
package 1.2, Bridge WIM Systems Zavodzagradbenistvo, Slovenia, 2001
5 O’Brien, E., O’Donovan & Roughan, “Improving Bridge Weigh-in- Motion Technologies” , 2014.
6 WAVE “Weigh-in-motion of Axles and Vehicles for Europe”, General Report, LCPC, 2001.
7 Yang Yu, CS Cai and Lu Deng State-of-the-art review
on bridge weigh-in-motion technology Advances in
Structural Engineering,Vol 19(9) 1514–1530,2016
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 25Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ XVI-2019, Khoa XD Cầu đường - Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
NGHIÊN CỨU TÍNH TOÁN CHỈ SỐ ĐỘ TIN CẬY CỦA CẦU DẦM THÉP LIÊN HỢP VỚI HỆ SỐ TRIẾT GIẢM TẢI TRỌNG 0.65 HL93 VÀ 0.5 HL93
RESEARCH RELIABILITY INDEX OF COMPOSITE STEEL GIRDER BRIDGES WITH
LOAD REDUCTION FACTOR 0.65 HL93 AND 0.5 HL93 – CASE STUDY
SVTH: Nguyễn Phước Duy (1) ; Trần Hữu Xuân (2) ;
(1)Lớp 14X3C,Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng ;Email:duynguyen8996@gmail.com (2 Lớp 14X3B,Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: huuxuan14x3b@gmail.com
GVHD: TS Nguyễn Văn Mỹ (3) ; Đỗ Việt Hải (4)
(3)Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: : nvmy@dut.edu.vn
(4)Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: dvhai@dut.edu.vn
Tóm tắt: Trong các kết cấu cầu, những tham số về
vật liệu, tải trọng, sơ đồ kết cấu, … là các đại lượng ngẫu
nhiên và ảnh hưởng đến xác suất phá hoại của kết cấu Sự
phá hoại này được thể hiện bằng chỉ số độ tin cậy Bài báo
này tập trung vào việc phân tích độ tin cậy của cầu dầm
thép liên hợp được có xét đến tính không chắc chắn của
tĩnh tải, hoạt tải, mặt cắt hình học, sức kháng bê tông
cường độ thép,… Kết quả tính toán cho thấy rằng có sự
khác nhau đáng kể giữa những chỉ số độ tin cậy đối với
mômen và lực cắt Sự khác biệt đó cho thấy sự không
đảm bảo về sức kháng của tiết diện dầm thép liên hợp dẫn
đến phá hoại kết cấu Bài báo cũng đề xuất sự thay đổi tiết
diện dầm thép tối thiểu trong thiết kế lực cắt để tối ưu hóa
thiết kế của cầu dầm thép liên hợp theo xu hướng phân
tích độ tin cậy
Từ khóa: cầu thép liên hợp, chỉ số đô tin cậy, tính
không chắc chắn, xác suất phá hoại, hàm mật độ xác suất
Abstract: In steel bridges, the parameters such as material, geometry and loads are random variables These random variables have influence on the probability of failure of the structures This failure is performed by the reliability index This paper will focus on the reliability analysis of the composite steel girder that the computation
is based on the uncertainties of dead loads, live loads, sectional geometries, compressive strength and yield stress for reinforcing steel The results of computation show that there are significantly differences between the moment reliability indices and shear reliability indices of the composite steel girder These differences clearly indicate the uncertainty about the resistance of the cross-section of the composite steel girder leads to structural damage The paper also recommends the change of minimum steel section in shear design in order to optimize the composite steel girder bridges to design in term of reliability analysis
Keywords: composite steel girder bridges, reliability
index, uncertainties, the probability of failure, probability density function
1 Đặt vấn đề
Các tiêu chuẩn thiết kế cầu hiện nay như 22TCN
272-05 và TCVN11823:2017 được xây dựng dựa theo tiêu
chuẩn AASHTO LRFD 1998 (thiết kế cầu theo hệ số sức
kháng và tải trọng) với chỉ số an toàn mục tiêu (target)
theo các trạng thái giới hạn (TTGH) là như nhau và bằng
βT =3,5
Khác với AASHTO LRFD, hai tiêu chuẩn 22TCN
272-05 [3] và TCVN11823:2017 [4] có bổ sung thêm hệ
số triết giảm hoạt tải thiết kế là 0.65HL93 và 0.5HL93 đối
với cầu thuộc tuyến đường cấp IV và thấp hơn Vấn đề
đặt ra: nếu cùng với hệ số sức kháng và tải trọng như
trong tiêu chuẩn thì thiết kế có đạt được độ tin cậy mục
tiêu βT =3,5 đối với hoạt tải thiết kế triết giảm 0.65HL93
và 0.5HL93 hay không
2 Cơ sở lý thuyết
2.1 Chỉ số độ tin cậy
Xác suất phá hoại của kết cấu được đo bằng chỉ số độ
tin cậy β Độ tin cậy là khả năng (đo bằng xác suất) của
kết cấu đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong điều kiện xác
định ứng với tuổi thọ thiết kế dự định Nó bao gồm cái
yếu tố quan trọng sau:
+ Yêu cầu (khả năng làm việc) cho trước - xác định
qua sự phát hoại kết cấu;
+ Khoảng thời gian - đánh giá bằng tuổi thọ phục vụ
yêu cầu T;
+ Mức độ tin cậy - đánh giá bằng xác suất hỏng Pf;+ Điều kiện sử dụng - giới hạn các yếu tố đầu vào làcác biến ngẫu nhiên
2.2 Phương pháp tính độ tin cậy (β)
2.2.1 Hàm trạng thái giới hạn (limit state function)
Phân tích độ tin cậy được hiện cho các hàm trạng thái giới hạn cho các loại cấu trúc và các thành phần tải trọng Trong quá trình hiệu chỉnh, hiệu ứng tải trọng và sức kháng của vật liệu là các biến ngẫu nhiên Hàm trạng thái giới hạn sẽ biểu thị ranh giới giữa an toàn và phá hủy/hư hỏng của kết cấu:
,
g R Q R Q (2-1)
trong đó R và Q đại diện cho sức kháng kết cấu và
hiệu ứng tải trọng Nếu g 0 thì kết cấu không an toàn
và ngược lại Xác suất phá hoại kết cấu Pf Hình 1 tương
ứng với xác suất xảy ra sự kiện không an toàn được xác định bởi [1]:
Trang 26Hình 4: Sơ đồ khối tính độ tin cậy bằng MATLAB
Kết quả tính toán độ tin cậy của dầm thép liên hợp
với chiều dài nhịp 9m, 18m, 27m, và 36m được thể hiện ở
Bảng 3 thể hiện kết quả tính toán độ tin cậy của dầm
thép liên hợp với chiều dài nhịp 9m, 18m, 27m, và 36m
Từ đó, có thể nhận thấy rằng:
(1) Chỉ số độ tin cậy giảm dần khi thực hiện tính toán
lần lượt cho hệ số HL93 đến 0,65HL93 và sau cùng là
0,5HL93 Chỉ số độ tin cậy sau khi tính toán chênh lệch
nhau nhiều, đối với thay đổi từ HL93 sang 0,65HL93 xác
suất phá hoại tăng 6,8 lần, từ HL93 sang 0,5HL93 xác
suất phá hoại tăng 10 lần và từ 0,65HL93 sang 0,5HL93
xác suất phá hoại tăng 1,7 lần
(2) Kết quả cho thấy việc tính toán sức kháng và hiệu
ứng tải trọng khi xét đến hoạt tải triết giảm 0,65HL93 và
0,5HL93 có chỉ số an toàn thấp hơn 3,5 dẫn đến kết cấu
không an toàn về mặt chịu lực và dần sẽ bị phá hoại theo
thời gian khai thác cầu
4 Kết luận
Khi tính toán và thiết kế công trình cầu theo các hệ số
triết giảm tải trọng HL93; 0.65HL93; 0.5HL93 cho các
trường hợp chiều dài nhịp 9m, 18m, 27m, và 36m dựa
trên lý thuyết độ tin cậy, ta hiểu rõ hơn về xác suất phá
hoại của kết cấu cầu dầm thép liên hợp nói riêng, công
trình cầu nói chung
Đối với thay đổi hệ số triết giảm tải trọng từ HL93
sang 0,65HL93 xác suất phá hoại tăng 6,8 lần, từ HL93
sang 0,5HL93 xác suất phá hoại tăng 10 lần và từ
0,65HL93 sang 0,5HL93 xác suất phá hoại tăng 1,7 lần,
chỉ số độ tin cậy sau khi tính toán chênh lệch nhau nhiều
so với chỉ số độ tin cậy mục tiêu (βT =3,5) từ đó ta thấy
việc sử dụng tiêu chuẩn thiết kế với hệ số triết giảm tải
trọng như vậy khiến cho kết cấu về mặt chịu lực kém dẫn
đến gây phá hoại cầu, do đó cần phải điều chỉnh sức
kháng của vật liệu để đảm bảo kết cấu an toàn
5 Hướng nghiên cứu
Thiết kế lại dầm thép liên hợp cho các trường hợpchiều dài nhịp nhịp 9m, 18m, 27m, và 36m theo lý thuyết
độ tin cậy, từ đó đề xuất hệ số triết giảm tải trọng ứng với mỗi trường hợp thiết kế công trình cầu
So sánh dầm cầu được thiết kết tối ưu theo tiêu chuẩn
và các trụ cầu ngoài thực tế dựa trên lý thuyết độ tin
Thiết lập chỉ số độ tin cậy chung khi dùng mạng lưới song song cho các cấu kiện dầm, trụ,… trong kết cấu cầu
Tài Liệu Tham Khảo :
[1] Andrzej S Nowak and Maria M Szerszen
"Bridge load and resistance models" 1998
[2] Monte Carlo methods" Andrzej s nowak, kevin r
collins "Reliability of structures - Second edition"
Trang 27Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ XVI-2019, Khoa XD Cầu đường - Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA ĐẤT NỀN – KẾT CẤU ĐẾN SỰ PHÂN TÍCH ĐƯỜNG CONG PHÁ HỦY CỦA KẾT CẤU CẦU BÊ
TÔNG CỐT THÉP
THE SOIL- STRUCTURE INTERSECTION EFFECTS ON ANALYSIS OF SEISMIC
FRAGILITY CURVE OF REINFORCED CONCRETE BRIDGE
SVTH: Nguyễn Văn Tiến (1)
(1) Lớp 14X3B, Khoa Xây Dựng Cầu Đường, Trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng; Email: vtien23@gmail.com
GVHD: TS Đỗ Việt Hải (2) ; TS Nguyễn Văn Mỹ (3)
(2) Khoa Xây Dựng Cầu Đường, Trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng; Email: dvhai@dut.udn.vn ,
(3) Khoa Xây Dựng Cầu Đường, Trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng; Email: vanmybkdn@gmail.com
Tóm tắt - Hiện nay, kết cấu cầu bê tông cốt thép
(BTCT) được sử dụng rộng rãi trong nước ta, cả trong kết
cấu cầu đường và kết cấu nhà cao tầng, dân dụng Do đó
việc nghiên cứu sự làm việc của cầu BTCT khi chịu
những tải trọng đặc biệt rất đáng được quan tâm, đặc biệt
là tải trọng động đất Những nghiên cứu trước đây đã cho
thấy rằng sự tương tác giữa đất nền – kết cấu có thể ảnh
hưởng lớn đến sự làm việc của bộ phận trong cầu và từ đó
ảnh hưởng đến sự làm việc của cầu Tuy nhiên, sự ảnh
hưởng của sự tương tác đất nền – kết cấu phụ thuộc lớn
vào đặc tính vật liệu, sự liên kết của kết cấu hạ bộ (bao
gồm mố và trụ), đặc tính của đất nền, do đó sự ảnh hưởng
vẫn còn là một ẩn số Do đó nhóm tác giả tập trung vào
nghiên cứu sự ảnh hưởng của tương tác đất nền - kết cấu
trong phân tích đường cong phá hủy của cầu bê tông cốt
thép khi chịu tải trọng rung chấn do động đất, khi xét đến
sự tương tác giữa cọc-đất nền và mố - đất đắp sau mố
Phần mềm phân tích phi tuyến Opensees được ứng dụng
để mô phỏng số kết cấu cầu bê tông cốt thép bằng phương
pháp phần tử hữu hạn 3 chiều, trong đó phần từ p-y, t-z và
q-z được thiết lập để mô phỏng sự làm việc của đất nền –
kết cấu Từ các chuyển vị đỉnh tại mố và trụ từ phân tích
phần mềm Opensees, tính toán được độ lệch chuẩn của
từng bộ phận kết cấu trong cầu, từ đó xây dựng đường
cong phá hủy của cầu chịu tải trọng động đất
Từ khóa – Bê tông cốt thép (BTCT); Tương tác đất
nền – kết cấu; Đường cong phá hủy, Tải trọng động đất;
Phần từ hữu hạn (PTHH)
Abstract- Currently, the application of reinforced
concrete (RC) bridges is very popular in our country, either in house, bridge structures As a result, the analysis
of working capacity of RC bridges under the special loads
is worthy of attention, especially under the earthquake load (EQ) The past earthquake studies have showed that the soil-structure interaction (SSI) can impact significantly on the dynamic performance of reinforced concrete bridge components and therefore affect the seismic response of bridges However, the soil-structure effects depending inherently on material characteristics, the substructure including abutments, piers and pile, soil properties are still uncertainty Therefore, this paper focuses on the effects of soil – structure interaction (SSI)
in seismic fragility analysis of RC bridges under the EQ considering the soil – pile and abutment – embankment interaction The Opensees analysis platform is employed
to promote the three-dimensional finite element model of the instance bridge, in which p-y, t-z and q-z elements are installed at the structure nodes to simulate the interaction between the bridge piles and surrounding soils, the abutment and embankment The standard deviation of each components is estimated based on the results, which are derived from the numerical simulation on the Opensees, including the displacement at the control point
of abutments and piers, and hence the seismic fragility curves are generated based on the ground motion acceleration conressponding to the max deformation at the
control points
Key words -Reinforced concrete (RC) bridge;
Soil-structure interaction (SSI); Fragility curves (FC); Earthquake Load (EQ); Finite Element Method (FEM)
1 Đặt vấn đề
Những nghiên cứu trước đây về động đất đã chỉ ra
rằng sự ảnh hưởng khi xét đến sự tương tác đất nền – kết
cấu có thể làm thay đổi khả năng làm việc của các bộ
phận của cầu BTCT chịu tải trọng rung chấn, do đó ảnh
hưởng đến khả năng làm việc của cầu Mặc dù sự ảnh
hưởng của sự tương tác đất nền – kết cấu đã được cộng
đồng khoa học trên toàn thế giới quan tâm, nghiên cứu từ
lâu trong nghiên cứu khả năng làm việc của cầu, sự ảnh
hưởng của tương tác đất nền vẫn còn khá mơ hồ khi tính
toán sức chịu tải của cầu chịu tải trọng động đất Sự ảnh
hưởng của tương tác đất nền đối với khả năng chịu tải của
cầu phụ thuộc nhiều vào các thông số của cầu như là tính
chất của các kết cấu hạ và thượng bộ cũng như là giá trị
của tần số riêng của hệ kết cấu và độ lớn của gia tốc đỉnh
gây ra do tải trọng động đất
Những dạng khác nhau của sự tương tác đất nền – kết cấu cần thiết để xem xét khi phân tích rung chấn của cầu,
cụ thể là sự tương tác của móng – đất nền và mố - đất đắp sau mố Phụ thuộc vào những loại kết cấu BTCT, sự tương các giữa cọc – đất nền ở móng nông cũng như móng cọc có thể được mô phỏng theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên cách tiếp cận đơn giản nhất có thể được
áp dụng cho 2 loại móng trên được mô phỏng bằng các phần từ p-y, t-z, q-z biểu thị cho độ cứng của cọc và đất nền
Đường cong phá hủy chịu tải trọng rung chấn có thể được xây dựng theo kinh nghiệm, sử dụng những dữ liệu cầu bị phá hủy trong những dữ liệu ghi chép những trận
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 28Hình 5: Đường cong phá hủy của cầu (hướng dọc cầu) tại mỗi trạng thái giới hạn khi xét / không xét đến sự tương
tác đất nền – kết cấu
4 Kết luận
Bài báo này miêu tả sự ảnh hưởng khi xét đến sự
tương tác kết cấu – đất nền trong phân tích xây dựng
đường cong phá hủy của từng bộ phận trong cầu như mố,
trụ và gối cũng như là toàn hệ thống cầu dựa trên 3 mô
hình mô phỏng theo phương pháp phần tử hữu hạn:
a/ Độ không chắc chắn của hiệu ứng tải trọng gây ra
do tải trọng động đất của trụ và mố cầu bị ảnh
hưởng đáng kể khi xem xét sự ảnh hưởng tương
tác kết cấu – đất nền đối với chuyển vị theo
phương dọc cầu tại đỉnh mố và trụ cầu, và do đó,
khi phân tích đường cong phá hủy của cầu chiu tải
trọng động đất được đề xuất nên xem xét sự ảnh
hưởng đầy đủ của sự tương tác kết cấu – đất nền
tại móng và mố - đất đắp sau mố
b/ Sự ảnh hưởng của sự tương tác kết cấu- đât nền
trong xác suất phả hủy của cầu không những chỉ
được tính toán dựa trên trạng thái giới hạn của hệ
kết cầu, mà còn phụ thuộc nhiều vào cường độ,
kích thước và thuộc tính của mố, trụ và đất nền
Trong hầu hết các trạng thái giới hạn, sự xem xét
tương tác đất nền – kết cấu tại móng dẫn đến xác suất phá
hủy cao hơn của cầu khi so sánh với mô hình phân tích
không xem xét sự tương tác Trái lại, khi xem xét đầy đủ
sự tương tác đất nền – kết cấu tại móng và đất đắp sau mố
thì làm giảm xác suất phá hủy của cầu chịu tải trọng động
đất trong hầu hết các trạng thái giới hạn ngoại trừ thành
phần kết cấu mố và toàn bộ hệ thống cầu tại trạng thái
giới hạn 1
Sự ứng dụng của phương pháp phân tích trên cho một
hệ kết cấu cầu BTCT cho thấy rằng sự tương tác giữa mố
- đất đắp sau mố thường bị bỏ qua khi tính toán sức chịu
tải của cầu khi chịu tải trọng động đất Như đẫ thể hiện ở
trên, sự biến thiên về xác suất phá hủy cầu có thể lên đến
15-20% khi xem xét sự ảnh hưởng tương tác kết cấu – đấtnền, do đó không chỉ phân tích xác suất phá hủy của cầuchịu tải trọng động đất nên xem xét sự ảnh hưởng tươngtác đất nền mà còn khi tính toán sức chịu tải của cầu khichịu những tải trọng đặc biệt đối với cầu bê tông cốt thépnói riêng và tất cả các hệ kết cấu khác nói chung
Tài liệu tham khảo
Georgia Institute of Technology; 2005.
Dynam 2017;46:73-93
simulation Berkeley, California: Pacific Earthquake Engineering Research Center; 2004., <http://opensees.berkeley.edu>
strongmotioncenter.org/
[5] Kotsoglou A, Pantazopoulou S Response simulation and seismic assessment of highway overcrossings Earthq Eng Struct Dyn
134:7(1154)
and dynamic response of caisson foundations with soil and interface
Copyright XDCD.DUT-16.2019
Trang 29Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ XVI-2019, Khoa XD Cầu đường - Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
NGHIÊN CỨU TÍNH TOÁN CHỈ SỐ ĐỘ TIN CẬY CỦA XÀ MŨ TRỤ CẦU
RELIABILITY ANALYSIS OF HAMMER PIERS IN BRIDGES PART I: SHEAR DESIGN IN CANTILEVER SECTION
SVTH : Nguyễn Phước Duy (1) ; Trần Quang Vy (2)
(1) Lớp 14X3C, Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email:
duynguyen8996@gmail.com (2) Lớp 15X3A, Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email:
quangvy997@gmail.com
GVHD : TS Đỗ Việt Hải (3) ; TS Hoàng Trọng Lâm (4)
(3) Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: dvhai@dut.udn.vn
(4) Khoa Xây dựng Cầu đường, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng; Email: hoanglam289@gmail.com
Tóm tắt: Trong các công trình cầu, những tham số
như vật liệu, địa chất, các loại tải trọng là các biến ngẫu
nhiên Các biến ngẫu nhiên đó ảnh hưởng đến xác suất
phá hoại của kết cấu được thể hiện bằng chỉ số độ tin cậy
Bài báo này tập trung vào việc phân tích độ tin cậy của
các trụ cầu đặc thân hẹp hiện nay được thiết kế theo tiêu
chuẩn thiết kế cầu Việt Nam (22TCN 272-05; TCVN
11823-2017) Việc tính toán dựa trên sự không chắc chắn
của tĩnh tải, hoạt tải, mặt cắt hình học, cường độ chịu nén
bê tông và cường độ chịu kéo của thép, Những kết quả
tính toán cho thấy rằng có sự khác nhau đáng kể giữa chỉ
số độ tin cậy momen và chỉ số độ tin cậy của lực cắt của
trụ đặc thân hẹp Những sự khác biệt đó thể hiện một cách
rõ ràng rằng việc thiết kế dư thừa sức kháng của trụ cầu
Bài báo cũng đề xuất thay đổi hàm lượng thép tối thiểu
khi thiết kế lực cắt để tối ưu hóa thiết kế trụ cầu theo độ
tin cậy
Từ khóa : trụ cầu, trụ đặc thân hẹp, độ tin cậy, việc
tính toán, dư thừa
Abstract: In bridges, the parameters such as material,
geometry and loads are random variables These random variables have influence on the probability of failure of the structures which is represented by the reliability index This paper will focus on the reliability analysis of the current hammer piers, which are designed by Vietnamese
bridges’ specification (22TCN 272-05, TCVN
11823-2017) The computation is based on the uncertainties of
dead loads, live loads, sectional geometries, strength of concrete and strength of steel, The results of computation show that there are significantly differences between the moment reliability indices and shear reliability indices of the hammer piers These differences clearly indicate the overdesign of pier capacities The paper also recommends the change of minimum steel in shear design in order to optimize the pier design in term
of reliability analysis
Keywords: bridge pier, solid piers, reliability,
computation, overdesign
1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu thiết kế
kết cấu công trình theo độ tin cậy đang được ngày càng
nhiều nhà khoa học quan tâm bời vì phương pháp này sẽ
phản ánh đầy đủ hơn khả năng dự trữ an toàn trên thực tế
so với các phương pháp truyền thống Đặc điểm nổi bật
của phương pháp thiết kế theo độ tin cậy là mỗi tham số
(X i)được xem là một biến ngẫu nhiên với hai giá trị đặc
trưng là kỳ vọng( ) và độ lệch chuẩn( )
Khi thiết kế, tính toán các kết cấu trong công trình cầu
thì luôn xét đến yếu tố về kinh tế và an toàn Vì vậy, để
đảm bảo hai yếu tố này thì mục tiêu khi thiết kế là đạt
được độ tin cậy( ) là 3,5 Nhưng khi kiểm tra độ tin cậy
xà mũ của các công trình cầu thực tế ở Việt Nam nhận
thấy rằng có sự khác nhau đáng kể của độ tin cậy của lực
cắt so với độ tin cậy của momen Vấn đề này gây ảnh
hưởng lớn về mặt kinh tế Trong bài báo này, tác giả trình
bày đề xuất thay đổi hàm lượng cốt thép tối thiểu khi thiết
kế lực cắt để tối ưu hóa thiết kế trụ cầu theo độ tin cậy
2 Cơ sở lý thuyết
2.1 Chỉ số độ tin cậy
Xác suất phá hoại của kết cấu được đo bằng chỉ số độ
tin cậy ( ) Đối với mỗi công trình cầu, chỉ số độ tin cậy
được tính toán cho các trạng thái giới hạn khác nhau,
phân tích được thực hiện riêng cho từng phần tử của trụ
cầu và hệ thống kết cấu, chỉ số độ tin cậy được tính toán cho một năm (chỉ số hằng năm) Các tính toán được thực hiện riêng cho từng trạng thái giới hạn
2.2 Phương pháp tính toán độ tin cậy
Khi thiết kế cấu kiện (phần tử) của trụ cầu bê tông cốt thép, độ lệch của mỗi tham số ở mỗi vùng, miền lãnh thổ
và quốc gia không giống nhau và ảnh hưởng đáng kể đến kết quả tính Vì vậy, nếu muốn hoàn thành được mục tiêu
“thiết kế kết cấu vừa đảm bảo yêu cầu công năng, vừa có chi phí hợp lí đảm bảo độ tin cậy” thì phải xét mức độ ảnh hưởng của từng phần tử đến chỉ số độ tin cậy( ) Phân tích độ tin cậy được hiện cho các hàm trạng thái giới hạn cho các loại cấu trúc và các thành phần tải trọng Trong quá trình hiệu chỉnh hiệu ứng tải trọng và sức kháng của vật liệu là các biến ngẫu nhiên Hàm trạng thái giới hạn sẽ biểu thị ranh giới giữa giai đoạn kết cấu an toàn với giai đoạn kết cấu bị phá hủy Một dạng đơn giản của hàm trạng thái giới hạn là:
( , Q)
Trong đó: R - sức kháng của vật liệu; Q - hiệu ứng tải trọng Nếu g(R,Q)≥0 kết cấu an toàn (sức kháng vật liệu lớn hơn hiệu ứng tải trọng), nếu g(R,Q)<0 kết cấu bị phá
hủy (sức kháng vật liệu nhỏ hơn hiệu ứng tải trọng)
Xác xuất phá hủy (P f) được biểu thị như sau:
Copyright XDCD.DUT-16.2019