Để hoàn thành bài tiểu luận này em đã sử dụng một vài tài liệu của các tác giả : 1 Hóa học dầu mỏ & khí tự nhiên Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải - Tác giả: Phan Tử Bằng 2 Giáo trình
Trang 1Luận văn
Đề tài: Lập một quy trình công nghệ, nêu cách tiến hành để xác định các thông số hóa lý kỹ thuật
của dầu mỏ
Trang 2Trường Đại Học Hồng Đức
Khoa kỹ thuật công nghệ Môn: Hóa học dầu mỏ & khí tự nhiên
Đề tài: Lập một quy trình công nghệ,
nêu cách tiến hành để xác định các thông
số hóa lý kỹ thuật của dầu mỏ.
GVHD: Phạm Xuân Núi SVTH: Lê Xuân Phúc
Mã SV: 0964040114
Thanh Hóa, ngày 5/8/2012
Trang 3MỞ ĐẦU
Tại Việt Nam nghành dầu khí là một nghành công nghiệp còn rất non trẻ,
trong đó nghành công nghiệp lọc hóa dầu là nghành mới bắt đầu sản xuất ở Việt
Nam, tất cả mọi công đoạn của chế biến dầu mỏ và khí đều rất là phức tạp và
trải qua nhiều quá trình Đặc biệt việc nghiên cứu nắm vững những quy trình
công nghệ trong công đoạn chế biến dầu khí nhằm khai thác và chế biến có hiệu
quả Việc tiếp cận và thay thế các phương pháp chế biến dầu khí cũ cũng là một
vấn đề đang được quan tâm
Việc nắm vững các công đoạn trong một quá trình chế biến dầu mỏ là
một việc vô cùng khó khăn và phức tạp vì ngoài việc nắm vững cách sử dụng
máy móc còn có phải có sự am hiểu về kiến thức chuyên môn và lòng yêu công
việc của hệ thống các kĩ sư, các chuyên gia trong nhà máy Lọc Hóa Dầu Và
đặc biệt hơn là các sản phẩm của mỗi quá trình phải đạt được các tiêu chuẩn do
các hoạt động sản xuất kinh tế đề ra, mặc dù việc phân tích và phân tích các
thông số của một hệ thống là rất phức tạp và khó khăn Và cũng may mắn một
điều là các nhà máy Lọc Hóa Dầu bây giờ đã sử dụng các công nghệ thiết bị
tiên tiến của thế giới, vì chúng có khả năng điều khiển và chỉnh các thông số
một cách tự động Nhưng không phải vậy mà chúng em lơ là việc học, là một
sinh viên nghành hóa dầu em sẽ cố gắng học để có thể nắm được cơ bản các
quy trình của một phân đoạn chế biến dầu khí
Trong bài tiểu luận này em cũng hi vọng với lượng kiến thức mà em đã
được học ở môn “ Hóa học Dầu mỏ - Khí tự nhiên” và kết hợp với những kiến
thức mà em đã học và đã tham khảo được ở trên mạng, tìm hiểu qua một số tài
liệu Nhưng mà em cũng mạnh dạn trình bày những hiểu biết của mình về “
Quá trình biến nhiệt ” trong công đoạn chế biến dầu khí, và đây cũng được xem
là một trong những công đoạn quan trọng trong nhà máy Lọc Hóa Dầu Và
trong bài tiểu luận này em tin rằng vẫn còn nhiều chỗ sai sót về kiến thức
chuyên môn, em mong thầy chỉ cho em biết và hoàn thiện hơn trong các bài làm
sau để có thể đạt được kết quả cao Em xin chân thành cảm ơn đã nhiệt tình
dậy, truyền đạt kiến thức cho hai lớp bọn em trong thời gian Thầy về giảng dạy
tại Thanh Hóa
Trang 4Để hoàn thành bài tiểu luận này em đã sử dụng
một vài tài liệu của các tác giả :
1) Hóa học dầu mỏ & khí tự nhiên
Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải - Tác giả: Phan Tử Bằng
2) Giáo trình Công nghệ chế biến khí & các sản phẩm lọc dầu
Nhà xuất bản Hà Nội năm 2004
3) Công nghệ chế biến dầu mỏ
Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật - Tác giả: Lê Văn Hiếu
4) Giáo trình Công nghệ chế biến Dầu & Khí
Nhà xuất bản xây dựng - Tác giả: Phan Tử Bằng
5) Giáo trình Cracking xúc tác
Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội – Tác giả: Gs.Ts Nguyễn Hữu Phú
Trang 5Mục lục
I Giới thiệu về công nghệ chế biến nhiệt
II Cơ sở lý thuyết của quá trình chế biến nhiệt
1 ) Sự biến đổi của các hợp chất parafin
2 ) Sự biến đổi của các hợp chất olephin
3 ) Sự biến đổi của các hợp chất naphten
4 ) Sự biến đổi của các hợp chất thơm
III Các quá trình công nghệ chế biến nhiệt
1 ) Quá trình cracking nhiệt
2 ) Thông số của quá trình công nghệ
3 ) Sản phẩm của quá trình cracking nhiệt
4 ) Quá trình cốc hóa
Trang 6I Giới thiệu
Trong công nghiệp chế biến dầu khí các quá trình chế biến thuần túy bởi nhiệt đã được áp dụng từ lâu nhằm chế biến các phân đoạn dầu khác nhau thành
các sản phẩm lỏng (xăng, FO), khí và cốc Các sản phẩm khí có chứa nhiều
olephin rất thích hợp cho công nghệ tổng hợp hóa học và hóa dầu
Dựa vào nguyên liệu, sản phẩm cần thu và điều kiện chình của quá trình ( nhiệt độ, áp suất), người ta chia các quá trình chế biến nhiệt thành các quá trình
cracking nhiệt, vibreking, cốc hóa, cracking hơi
Bảng 1 Các quá trình chế biến nhiệt với các điều kiện công nghệ và sản phẩm của chúng
Quá trình Nguyên liệu Sản phẩm chính Nhiệt độ ( C ) Áp suất kg/cm2 Cracking hơi Etan Axetilen 1000 – 1400 0,2 – 0,5 Cracking hơi Etan Etylen 800 – 850 0,2 – 2 Cracking hơi Propan – Butan Etylen – Propylen 770 – 800 0,2 – 2 Cracking hơi Xăng nhẹ Etylen – Propylen 720 – 770 0,5 – 2 Cracking hơi Gasoil nhẹ Etylen – Propylen 720 – 750 0,5 – 2 Cracking nhiệt Gasoil nhẹ Xăng 469 – 510 20 – 70 Cốc hóa Cặn nặng Cốc 480 – 530 1 – 10 Vibreking Cặn nặng Giảm độ nhớt 440 – 480 20 - 70
Quá trình cracking nhiệt cho phép thêm xăng và xăng là sản phẩm chính của quá trình Trong khi đó thì quá trình cốc hóa thì cốc dầu mỏ là sản phẩm
chính Còn ở quá trình pyrolise thì sản phẩm chính lại là các khí chứa olefin,
diolefin hay axetilen
Các quá trình được tiến hành với các công nghệ khác nhau và nguyên liệu dùng cũng khác nhau Trước khi đi nghiên cứu các quá trình dùng cụ thể,
chúng ta để cập tới vấn đề chung nhất, đó là cơ sở lý thuyết của các phản ứng
xảy ra khi chế biến nhiệt với nguyên liệu là hydrocacbon
Trang 7II Cơ sở lý thuyết của quá trình cracking nhiệt
Quá trình chuyển hóa hóa học các hydrocacbon của một phân đoạn đầu
dưới tác dụng của nhiệt là một quá trình hết sức phức tạp Phức tạp trong sự tạo
thành các cấu tử trong phân đoạn Vì thế trong quá trình xảy ra nhiều phản ứng
mà chúng khó cá thể kiểm soát nổi Do vậy trong các công trình nghiên cứu, đã
tiến hành nghiên cứu sự biến đổi của từng loại hydrocacbon riêng lẻ rồi từ các
kết quả nhận được, cho phép phán đoán, kết luận các ảnh hưởng đặc trưng nhất
của các thông số công nghệ tới các phản ứng của các hydrocacbon
1 Sự biến đổi của các hydrocacbon parafin
Các hydrocacbon parafin là loại no, trong phân tử chỉ có 2 loại liên kết đó là
liên kết C-C, và C-H Liên kết C-C thì kém bền hơn liên kết C-h, nên dưới tác
dụng của nhiệt ở nhiệt độ cao sẽ xảy ra sự phân hủy, đứt mạch liên kết C-C
trước Khi đó hình thành các hydrocacbon có trọng lượng phân tử nhỏ hơn Ví
dụ :
C n H2n 2 C m H2mC q H2q 2
Nếu phân tử parafin mới tạo thành có mạch đủ dài, thì nó lại bị phân hủy
tiếp Chỉ khi các phân tử trong hydrocacbon nhỏ hơn 4, lúc này parafin khá bền
và khó bị đứt liên kết C-C nên khi đó có thể xảy ra sự đứt liên kết C-H tạo
thành hydro Ví dụ :
C q H2q2 C q H2q H2
Ví dụ như đứt liên kết C-C phụ thuộc vào nhiều điều kiện tiến hành quá
trình như : nhiệt độ, áp suất, thời gian lưu của hỗn hợp phản ứng ở nhiệt độ đó
Ở nhiệt độ càng cao và áp suất càng thấp, vị trí đứt mạch có xác suất lớn hơn ở
hai đầu mạch Do vậy ở điều kiện này thường cho sản phẩm khí nhiều hơn Như
vậy muốn cho sản phẩm chứa nhiều olefin, ta phải chọn nhiệt độ cao và áp suất
thấp Nhưng ở nhiệt độ vửa phải 450-530 0C và áp suất cao thì vị trí đứt mạch
lại có xác suất lớn hơn ở giữa mạch Do vậy ở điều kiện này sẽ tạo điều kiện
thuận lợi để tăng hiệu suất sản phẩm lỏng, giảm bớt hiệu suất sản phẩm khí Đó
là cơ sở quyết định điều kiện công nghệ khác nhau giữa cracking nhiệt và
pyrolise và nó xảy ra theo cơ chế dây chuyền do Rice đề xướng Theo thuyết
này, cơ chế phân hủy của các hydrocacbon parafin xảy ra theo các giai đoạn
sau:
a Tạo gốc tự do
Trang 8Do liên kết C-C kém bền , ở nhiệt độ cao thì nó bị tách và tạo ra gốc tự
hay C2H5 là có khả năng tồn tại trong thời gian ngắn trước khi chúng va
chạm vào nhau và gây nên phản ứng hóa học, còn các gốc lớn hơn là các gốc rất
không bền, chúng lập tức phân hủy ra tạo thành các gốc nhỏ và đồng thời tạo
olefin Ví dụ :
C5H1 1 C4H8 CH3
→C5H1 0H
Trong khoảng thời gian nhất định ( khoảng phần nghìn giây) nồng độ các
gốc tự do tăng lên rất nhanh
b Các phản ứng của gốc tự do trong giai đoạn phát triển chuỗi
Gốc tự do phản ứng với nguyên liệu ban đầu và tạo thành gốc mới:
RHH H2R
R1HR RHR1
Do độ bền của gốc tự do bậc 3 > bậc 2 > bậc 1 mà sự giải thích nguyên tử
H ở nguyên liệu sẽ ưu tiên trước là các izo-parafin, sau đó mới đến các
n-parafin
Các gốc lớn rất rễ phân hủy thành các gốc nhỏ và do vậy tạo ra hướng
phản ứng mới Chính vì vậy mà người ta gọi là phản ứng dây chuyền nhánh
Các gốc tự do có khả năng phản ứng lớn hơn nhiều lần khả năng phản
ứng trực tiếp của hydrocacbon nguyên Năng lượng hoạt hóa của các phản ứng
giữa cac gốc tự do chỉ từ 10 đến 20 kcal/kmol Nghĩa là nhỏ hơn nhiều lần năng
lượng năng lượng hoạt hóa phân hủy trực tiếp Các số liệu trong bảng 2 cho ta
thấy điều này Chính vì thế mà sản phẩm cuối là hỗn hợp sản phẩm của các
phản ứng của các gốc tự do với nhau và với nguyên liệu
Trang 9Bảng 2: Cơ chế phân hủy nhiệt C2H6 theo Rice
Phản ứng Năng lượng E ( kcal/mol)
C2 5 2 4 40
2 5 2 6
2H C H H C
H
7
6 2 5
2H C H C
H 0
c Giai đoạn dừng phản ứng
Khi tốc độ tạo thành bằng tốc độ mất đi của các gốc tự do, phản ứng
chuỗi coi như kết thúc Sự mất đi của các gốc tự do có thể do các gốc va chạm
với nhau, phản ứng với nhau tạo thành phân tử trung hòa:
RH H
R
2 1 2
2C H C H
4
3 CH CH
H
2
2 Sự biến đổi của các hợp chất olefin
Trong dầu thô ban đầu, hàm lượng olefin không đáng kể, nhưng dưới tác
dụng của nhiệt độ cao, các hợp chất olefin sẽ được tạo thành Chúng có khả
năng phản ứng cao hơn so với parafin Hydrocacbon parafin biến đổi đa dạng
hơn và cũng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tiến hành phản ứng( nhiệt độ, áp
suất) Ở nhiệt độ thấp và áp suất cao, các hydrocacbon olefin có trọng lượng
phân tử thấp sẽ rễ bị trùng hợp Phản ứng trùng hợp càng mạnh nếu áp suất
càng cao Nhưng nếu tăng nhiệt độ thì tốc độ phản ứng lại giảm xuống, nhường
chỗ cho phản ứng phân hủy Và nếu như thời gian lưu trong vùng phản ứng
càng lâu thì sự phân hủy càng xảy ra mãnh liệt Cơ chế phân hủy olefin cũng
giống như cơ chế phân hủy parafin, nhưng phản ứng thuận lợi là đứt mạch liên
kết C-C ở vị trí β so với nối đôi
Trang 10Ngoài phản ứng trùng hợp, phân hủy, các olefin còn tham gia phản ứng
ngưng tụ, ankyl hóa với các hydrocacbon thơm tạo ra các hợp chất cao phân tử,
và cuối cùng tạo thành nhựa và cốc
4 Sự biến đổi hydrocacbon naphtalen
RH naphtlen có độ bền nhiệt cao hơn so với parafin có cùng số phân tử
cacbon trong mạch Các đặc trưng biến đổi các hydrocacbon naphtlen ở nhiệt
độ cao thường xảy ra các phản ứng ưu tiên theo thứ tự sau:
- Khử nhánh ankyl
- Khử hydro tạo olefin vòng và sau đó tiếp tục tạo hydrocacbon thơm
- Phân hủy vỏng đối với các naphtlen đa vòng thành naphtlen đơn vòng
- Khử naphtlen đa vòng thành các naphtlen đơn vòng
- Khử naphtlen đơn vòng thành parafin, olefin, hay các diolefin
Như vậy rõ ràng là các naphtlen khi tham gia phản ứng phân hủy nhiệt,
sản phẩm tạo thành có đặc trưng no hơn so với parafin, và có xu hướng tạo
thành các phân tử có trọng lượng phân tử trung bình, nghĩa là cho phép tạo
thành nhiều sản phẩm lỏng hốn với nguyên liệu là parafin
4 Sự biến đổi của các hydrocacbon thơm
Ở nhiệt độ cao, sự biến đổi của các hydrocacbon thơm xảy ra theo quy
luật sau:
- Khử nhánh ankyl
- Các gốc thơm ngưng tụ với nhau, khử hydro tạo thành gốc mới có
phân tử lượng lớn hơn, và mang nhiều vòng thơm hơn, cuối cùng phát triển
thành hợp chất cao phân tử hay còn gọi là cacboit hay là cốc Như vậy dầu mỏ
khác với cacbon nguyên tố là chúng ở hệ vòng thơm có độ ngưng tụ cao Cốc
tạo ra thường lắng đọng và bám vào thành ống hay thiết bị trao đổi nhiệt, làm
giảm tốc độ truyền nhiệt cũng như tốc độ truyền của bơm, tăng chi phí vận
hành Nếu như quá trình của chúng ta không nhằm mục địch sản suất cốc thì sự
có mắt của hydrocacbon vòng hoàn toàn không có lợi cho quá trình sản xuất
3 Các quá trình công nghệ chế biến nhiệt
Trang 11Trong công nghệ Lọc hóa dầu người ta thường sư dụng các quá trình
cracking nhiệt, cốc hóa, vibreking còn gọi là quá trình pyrolise ( quá trình
cracking hơi) được áp dụng trong công nghệ hóa dầu nhằm sản xuất olefin
a Quá trình cracking nhiệt
Cracking nhiệt, vibreing, cốc hóa là các quá trình biến đổi nguyên liệu
dầu mỏ dưới tác dụng của nhiệt độ cao, thành các sản phẩm rắn, lỏng, khí
Thành phần về số lượng cũng như chất lượng của sản phẩm cuối được quyết
định bởi các thông số công nghệ của quá trình như: nhiệt độ, áp suất, thời gian
phản ứng Quá trình biến đổi nguyên liệu là một quá trình rất phức tạp, trong đó
xảy ra hàng loạt các phản ứng vừa nối tiếp vừa song song Trong quá trình chế
biến nhiệt khử cấu trúc, có hai vấn đề quan trọng cần giải quyết đó là:
- Ngăn ngừa sự tạo thành cốc trong phản ứng hay các thiết bị trao đổi
nhiệt
- Đảm bào hiệu quả sử dụng các trang thiết bị sử dụng trong dây
chuyền
Muốn vậy, các nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu động học và cơ chế
phản ứng của quá trình Đồng thời trong các nghiên cứu cũng như các thiết kế
của quá trình người ta phải sử dụng các nguyên liệu là các cấu tử giả tương
đương hoặc về thành phần hóa học là về thành phần công nghệ cố thể hạn chế
bớt sự phức tạp do thành phần của nguyền liệu dầu Khi đó hình thành 2 nhóm
lý thuyết và nhóm hóa học
Theo quan điểm của nhóm công nghệ, các cấu tử dùng trong tính toán
thiết kế là các hợp chất: khí, phân đoạn xăng, cặn cracking và cốc Phương pháp
nhóm công nghệ sử dụng sơ đồ sau dể miêu tả quá trình cracking nhiệt:
G B
Trang 12Tốc độ các giai đoạn của quá trình được biểu dienx bằng sơ đồ sau ( với
giả thiết tất cả các giai đoạn là đơn phân tử ) :
]) [
( ) (
y z x a k dt
z x
(
1 a x z y k
A – là số mol của nguyên liệu ban đầu A
x,y,z – là số mol của A đã biến đổi thành xăng, cặn cracking, cốc tương
2 1
t k k
e e k k k
k a
e t k k
k a
[ (k k1)t
e a z y
x
Thời gian phản ứng tới khi đạt hiệu suất xăng cực đại là:
2 1
2 1
max
ln ) ln(
k k k
k k
k t
Do phương pháp được dùng để miêu tả quá trình cracking nhiệt là
phương pháp thành phần nhóm hóa học Khác với phương pháp nhóm công
nghệ, phương pháp thành phần nhóm hóa học đòi hỏi một số lượng lớn các
phép phân tích về thành phần hóa học của nguyên liệu và nó được áp dụng khi
nghiên cứu sâu về quá trình cracking nhiệt Kết quả nhận được từ phương pháp
này rất thuận lợi khi miêu tả quá trình cracking cặn dầu
Trang 13a.1 Các thông số công nghệ của quá trình
a.1.1 Nhiệt độ
Những thông số công nghệ quan trọng nhất ảnh hưởng đến quá trình
cracking nhiệt là nhiệt độ, áp xuất, và thời gian phản ứng Khi tăng nhiệt độ, tốc
độ cracking tăng lên theo quy luật hàm mũ Trong khoảng nhiệt độ chọn trước
sự thay đổi các thông số về nhiệt độ và thời gian phản ứng có tác dụng tương hỗ
lẫn nhau Để giữ cho độ sâu biến đổi là như nhau, khi tăng nhiệt độ cần thiết
phải giảm nhiệt độ phản ứng Đại lượng nhiệt độ là thông số rất quan trọng Khi
tăng tốc độ nhiệt độ lên, tốc độ phân hủy tăng lên và ngược lại tốc độ phân hủy
tăng lên và ngược lại khi giảm nhiệt độ thì tốc độ trùng hợp lại tăng lên Giảm
nhiệt độ cracking sẽ làm giảm nhiệt độ của các phản ứng đa tụ Như vậy, để
tăng hiệu suất của các sản phẩm phân hủy( khí, lỏng) và giảm hiệu suất các sản
phẩm đa tụ (cặn, nhựa, cốc) cần thiết phải sử dụng nhiệt độ phản ứng cao, ứng
vời thời gian phản ứng thích hợp Đó là nhiệm vụ chính của quá trình cracking
nhiệt, còn đối với quá trình cốc hóa, ở đây sản phẩm chính là cốc, thì có hiệu
suất tốt chỉ khi nhiệt độ phản ứng nằm trong khoảng vừa phải
a.1.2 Áp suất
Áp suất xác định trạng thái pha của hệ cũng như chiều hướng và tốc độ
của phản ứng Áp suất khi cracking khi phân đoạn gasoil nhẹ cần phải đảm bảo
trạng thái lỏng của tác nhân phản ứng bởi vì trạng thái lỏng tạo điều kiện tốt
cho quá trình trao đổi nhiệt, không xảy ra sự quá nhiệt cục bộ, sự tạo cốc là cực
tiểu, sự tạo xăng là cực đại Nếu cracking cặn nặng cần phải giữ cho hỗn hợp ở
trạng thái pha hơi – lỏng Nhiệt độ càng cao, áp suất càng thấp thì pha khí sẽ
càng nhiều tốc độ dòng trong thiết bị phản ứng sẽ càng lớn và cho phép sư lắng
đọng cốc trong các ống xoắn của lò Nhưng trong những quá trình vibreking,
ảnh hưởng của áp suất không lớn, tăng áp suất chỉ có tác dụng làm tăng một
chút ít năng suất của thiết bị Áp suất cao thường làm tăng nồng độ của các tác
nhân tham gia phản ứng trong pha hơi, điều kiện đó sẽ có tạo điều kiện cho các
phản ứng kết hợp như phản ứng polyme hóa, ankyl hóa, và hydro hóa
a.1.3 Nguyên liệu
Nguyên liệu của cracking nhiệt chủ yếu là phân đoạn mazut của chưng
cất trực tiếp, phân đoạn gasoil nặng của quá trình cracking xúc tác hay cặn của
quá trình làm sạch Chất lượng của cặn là thông số rất quan trọng xác định chất