Rủi ro sức khỏe-môi trường – bài học minamata
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
BÀI TIỂU LUẬN :
ĐÁNH GIÁ RỦI RO MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE
NƯỚC THẢI CHỨA METYL THỦY NGÂN TẠI VỊNH MINAMATA-NHẬT BẢN
Trang 2Danh Sách Nhóm :
Nguyễn Văn Anh Cao Thị Thu Duyên Trần Thị Kim
Dương Văn Lăng Hoàng Thị Hà My
Trang 3MỤC LỤC Chương I Tổng quan 1.1 Giới thiệu về vùng nghiên cứu………Tr 7
1.2 Quá trình hoạt động của nhà máy Chisso……….Tr 8
1.3 Tác động của hoạt động xả thải của nhà máy Chisso lên người dân ở
Minamata……….Tr 9
Chương II Phương pháp nghiên cứu 2.1 Nội dung nghiên cứu……… ….Tr.11 2.2 Phương pháp nghiên cứu………Tr.11 2.2.1 Phương pháp xây dựng mô hình rủi ro cho vùng nghiên cứu Tr 12 2.2.4.1 Nhận diện mối nguy hại……… Tr.13 2.2.4.2 Ước lượng mối nguy hại……….Tr.14 2.2.4.3 Đánh giá phơi nhiễm……… Tr 15 2.2.4.4 Đặc tính của rủi ro……….Tr.18 2.2.4.5 Quản lý rủi ro……….Tr.21 2.3 Methyl thủy ngân ………Tr.22
Chương III Kết quả và phân tích 3.1 Liều lượng vào cơ thể của Methyl thủy ngân qua đường tiêu hóa……Tr.25 3.2 Đánh giá rủi ro của Methyl thủy ngân……….tr 27
Chương IV Kết luận và kiến nghị
Trang 4i Đặt vấn đề
Minamata là tên của một thành phố thơ mộng, xinh đẹp thuộc tỉnh Kumamoto (Nhật Bản) Nhưng Minamata còn là tên gọi một căn bệnh đã từng gây nỗi kinh hoàng cho biết bao người Nhật Năm 1956 và năm 1968, người ta phát hiện ra những người mắc bệnh ở Minamata với biểu hiện chân tay bị liệt hoặc run lẩy bẩy, tai điếc, mắt mờ, nói lắp bắp Nhiều bệnh nhân đã bị điên, bất tỉnh và chết sau một tháng mắc bệnh Có nhiều người bị mắc bệnh Minamata kinh niên, hoặc bẩm sinh Họ sinh ra bị tàn tật vì người mẹ khi mang thai đã ăn cá bị nhiễm độc ở vùng vịnh [2]
Hình 1: Nhà máy Chisso
Vì sao lại như vậy? Mãi đến năm 1968, Chính phủ Nhật Bản mới chính thức tuyên bố: căn bệnh này do Công ty Chisso gây ra vì đã làm ô nhiễm môi trường Các nhà máy hóa chất của Công ty này đã thải ra quá nhiều lượng thủy ngân hữu cơ độc hại làm cho cá bị nhiễm độc Khi ăn cá, thủy ngân hữu cơ xâm nhâp vào cơ thể con người, chúng sẽ tấn công vào cơ quan thần kinh trung ương, gây nên căn bệnh mà các nhà y học gọi là bệnh Minamata Tổ chức cứu trợ Nhật Bản cho biết, đến nay có gần 13.000 người mắc bệnh Minamata, có hơn 2.000 người bị chết Năm1965, bệnh Minamata còn bùng phát dọc theo con sông Agano thuộc tỉnh Nigata, do công ty Showa Denko thải thủy ngân xuống lòng sông Ngoài bệnh Minamata, các nhà nghiên cứu về kinh tế-môi trường của Nhật đã không ngần ngại khi đưa ra bản danh sách các căn bệnh, các vụ
Trang 5nhiễm độc như bệnh itai-itai ở tỉnh Toyama, nhiễm độc catmi, nhiễm độc đồng do các nhà máy thải chất thải nguy hại ra môi trường trong suốt mấy chục năm phát triển công nghiệp.[1]
Ở Việt Nam từ năm 1996 đến năm 1998, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng cơ sở 1996 – 2010, và mới đây, ngày 14/3/2008, Thủ tướng Chính phủ lại ký Nghị định Quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế Tính đến cuối năm 2007, cả nước có gần 190 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích 44.000 ha, trong đó có hơn 110 KCN đã đi vào hoạt động Các KCN đã thu hút hơn 3.000 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn gần 30 tỉ USD Ngoài
ra còn có 3.000 dự án trong nước với tổng vốn gần 200 ngàn tỉ đồng, giải quyết việc làm cho hơn 3 triệu lao động Các KCN đã tạo ra một bộ mặt mới cho công nghiệp Việt Nam Các KCN được phân bố ở 54 tỉnh, thành phố, chủ yếu ở các vùng Đông Nam bộ, đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung, làm cho đường giao thông, cảng sông, cảng biển, thông tin liên lạc và các kết cấu hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ phát triển Đội ngũ công nhân kỹ thuật có tác phong công nghiệp có trình độ quản lý được hình thành Trong những năm qua, nhiều thương hiệu của các doanh nghiệp trong KCN đã xuất hiện
và có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế
Có thể nói, thành tựu của KCN đã đánh dấu một mốc son trong phát triển kinh tế nước ta thời hội nhập Tuy nhiên, nó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết mà trước hết là ô nhiễm môi trường Do KCN thường bám sát quốc lộ, gần khu vực dân cư, cộng với việc một số doanh nghiệp nhập khẩu các thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu, nguyên liệu kém chất lượng, đã làm cho môi trường càng thêm ô nhiễm Trong số 154 KCN đang hoạt động trên toàn quốc chỉ có 39 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung (chiếm 25%), chính vì hệ thống nước thải ở các KCN chưa được xây dựng đồng bộ, nên lượng nước thải công nghiệp mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 500.000-700.000 m3 hầu hết chưa được xử lý đã làm ô nhiễm môi trường nước Tình trạng ô nhiễm trên một số con sông như sông Nhuệ, sông Đáy, sông Cầu, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Thị Vải đã đến mức báo động Đó là chưa kể, các KCN khi xây dựng thiếu biện pháp bảo
vệ môi trường, làm ô nhiễm môi trường không khí và khi sản xuất, các chất thải rắn không có chỗ chôn lấp, cũng như không có hệ thống xử lý, làm cho môi trường càng ô nhiễm Hiện nay, chất thải công nghiệp mỗi năm lên tới hơn 2,9 triệu tấn, trong đó các KCN là 1,2 triệu tấn và khối lượng chất thải nguy hại chiếm 175.000 tấn, nhưng lượng thu gom, xử lý không được 50% Nếu kể cả lượng rác sinh hoạt, trong 20 năm qua còn tồn đọng 70 triệu tấn, trong khi cả nước hiện có 850 bãi chôn lấp rác thải đang vận hành, nhưng chỉ có 8 bãi là hợp vệ sinh Các KCN làm ô nhiễm môi trường đã gây nhiều tác hại đến sức khỏe con người Ngân hàng thế giới đã đưa con số: Mỗi năm ở Việt Nam thiệt hại 780 triệu USD trong các lĩnh vực sức khỏe cộng đồng vì ô nhiễm môi trường Không phải ngẫu nhiên mà nhân 50 năm ngày phát hiện ra bệnh Minamata,
Trang 6Hội đồng Môi trường Nhật Bản đã tổ chức một diễn đàn quốc tế về ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe ở thành phố Kumamoto với chủ đề "Bài học gì từ 50 năm phát hiện ra bệnh Minamata?" 300 đại biểu đến từ 141 vùng lãnh thổ của 12 quốc gia, trong
đó có Việt Nam đã rút ra bài học cho mình là, không vì tăng trưởng kinh tế mà bỏ qua nguy cơ ô nhiễm môi trường tiềm ẩn gây hậu họa lâu dài cho đất nước và con người Đánh giá rủi ro nhà máy Chisso có ý nghĩa to lớn trong công cuộc hiện đại hóa hiện nay, đó là bài học trước mắt cho các nước đang thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
ii Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu trong mô hình HRA Chương I cho ta cách nhìn tổng quan về nhà máy Chisso, về điều kiện tự nhiên và xã hội của vùng nghiên cứu, chương II giới thiệu phương pháp nghiên cứu nhằm tính được mức rủi ro từ chất thải của nhà máy, con đường phơi nhiểm của Methyl thủy , đánh giá độc tính một cách định lượng Cuối cùng
là chương III: kết quả và kiến nghị
iii Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài bằng phương pháp:
Thu thập tài liệu từ bài báo khoa học, các nghiên cứu
Kế thừa từ các tài tiệu
Dùng mô hình HRA
Ứng dụng phương pháp thống kê
iv Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài ở hai tỉnh Kumamoto và Kagoshima thuộc Nhật Bản, trọng tâm nghiên cứu tại huyện Minamata thuộc tỉnh Kumamoto
Trang 7Chương I TỔNG QUAN
1.4 Giới thiệu về vùng nghiên cứu
Minamata là một thị trấn nhỏ do Tổng công ty Chisso thống trị Thị xã nằm sát
một phần của biển này Trong tiếng Nhật, "Chisso" có nghĩa là nitơ Tổng công ty Chisso đã từng là một công ty phân bón và carbicle, và dần dần tiến đến một công ty hóa dầu và sản xuất nhựa
Từ 1932-1968, Tổng công ty Chisso, một công ty đặt tại Kumamoto Nhật Bản, thải bỏ ước tính hơn 27 tấn các hợp chất thủy ngân vào vịnh Minamata Kumamoto là một thị trấn nhỏ cách phía Tây Nam Tokyo khoảng
570 dặm Thị xã gồm chủ yếu là nông dân và ngư dân Khi Tổng công ty Chisso đổ bỏ số lượng lớn thủy ngân vào vịnh, hàng ngàn người có chế độ ăn uống bình thường
Trang 8bao gồm cá từ vịnh, bất ngờ phát triển các triệu chứng của methyl thủy ngân độc Bệnh này được gọi là
"Dịch bệnh Minamata" Các ngộ độc thủy ngân là kết quả của năm phá hủy môi trường và sự cẩu thả từ Tổng công ty Chisso.Năm 1907 người sáng lập
đã thuyết phục được người dân của Minamata để xây dựng một nhà máy ở thị trấn của
từ sự giàu có của công nghiệp hóa
1.5 Quá trình hoạt động của nhà máy Chisso
Tổng công ty Chisso bắt đầu phát triển
các sản phẩm nhựa, thuốc, và nước hoa
thông qua việc sử dụng các hóa chất được gọi
là acetaldehyde vào năm 1932
Acetaldehyd được sản xuất bằng cách sử
dụng như là một hợp chất thủy ngân, và là
xem là một thành công kinh tế ở Nhật Bản,
Giữa năm 1956 và đầu những năm
1970 các cụm công nghiệp chiếm 68% diện
tích đất của thành phố và tiêu thụ 93% nguồn cung cấp nước của nó Chisso doanh nghiệp liên quan chiếm 30% doanh thu bán lẻ, sử dụng 19% lực lượng lao động và hạ 66% của tất cả các hoạt động vận chuyển Ngoài ra, doanh số bán hàng của Tổng công ty Chisso tăng lên đáng kể, xem xét cho thấy Chisso đã sản xuất được duy nhất một chất hóa học chính gọi là D.O.P, một chất làm dẻo (diotyl phthalate) Có một độc quyền
về hóa chất kích hoạt, Chisso đã mở rộng nhanh chóng Kể từ khi Tổng công ty Chisso được thành lập thì sự tăng trưởng của thị trấn cũng được tiến hành song song Tổng công ty Chisso cuối cùng cũng đã dừng lại sản xuất acetaldehyde năm 1968, khi một công nghệ thay thế cho chất dẻo đã được phát triển.Trong quá trinh hoạt động của mình, tổng công ty Chisso đã xả thẳng chất thải độc hại ra biển
Trang 91.6 Tác động của hoạt động xả thải của nhà máy Chisso lên người dân ở
Minamata
Minamata đã được biết đến như là một thị trấn đánh cá,
và các đại dương chính tài nguyên môi trường của họ Khinước bị ô nhiễm, họ không còn có thể phụ thuộc vào điều này như mộtnguồn lực khả thi, và không có cách nào khác để kiếm sống
Độc tố do metyl thủy ngân gây nên trong nước thải của tổng công ty Chisso là rất cao, và theo chuỗi thức ăn, độc tố đó ngày càng được tích tụ Đầu tiên là cá, chim, mèo , rồi tới người Dấu hiệu ở người đó là tê chân tay và môi Đồng thời, tầm nhìn bị hạn chế, một số người bị tổn thương não nghiêm trọng, hoặc bất tỉnh Ở động vật, mèo thường “tự tử” một cách vô lý, và chim lạ cũng chết, rơi từ trên trời xuống Đặc biệt, độc tố này đã gây ra rất nhiều thảm cảnh đáng thương cho người dân Minamata, và để lại di chứng rất nặng nề ở nhiều thế hệ
Trang 10Hình ảnh tang thương từ Minamata
Đến cuối năm 1956, các nhà nghiên cứu dịch tễ học và y tế xác định các bệnh như nhiễm độc kim loại nặng gây ra do ăn cá và đồ biển của vịnh Minamata
Trang 11Chương II Phương pháp nghiên cứu
2.1 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu về ô nhiễm methyl thủy ngân ở Minamata bằng phương pháp thống kê số liệu và dựa trên mô hình HRA để có cở sở đánh giá rủi ro cho vùng nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 122.2.1 Phương pháp xây dựng mô hình rủi ro cho vùng nghiên cứu [7
Mô hình HRA
1 Nhận biết mối nguy hại:
Thu thập dữ liệu và định lượng:
- Tập hợp và phân tích dữ liệu theo từng vấn đề
- Xác định sự ô nhiễm tiềm tàng dựa trên:
+ Đặc tính độc hại + Số lượng hiện diện tại nơi xem xét + Đường dẫn và các con đường phơi nhiễm
+ Các chỉ thị hóa học
4 Đặc tính rủi ro:
Đánh giá khả năng gây nguy hại sức khỏe con người dựa trên:
- Rủi ro ung thư
- Rủi ro không gây ung thư
3 Đánh giá độc tính:
- Nhận diện tất cả các định tính và định lượng đôc chất sơ lược qua các chỉ thị hóa học
- Định lượng nguy hại của sự phơi nhiễm
- Nhận diện các nguồn không chắc chắn
- Định lượng mức độ độc hại qua các bằng chứng rõ rang
- Xác định giá trị độc tính rõ rang với các chỉ thị hóa học
2 Đánh giá phơi nhiễm:
- Phân tích các tuyến phát thải
- Nhận dạng và mô tả đặc điểm người nhận dạng có khả năng
- Xác định sự di chuyển và các con đường phơi nhiễm
- Đánh giá mức độ phơi nhiễm sau này cho các tuyến phơi nhiễm đáng chú ý
- Tính toán liều lượng ô nhiễm cho tất cả các đường dẫn
Mô tả rủi ro:
- Định lượng không chắc chắn
- Tổng kết các thông tin rủi ro
Trang 13Hình: Các tuyến phơi nhiễm
2.2.4.1 Nhận diện mối nguy hại
Nhận biết mối nguy hại là bước đầu tiên trong HRA, các chất độc gây ô nhiễm
môi trường có liên quan rất mật thiết tới những vấn đề sức khỏe do chúng gây ra hoặc
ảnh hưởng tới nhiều người Nhận biết mối nguy hại và các vấn đề sức khỏe có thể bao
gồm ung thư, sự kích thích, những vấn đề về thần kinh và các khuyết tật bẩm sinh…
Một số vấn đề sức khỏe xuất hiện rất sớm sau khi một người phơi nhiễm với một
chất độc gây ô nhiễm môi trường Những tác dụng trực tiếp này có thể phụ, như đôi mắt
sủng nước Hay chúng có thể nghiểm trọng như gây hư hại phổi đe dọa cuộc sống
Những vấn đề sức khỏe khác có thể không xuất hiện sau nhiều tháng hay nhhiều
năm sau lần phơi nhiễm đầu tiên của người tới chất độc gây ô nhiễm môi trường Ung
thư là một ví dụ điển hình
Sự xác thực của những bằng chứng về vấn đề sức khỏe liên quan, trong việc
nhận diện các mối nguy hại các nhà khoa học ước lượng tất cả các thông tin về những
Các loại phơi nhiễm
Qua đường
hô hấp
Qua da Qua đường
ăn uống
Chất bẩn lơ
lửng
Dòng khí vô
cơ
Hóa chất hữu cơ bay hơi
Phơi nhiễm đất
Sử dụng nước gia đình
Sử dụng nước, giải trí,vui chơi
Đất và cặn bã
Thực phẩm từ động vật
Nước uống
Thực phẩm Dưới nước
Hoa màu
Trang 14ảnh hưởng của chất độc gây ô nhiễm môi trường để đánh giá một cách đúng đắn những tác động của hóa chất lên con người Một bằng chứng tốt hơn, một số nhà khoa học cho rằng các chất độc gây ô nhiễm môi trường gây ra những vấn đề đặc biệt về sức khỏe Số lượng, kiểu và chất lượng của các bằng chứng đều quan trọng
Loại bằng chứng tốt nhất được thu thập từ các nghiên cứu trên con người Bằng chứng này có thể dưới dạng báo cáo từ trường hợp cụ thể như là những báo cáo của của những thầy thuốc về những con số bất thường của số lượng các trường hợp sử dụng thuốc đặc trị Một số các dạng nghiên cứu khác có thể thực hiện là so sánh số lượng các trường hợp đặc biệt trong một nhóm người với những mức phơi nhiễm khác nhau ( ví dụ như
số lượng người bị bệnh bạch cầu trong các công nhân sản xuất cao su)
Bởi vì những thông tin về các chất độc gây ô nhiễm môi trường còn hạn chế, các nhà khoa học thường tiến hành các thí nghiệm trên các động vật trong phòng thí nghiệm như
là chuột Các nghiên cứu trên động vật thường được tiến hành trong điều kiện được kiểm soát của phòng thí nghiệm Các nhà khoa học sẽ hiểu được những ảnh hưởng rất
đa dạng đối với sức khỏe bằng cách cho động vật phơi nhiễm với các chất ô nhiễm với
sự tập trung và thời gian có tính biến đổi
Khi chỉ dựa vào các nghiên cứu trên động vật, các nhà khoa học cần phải chấp nhận rằng các ảnh hưởng đối với sức khỏe của động vật cũng sẽ xảy ra đối với con người Các nhà khoa học luôn cố gắng sử dụng các loài động vật có cấu trúc cơ thể giống với người nhất
2.2.4.2 Ước lượng mối nguy hại
Đánh giá phơi nhiễm là một đánh giá phơi nhiễm ước lượng có bao nhiêu chất ô nhiễm con người hít vào trong suốt khoảng thời gian đặc biệt, cũng tốt như có bao nhiêu người
đã phơi nhiễm Bước này bao gồm cả các bước tiếp xúc hay phơi nhiễm chính trong HRA
Có nhiều nguồn phát thải chất độc gây ô nhiễm môi trường Chẳng hạn, một ống khói nhà máy hay hàng ngàn những xe ô tô chạy mỗi ngày có thể là nguồn của một chất gây
ô nhiễm đang xét Vì vậy bước đầu tiên trong việc đánh giá phơi nhiễm là xác định nguồn nào đang phát sinh chất gây ô nhiễm đó
Sau khi nhận biết được các nguồn gây ô nhiễm mối nguy hại về sức khỏe, bước tiếp theo sẽ xác định số lượng chất độc gây ô nhiễm môi trường đã được thải ra trong một thời gian nhất định và mức độ phát tán của nó
Người kĩ sư sử dụng các thiết bị kiểm tra hoặc những mô hình máy tính để ước lượng số lượng hoặc lưu lượng của chất gây ô nhiễm thải ra từ nguồn và số lượng chất gây ô