HỌC VIỆN TƯ PHÁP CƠ SỞ TẠI TP HỒ CHÍ MINH BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn Hành Chính Cơ Bản Mã hồ sơ HS HC 15 Diễn lần 02 Ngày diễn 16 01 2022 Họ và tên Lê Thanh Tùng Sinh ngày 06021990 Số báo danh 676 Lớp LS23 2E tại TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 01 năm 2022 14 NỘI DUNG I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC Vào ngày 1462016 ông Bùi Quang Hải (sinh năm 1971) và bà Đặng Thị Kim (sinh năm 1981), thường trú 17981, Trần Phú, phường 5, thành phố A, nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn : Hành Chính Cơ Bản
Mã hồ sơ : HS.HC 15
Diễn lần : 02
Ngày diễn: 16.01.2022
Họ và tên : Lê Thanh Tùng Sinh ngày 06/02/1990
Số báo danh : 676 Lớp : LS23.2E tại TP Hồ Chí Minh
TP Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 01 năm 2022
Trang 2NỘI DUNG
I/ TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC:
Vào ngày 14/6/2016 ông Bùi Quang Hải (sinh năm 1971) và bà Đặng Thị Kim (sinh năm 1981), thường trú 179/8/1, Trần Phú, phường 5, thành phố A, nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại bộ phận tiếp nhận và giao trả kết quả thuộc Ủy ban Nhân dân (UBND) thành phố A, diện tích 156,7 m2 đất ở căn nhà số 179/8/1 Trần Phú, Phường 5, Thành phố A Phần đất trên gồm 2 phần:
+ Phần thứ nhất: 102 m2 thuộc thửa 351 tờ bản đồ số 09 (bàn đồ năm 2000)
đã được ủy Ban Nhân Dân Thành Phố A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BM 62400 ngày 11/1/2013
+ Phần thứ 2: 54,7m2 trong thửa đất số 164, tờ bản đồ 09 (bản đồ năm 2000) phường 5, trên đất có dãy nhà cấp 4 do ông Mĩ xây năm 2000
Ngày 7/9/2016 chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố A có thông báo số 2728/TB- CNVPĐK về việc trả hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác cho Ông Hải và Bà Kim với lý do chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 5, Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ với những lý do sau: theo xác nhận của Ủy ban nhân dân phường 5 thì phần đất này có nguồn gốc là biển, theo quy hoạch hiện tại đến năm 2020 được Ủy ban nhân dân tỉnh H duyệt thì thuộc đất biển
Không đồng ý với với thông báo 2728/TB-CNVPĐK của chi nhánh văn phòng đăng ký đất, ông Hải và bà Kim đã nộp đơn khởi kiện ra tòa án nhân dân thành phố A
Ngày 9/12/2017 tòa án nhân dân TP.A ra bản án sơ thẩm sau đó hai ông/bà kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh H đã ban hành bản án phúc thẩm ngày 5/4/2018, bản án phúc thẩm số 04/2018/HC-PT buộc chi nhánh văn phòng đăng
ký đất đai nhận lại hồ sơ của ông Hải và Bà Kim và giải quyết các thủ tục tiếp theo quy định của pháp luật
Sau khi có bản án phúc thẩm vào ngày 20/4/2018 ông Hải và bà Kim nộp
hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại
bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ thuộc UBND thành phố A có biên nhận số 2018.086.08648 hẹn ngày 6/6/2018 có kết quả
Ngày 14/8/2018 chi nhánh văn phòng đăng ký đất TP.A ra văn bản số 4171/CNVPĐK-ĐKCG, trả lời về nguyên nhân chậm giải quyết hồ sơ đề nghị cáp giấy chứng nhận đối với phần diện tich 54,7m2 của ông Hải bà Kim, cụ thể UBND thành phố A đã có văn bản số 1133/UBND-TNMT ngày 09/3/2018 gửi
sở Tài Nguyên và Môi Trường về việc đề nghị hướng dẫn cấp giấy chứng nhận
Trang 3đối với trường hợp lấn, chiếm “sông, biển” trên địa bàn thành phố A, tuy nhiên
đến nay UBND chưa có văn bản chỉ đạo giải quyết cụ thể Do đó, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố A đã có phiếu chuyển sô 3187/PC-CNVPĐK chuyển hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận của ông bà đến phòng Tài nguyên và Môi trường cũng như Ủy ban nhân dân thành phố A để báo cáo UBND thành phố A xem xét cho ý kiến giải quyết hồ sơ
Ngày 24/8/2014 ông Hải làm đơn khiếu nại về việc chậm giải quyết cấp giấp chứng nhận quyền sử dụng đất đến Ủy ban nhân dân thành phố A chỉ ra lỗi sai về việc quá hạn giải quyết hồ sơ theo quy định và đồng thời yêu cầu Ủy ban chỉ đạo các cơ quan trực thuộc giải quyết dứt điểm ngay hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đất của ông nhưng không có phản hồi
Ngày 7/1/2019 ông/bà tiếp tục nộp đơn khiếu nại ủy ban nhân dân thành phố A chậm giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông theo bản án số 04/2018/HC-PT
Ngày 30/1/2019 ủy ban nhân dân thành phố A ra văn bản số 504/UBND-TNMT gửi cho ông Bùi Quang Hải - Đặng Thị Kim về việc tạm trả hồ sơ đăng
ký cấp giấy chứng nhận, cụ thể ngày 9/3/2018 UBND thành phố A đã có công văn số 1133/UBND-TNMT gửi sở Tài nguyên và Môi trường dể xin ý kiến hướng dẫn giải quyết, ngày 6/6/2018 sở Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản số 2847/STNMT-CCQLĐĐ gửi Tổng Cục quản lý đất đai xem xét hướng dẫn giải quyết, nên trong thời gian chờ chỉ đạo tạm trả hồ sơ ông Bùi Quang Hải
- Đặng Thị Kim và đề nghị ông bà đến bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để nhận lại hồ sơ
Ngày 18/3/2019 UBND thành phố A, đã ban hành văn bản số 1126/UBND-TNMT, giải quyết đơn khiếu nại ngày 7/1/2019, trả lời lý do tạm trả lại hồ sơ do vướng mắc trong việc áp dụng quy định của pháp luật, cần xin ý kiến hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau khi có văn bản hướng dẫn nếu đủ điều kiện thì UBND thành phố A sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định
Ngày 4/4/2019 không đồng ý với các phương án giải quyết của UBND thành phố A, ông/bà đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa án Nhân Dân Tỉnh H yêu cầu: tuyên Hủy văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A và buộc UBND thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với phần đất diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ 09 (bản đồ số 2000) phường 5, thành phố A theo quy định của pháp luật
II CÁC VẤN ĐỀ CẦN LÀM RÕ:
1 Vấn đề tố tụng:
Thẩm quyền của Tòa án:
Trang 4Theo quy định tại Khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy
định về thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh: “khiếu kiện quyết định hành chính,
hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án” Do đó, việc ông
Hải và bà Kim khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh H là phù hợp với quy định của pháp luật
Về tư cách đương sự:
- Người khởi kiện: ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim
- Người bị khởi kiện: ỦY ban nhân dân thành phố A
- Người liên quan: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố A, Chi nhánh văn
phòng đăng ký đất đai thành phố A, ông Bùi Xuân Mĩ và bà Nguyễn Thị Rộ
Về đối tượng khởi kiện:
- Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 của Ủy ban nhân dân
thành phố A
- Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A
2 Về nội dung:
Về yêu cầu khởi kiện:
Yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh H tuyên hủy văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A và buộc UBND thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ 09 (bản đồ số 2000) phường 5, thành phố A theo quy định của pháp luật
Về điều kiện khởi kiện:
Quyền khởi kiện:
các quyết định hành chính là các văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A về tạm ngưng giải quyết việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 54,7 m2 cho ông Hải bà Kim đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông bà
Chủ thể khởi kiện:
ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để thực hiện việc khởi kiện các quyết định hành chính theo quy định của pháp luật
Thời hiệu khởi kiện:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính 2015 quy
định về thời hiệu thời kiện: “01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết
định hành chính, hành vi hành chính”
Trang 5Ngày 4/4/2019 ông Hải và bà Kim nộp đơn khởi kiện đến Tòa án dân dân tỉnh H là cách khoảng 2 tháng 4 ngày kể từ ngày ban hành văn bản số 504/UBND-TNMT và cách chưa đến 1 tháng (16 ngày) kể từ ngày ban hành văn bản số 1126/UBND-TNMT của Ủy ban nhân dân thành phố A Vậy, thời điểm khởi kiện các văn bản hành chính của ông Hải và bà Kim vẫn còn nằm trong thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật
Các căn cứ của người khởi kiện:
Giấy tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả có mã hồ sơ số: 2018.08648 do Chi nhánh VP ĐK ĐĐ thành phố A; Văn bản số 504/UBND - TNMT ngày
30-01-2019 và Văn bản số 1126/UBND - TNMT ngày 18-3-30-01-2019 của UBND thành phố A; Công văn số 4171/CNVPĐK-ĐKCG của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố A ngày 14-8-2019; Văn bản cho nhà ngày 21/3/1993; Đơn xin sang tên cho nhà ngày 21/3/1993; Hợp đồng mua bản ( cho ) nhà ở ngày 14/4/2003; Giấy nộp tiền vào Ngân sách nhà nước của bà Kim ngày 24/7/2015; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất sổ 616 / CNSH ngày 07/4/1993; Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư; Đơn đăng ký , cấp GCNQSD đất ngày 28/4/2016 ); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Bùi Quang Hải , bà Đặng Thị Kim ngày 11/11/2013; Sơ đồ vị trí năm 2003; Thông báo số 47/2014/ TLST - HC về việc thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm TAND tỉnh H ngày 18/4/2019; Quyết định
số 52/2014 /QĐ - CCTLCC yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ TAND tỉnh H ngày 15/5/2019; Công văn số 119 / CV - TA của TAND tỉnh H ngày 07/8/2018 V/v cung cấp yêu cầu cung cấp chứng cứ; Đơn khiếu nại việc chậm giải quyết cấp GCNQSD đất ngày 24/8/2018; Công văn số 2847/STNMT - CCQLĐĐ của
Sở Tài nguyên và môi trường ngày 06/6/2018 V / v đề nghị hướng dẫn cấp GCNQSD đất đối với trường hợp lấn , chiếm “ sông , biển ”; Công văn số 4171/ CNVPĐK - ĐKCG của Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố A ngày 14/8/2018 V/v trả lời đơn đề ngh; Nghị định số 452/QĐ.UB ngày 19/2/2004 V/v xử phạt VP11C đối với ông bà về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng , quản lý nhủ và hạ tầng kỹ thuật; Trích bản đồ QSDĐ phường 5; Thiết kế nhà xin cho nhà; Thông báo số 2728/TB - CNVPDK của Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố A ngày 07/9/2016 v/v trả hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Sơ đồ vị trí thửa đất năm 2016; Quyết định số 653/
QĐ - UBND của UBND tỉnh H ngày 02/4/2014 v/v phê duyệt quy hoạch sử đất đến năm 2020 của TP.A; Hồ sơ quy hoạch khu dân cư; Danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSD đất, sở hữu nhà ở và tài sản gan liền với đất tại phường 5, Tp.A, tỉnh H; Xác nhận của UBND phường 5 ngày 13/7/2016 về nguồn gốc, quá trình sử dụng nhà, đất của ông Hải, bà Kim; Công văn số 1967/UBND - VP của UBND TP.A ngày 03/5/2019 V/v xin vắng mặt và
cử người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp 34
Căn cứ vào các quy định của Luật đất đai 2013 và các văn bản liên quan quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đình có
Trang 6đất có nguồn gốc lấn biển Căn cứ vào sự phù hợp mục đích quy hoạch tại thời điểm xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
III KẾ HOẠCH HỎI:
1.Hỏi người bị kiện ( người đại diện):
Mời đại diện của Ủy ban nhân dân thành phố A cho biết
- Ủy ban nhân dân thành phố A đã nhận đầy đủ hồ sơ xin cấp giấy chứng
nhận đối với phần đất 54,7 m2 của ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim?
- Ông/bà có đồng ý về việc phần đất 54,7 m2 của ông Hải bà Kim là phù
hợp với quy hoạch đất ở đô thị tại Quyết định 1352/QĐ-UBND ngày 27/6/2014?
- Ông/bà có đồng ý về việc hiện tại phần đất này không có bất kỳ tranh
chấp gì?
- Ông/bà có đồng ý về việc phần đất này đã được ông Hải bà Kim sử dụng
ổn định trước năm 1993 theo lời khai của những người trong phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất do Ủy ban nhân dân phường 5 lập ngày 21/6/2016?
- Ông/bà có ý kiến gì về việc thiếu trách nhiệm trong giải quyết hồ sơ của
Ủy ban nhân dân thành phố A, cụ thể là việc tạm trả hồ sơ – một quy chế không
có bất kỳ quy định pháp luật nào công nhận?
- Ông/bà có đồng ý văn bản số 1126 là văn bản giải quyết khiếu nại của
UBND thành phố A với ông Hải không?
- Ông/bà có đồng ý về việc giải quyết khiếu nại về nội dung và hình thức
được điều chỉnh theo luật khiếu nại?
- Ông/bà cho biết có phải từ khi ông Hải bà Kim nộp hồ sơ xin cấp giấy
chứng nhận từ ngày 20/4/2018 đến ngày nhận được văn bản trả lời số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 là 9 tháng? Tôi chỉ cần ông/bà xác nhận là đúng hay không
- Ông/bà cho biết có hay không việc ông Hải đã 2 gửi đơn khiếu nại trước
đó vào ngày 24/8/2018 để yêu cầu Ủy ban nhân dân giải quyết việc chậm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?
2.Hỏi người khởi kiện:
- Ông/bà thừa nhận có hay không việc từ trước đến nay gia đình Ông/bà đã
sử dụng ổn định trên phần đất từ trước năm 1993?
- Ông/bà cho biết trước giờ có ai tranh chấp phần đất 54,7 m2 với Ông/bà
hay gia đình ông Mỹ trước đó?
- Ông/bà cho biết sau khi nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đến khi nhận được văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 là hơn 04 tháng phải không?
Trang 7- Sau khi nộp hồ sơ đầy đủ và 15 ngày sau đó ông/bà có nhận được bất kỳ
thông báo nào về việc trả lời tiến độ giải quyết hay không?
- Việc ông/bà không được giải quyết cấp giấy chứng nhận mặc dù đã có
Bản án có hiệu lực của Tòa án có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông/bà một cách nghiêm trọng
IV/ LUẬN CỨ BÀO CHỮA HOẶC BẢO VỆ
Kính thưa Hội đồng xét xử
Kính thưa đại diện Viện kiểm sát
Tôi là luật sư Lê Thanh Tùng của Công ty Luật VTA Thuộc Đoàn luật sư
TPHCM
Được sự yêu cầu của ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim và sự chấp thuận của Quý tòa, tôi có mặt tại phiên toà hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim
Các văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A là các quyết định hành chính đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hải và
bà Kim, không thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
bà theo đúng quy định của pháp luật
Qua phần trình bày của phía người khởi kiện, người bị kiện và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa đã thể hiện rõ nội dung của vụ án ngày hôm nay Tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung tranh chấp trong vụ án này
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày một số ý kiến bảo vệ quyền lợi cho Người khởi kiện như sau: Người khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh H tuyên hủy văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A và buộc UBND thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất đối với phần đất diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản
đồ 09 (bản đồ số 2000) phường 5, thành phố A theo quy định của pháp luật Tôi khẳng định rằng yêu cầu trên của người khởi kiện là hoàn toàn phù hợp
và có cơ sở để chấp nhận bởi các quyết định hành chính thể hiện ở hình thức là hai văn bản 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A và buộc UBND thành phố A là không đúng với các quy định của pháp luật thể hiện ở các nội dung chính sau đây:
Trang 8+ Phần diện tích đất 54,7 m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ 09 (bản đồ số 2000) phường 5, thành phố A của ông Hải bà Kim có đầy đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
+ Việc Ủy ban nhân dân thành phố A cho rằng cho vướng mắc trong áp dụng các quy định của pháp luật là sự ngụy biện cho hành vi thực hiện không đúng theo quy định của pháp luật
+ Việc thiếu trách nhiệm trong quá trình giải quyết của Ủy ban nhân dân thành phố A thể hiện rất rõ qua các mốc thời gian của các văn bản hành
+ Văn bản 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A là sai thể thức và sai lý do ban hành quyết định giải quyết khiếu nại
Tôi xin trình bày cụ thể như sau:
Thứ nhất, Phần diện tích đất 54,7 m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ 09
(bản đồ số 2000) phường 5, thành phố A của ông Hải bà Kim có đầy đủ điều
kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về việc cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không
có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai thì cần những điều kiện sau:
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình khác từ trước ngày 15/10/1993
Phần đất có tổng diện tích 156,7 m2 được gia đình ông Bùi Xuân Mỹ và Nguyễn Thị Rộ sử dụng ổn định từ trước năm 1993, được thể hiện một cách cụ thể và chân thật tại “phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm
sử dụng đất” do Ủy ban nhân dân phường 5 lập ngày 21/6/2016, cụ thể trong văn bản này có các ý kiến của các ông bà: Đoàn Văn Nhu, Nguyễn Thị Nhủ, Bùi Quang Hải là những người sinh sống lâu năm tại nơi ông Mỹ bà Rộ sử dụng Tổng thể các ý kiến đề thể hiện ông Mỹ bà Rộ đã sử dụng ổn định toàn phần đất 156,7 m2 từ trước năm 1993
Hơn nữa, tại văn bản số 2728/TB-CNVPĐK ngày 7/9/2016 về việc trả hồ
sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố A gửi ông Hải Bà Kim đã thừa nhận trong phần nguồn gốc của phần đất 54,7 m2: “phần đất này trước đây là sàn phơi cá do ông Bùi Xuân Mĩ cất sàn từ trước năm 1993”
+ Được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất không có tranh chấp
Tại phiếu phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất do Ủy ban nhân dân phường 5 lập ngày 21/6/2016 có xác nhận của Ủy ban phường tại mục 3 về tình trạng đất đai là không có tranh chấp Trên thực tế, toàn phần diện tích đất từ khi ông Mỹ bà Rộ sử dụng cho đến khi ông Hải bà Kim nhận chuyển nhượng và tiếp tục sử dụng đều không có tranh chấp trên cả
Trang 9phần diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận và chưa được cấp giấy chứng nhận
+ Việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất
Tại văn bản số 2728/TB-CNVPĐK ngày 7/9/2016 về việc trả hồ sơ đăng
ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố A gửi ông Hải Bà Kim có thừa nhận theo quy hoạch chi tiết tỷ
lệ 1/2000 khu dân cư Nam Sân Bay, thành phố A được Ủy ban Nhân dân tỉnh BR-VT phê duyệt tại quyết định số 1400/QĐ-UBND ngày 10/5/2006; Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị thành phố A được Ủy ban Nhân dân thành phố A phê duyệt tại Quyết định số 03/2014/QĐ-UBND ngày 08/7/2014 thì thửa đất thuộc quy hoạch khu dân cư Chi tiết hơn nữa thì ngày 17/8/2017, chính phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố A cũng có văn bản số 2013/TNMT-QHKH xác định diện tích đất 54,7 m2 đất chưa được cấp giấy chứng nhận (liền
kề với diện tích 102 m2) thuộc quy hoạch đất ở đô thị
Từ những phân tích bám sát các yêu cầu của quy định pháp luật về điều kiện cấp giáy chứng nhận lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân như trên, phần đất 54,7 m2 đang sử dụng của ông Hải và bà Kim thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ
09 (bản đồ số 2000) phường 5, thành phố A là hoàn toàn đủ điều kiện cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Thứ hai, Việc Ủy ban nhân dân thành phố A cho rằng cho vướng mắc
trong áp dụng các quy định của pháp luật là sự ngụy biện cho hành vi thực hiện không đúng theo quy định của pháp luật
Tại khoản 2 điều 9 Luật Đất đai năm 2013 về việc khuyến khích đầu tư quy
định: nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động,
vật tư tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào các việc khai hoang, phục hóa, lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hóa vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Tại Khoản 3 khoản 5 khoản 6 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định:
“3 Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng hoặc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất thuộc trường hợp phải xin phép theo quy định của pháp luật về đất đai
mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thì thực hiện xử lý như sau:
a) Trường hợp đang sử dụng đất thuộc quy hoạch sử dụng đất cho các mục đích quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai thì Nhà nước thu hồi đất trước khi thực hiện dự án, công trình đó.
Trang 10Người đang sử dụng đất vi phạm được tạm thời sử dụng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng phải giữ nguyên hiện trạng đang sử dụng đất và phải
kê khai đăng ký đất đai theo quy định;
b) Trường hợp đang sử dụng đất không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất; người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”
“5 Người đang sử dụng đất ổn định trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, Điểm a và Điểm c Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều này mà không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định như sau:
a) Trường hợp thửa đất có nhà ở thì diện tích đất được công nhận theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 20 Nghị định này”
Việc đề nghị cấp giấy chứng nhận đối với phần đất 54,7 m2 của ông Hải bà Kim hoàn toàn phù hợp với các quy định trên của pháp luật về đất lấn biển được cấp giấy chứng nhận vì xuất phát từ nguồn gốc đất thuộc nhóm lấn chiếm biển -đất nhà nước chưa sử dụng và nay đã phù hợp quy hoạch sử dụng -đất
Tuy nhiên, việc không giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hải bà Kim thể hiện qua văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 của UBND thành phố A đã thể hiện sự tắc trách trong công việc thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật Việc Ủy ban nhân dân thành phố A viện dẫn các quy định và cho rằng còn chưa thống nhất trong việc cấp đất đối với trường hợp của ông Hải và bà Kim là hoàn toàn không có cơ sở theo quy định của pháp luật
Văn bản số 504/UBND-TNMT về việc tạm trả hồ sơ của ông Hải bà Kim chỉ là vấn đề biện minh cho hành động kéo dài việc đùn đẩy trách nhiệm mà thôi Thiết nghĩ nếu như đây là văn bản tạm trả hồ sơ để chờ hướng dẫn của cấp trên vậy ông Hải bà Kim phải chờ đến khi nào? Và nếu Tổng cục quản lý đất đai
có văn bản không giải quyết việc cấp giấy chứng nhận cho ông Hải bà Kim thì
Ủy ban nhân dân thành phố A sẽ làm theo hướng không căn cứ vào các quy định của pháp luật dẫn mặc dù Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có quy định rất rõ ràng?
Thứ ba, việc thiếu trách nhiệm trong quá trình giải quyết của Ủy ban nhân
dân thành phố A thể hiện rất rõ qua các mốc thời gian của các văn bản hành Ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận từ ngày 20/4/2018 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố A, việc không giải quyết hồ sơ cũng như không có bất kỳ văn bản nào báo cáo về tiến độ giải quyết hồ sơ cho ông Hải bà Kim Cho đến tận 04 tháng sau là ngày 14/8/2018 khi ông Hải và bà Kim có nộp đơn yêu cầu Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố A trả lời về việc chậm giải quyết hồ sơ thì nhận được văn bản số 4171/CNVPĐK-DKCG trả lời về việc chậm cấp giấy chứng nhận,