Hơn nữa, đặt trưng của nước thải tinh bột là hàm lượng chất hữu cơ cao dễ phân hủy, giá trị BOD, COD cao thì việc áp dụng phương pháp sinh học là một giai đoạn không thể thiếu trong hệ t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
TP Hồ Chí Minh, 03/2011
Trang 2Đầu tiên con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ba Mẹ người đã sinh thành, nuôi nấng dạy dỗ và tạo mọi điều kiện cho con có được ngày hôm nay Xin cảm ơn các anh, chị và những người bạn thân đã luôn động viên tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng toàn thể quý thầy cô trường Đại Học
Kỹ Thuật Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là quý thầy cô khoa Môi trường
và Công nghệ sinh học đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt khóa học tại trường
Xin chân thành cảm tạ và biết ơn sâu sắc Cô Đặng Vũ Hải Yến, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn tất cả những người bạn đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường
Xin chân thành cảm ơn!
TPHCM, ngày tháng năm 2011 Sinh viên thực hiện
Huỳnh Thị Thuận
Trang 4
Lời cảm ơn
Nhận xét của GVHD
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Danh mục hình
Danh mục chữ viết tắt
Chương I: Mở đầu 1
I.1 Đặt vấn đề 1
I.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
I.3 Nội dung nghiên cứu 2
I.4 Đối tượng nghiên cứu 2
I.5 Phương pháp nghiên cứu 2
I.6 Phạm vi nghiên cứu 2
Chương II: Tổng quan về nước thải tinh bột mì 3
II.1 Tổng quan về cây khoai mì 3
II.1.1 Phân loại khoai mì 3
II.1.2 Cấu tạo cây khoai mì 4
II.1.3 Thành phần hóa học 4
II.2 Tổng quan ngành công nghiệp sản xuất bột mì 7
II.2.1 Giới thiệu chung 7
II.2.2 Hiện trạng ngành chế biến tinh bột mì ở Việt Nam 8
II.2.2.1 Giới thiệu chung 9
II.2.2.2 Tình hình sản xuất tinh bột mì trong nước 9
II.2.2.3 Định hướng phát triển bền vững (Nông nghiệp) 10
II.2.2.4 Quy trình công nghệ sản xuất tinh bột mì 10
II.3 Hiện trạng ô nhiễm của ngành sản xuất tinh bột khoai mì 12
II.4 Tổng quan về nhà máy sản xuất tinh bột khoai mì Miwon – Tây Ninh 13
Trang 5II.4.2 Tổng quan về nhà máy sản xuất bột mì Miwon – Tây Ninh 13
II.4.2.1 Giới thiệu chung về nhà máy 13
II.4.2.2 Dây chuyền sản xuất bột mì của nhà máy 14
II.4.2.3 Nhu cầu nguyên liệu sản xuất 15
II.5 Nước thải trong chế biến tinh bột khoai mì 15
II.5.1 Nguồn phát sinh 15
II.5.2 Đặt tính nước thải của ngành sản xuất tinh bột khoai mì 16
II.5.3 Tác động của nước thải chế biến tinh bột khoai mì đến môi trường nước 16 II.5.3.1 Ảnh hưởng của pH 16
II.5.3.2 Ảnh hưởng của các chất hữu cơ 16
II.5.3.3 Ảnh hưởng của chất lơ lửng 16
II.5.3.4 Ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng 17
II.5.3.5 Ảnh hưởng của Cyanua 17
II.6 Phương pháp xử lý nước thải tinh bột khoai mì 17
II.6.1 Xử lý cơ học 17
II.6.2 Xử lý hóa học 17
II.6.3 Xử lý hóa lý 18
II.6.4 Xử lý sinh học 19
II.6.5 Các công nghệ xử lý đang được áp dụng và nghiên cứu tại Việt Nam 19
Chương III: Tổng quan cây lục bình 23
III.1 Cây Lục Bình 23
III.1.1 Nguồn gốc 23
III.1.2 Nơi sống 23
III.1.3 Phân loại 24
III.1.4 Cấu tạo 24
III.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 25
III.1.6 Sinh sản 26
III.2 Tổng quan về hồ sinh học 26
III.2.1 Hồ hiếu khí 26
Trang 6III.2.3 Hồ tùy nghi 27
III.3 Ưu – nhược điểm sử dụng thực vật thủy sinh trong xử lý nước thải 28
III.3.1 Ưu điểm: 28
III.3.2 Nhược điểm 28
Chương IV: Nội dung và phương pháp thí nghiệm 29
IV.1 Nghiên cứu tài liệu 29
IV.2 Nghiên cứu mô hình thực nghiệm 29
IV.2.1 Mô hình thí nghiệm 30
IV.2.1.1 Chuẩn bị Lục Bình và vật liệu thí nghiệm 30
IV.2.1.2 Xây dựng mô hình 30
IV.2.1.3 Thành phần nước thải đầu vào 30
IV.2.2 Thí nghiệm 30
IV.2.2.1 Khảo sát 1: Khảo sát ngưỡng nồng độ thích hợp cho Lục Bình 30
IV.2.2.2 Khảo sát 2: xác định nồng độ nước thải cây xử lý tốt nhất 31
IV.2.2.3 Khảo sát 3: khảo sát thời gian lưu nước 32
IV.2.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 32
IV.2.3 Phương pháp xử lý kết quả thí nghiệm 33
Chương V: Kết quả - Thảo luận 34
V.1 Thí nghiệm 34
V.1.1 Khảo sát 1: Khảo sát ngưỡng nồng độ thích hợp của Lục Bình 34
V.1.2 Khảo sát 2: khảo sát nồng độ thích hợp mà Lục Bình cho kết quả xử lý tốt nhất 36
V.1.2.1 Chỉ tiêu về lượng nước bay hơi của mô hình 36
V.1.2.2 Các chỉ tiêu hóa sinh học của nước thải đầu ra 37
V.2 Thảo luận chung 51
Chương V: Kết luận và kiến nghị 53
VI.1 Kết luận 53
VI.2 Kiến nghị 53
Trang 7Biểu đồ V.1: Cân bằng nước trong mô hình` 36
Biểu đồ V.2: Biến thiên BOD ở nồng độ 3% 39
Biểu đồ V.3: Biến thiên BOD ở nồng độ 5% 39
Biểu đồ V.4: Biến thiên BOD ở nồng độ 8% 39
Biểu đồ V.5: Biến thiên BOD ở nồng độ 10% 39
Biểu đồ V.6: Biến thiên COD ở nồng độ 3% 42
Biểu đồ V.7: Biến thiên COD ở nồng độ 5% 42
Biểu đồ V.8: Biến thiên COD ở nồng độ 8% 42
Biểu đồ V.9: Biến thiên COD ở nồng độ 10% 42
Biểu đồ V.10: Biến thiên N ở nồng độ 3% 44
Biểu đồ V.11: Biến thiên N ở nồng độ 5% 44
Biểu đồ V.12: Biến thiên N ở nồng độ 8% 44
Biểu đồ V.13: Biến thiên N ở nồng độ 10% 44
Biểu đồ V.14: Biến thiên P ở nồng độ 3% 47
Biểu đồ V.15: Biến thiên P ở nồng độ 5% 47
Biểu đồ V.16: Biến thiên P ở nồng độ 8% 47
Biểu đồ V.17: Biến thiên P ở nồng độ 10% 47
Biểu đồ V.18: Biến thiên SS ở nồng độ 3% 50
Biểu đồ V.19: Biến thiên SS ở nồng độ 5% 50
Biểu đồ V.20: Biến thiên SS ở nồng độ 8% 50
Biểu đồ V.21: Biến thiên SS ở nồng độ 10% 50
Trang 8Hình II.1 Cây khoai mì 3
Hình II.2: Sơ đồ quy trình chế biến tinh bột khoai mì 11
Hình II.3 Sơ Đồ Công Nghệ Chế Biến Tinh Bột Mì 14
Hình III.1: Cây lục bình 23
Hình IV.1 Mô hình thí nghiệm 30
Hình V.1: Phản ứng của lục bình ở nồng độ 3% 35
Hình V.2: Phản ứng của lục bình ở nồng độ 5% 35
Hình V.3: Phản ứng của lục bình ở nồng độ 15% 35
Hình V.4: Phản ứng của lục bình ở nồng độ 20% 35
Hình V.5 Biến thiên BOD ở nồng độ 3% 38
Hình V.6 Biến thiên BOD ở nồng độ 5% 38
Hình V.7 Biến thiên BOD ở nồng độ 8% 39
Hình V.8 Biến thiên BOD ở nồng độ 10% 39
Hình V.9 Biến thiên COD ở nồng độ 3% 41
Hình V.10 Biến thiên COD ở nồng độ 5% 41
Hình V.11 Biến thiên COD ở nồng độ 8% 41
Hình V.12 Biến thiên COD ở nồng độ 10% 41
Hình V.13 Biến thiên N ở nồng độ 3% 43
Hình V.14 Biến thiên N ở nồng độ 5% 43
Hình V.15 Biến thiên N ở nồng độ 8% 44
Hình V.16 Biến thiên N ở nồng độ 10% 44
Hình V.17 Biến thiên P ở nồng độ 3% 46
Hình V.18 Biến thiên P ở nồng độ 5% 46
Hình V.19 Biến thiên P ở nồng độ 8% 47
Hình V.20 Biến thiên P ở nồng độ 10% 47
Hình V.21 Biến thiên SS ở nồng độ 3% 48
Hình V.22 Biến thiên SS ở nồng độ 5% 48
Trang 9Hình V.24 Biến thiên SS ở nồng độ 10% 49
Trang 10Bảng II.1: Thành phần hóa học của củ khoai mì 5
Bảng II.2: Thành phần hóa học của củ và bã khoai mì 5
Bảng II.3: Thống kê số liệu về diện tích, sản lượng và năng suất khoai mì tính trên cả nước trong giai đoạn 2001 – 2006 8
Bảng II.4: Một số nhà máy sản xuất tinh bột khoai mì tại các tỉnh miền Nam 9
Bảng II.5: Tải lượng ô nhiễm do nước thải tinh bột khoai mì tại Việt Nam 12
Bảng II.6: các thông số nước thải ngành sản xuất tinh bột khoai mì 16
Bảng II.7: Hiện trạng áp dụng công nghệ xử lý nước thải tại một số nhà máy chế biến tinh bột khoai mì 21
Bảng III.1: Thành phần hóa học và gía trị dinh dưỡng của Lục Bình 25
Bảng IV.1 Thành phần nước thải đầu vào 30
Bảng IV.2 Các chỉ tiêu hóa sinh học của nước thải tinh bột khoai mì pha loãng 31 Bảng IV.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 32
Bảng IV.5 Các phương pháp dùng để phân tích các chỉ tiêu môi trường 33
Bảng V.1 Biểu hiện của Lục Bình trong quá trình khảo sát 34
Bảng V.2 Lượng nước sử dụng cho các thành phần trong mô hình 36
Bảng V.3 Chỉ tiêu BOD5 của nước thải sau xử lý 38
Bảng V.4 Chỉ tiêu COD của nước thải sau xử lý 41
Bảng V.5 Chỉ tiêu N tổng của nước thải sau khi xử lý 43
Bảng V.6 Chỉ tiêu Phospho tổng của nước thải sau khi xử lý 46
Bảng V.7Chỉ tiêu SS của nước thải sau khi xử lý 49
Bảng V.8 Các chỉ tiêu nước thải sau thời gian lưu 7 ngày 51
Trang 11BOD5 Nhu cầu oxy sinh học
Trang 12mì được trồng trên 100 nước của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Năm 2006 và
2007, sản lượng sắn thế giới đạt 226,34 triệu tấn củ tươi Trong đó, Việt Nam đứng thứ mười với 7,71 triệu tấn
Nhu cầu sử dụng nước trong sản xuất tinh bột khoai mì là rất lớn nên sau khi sử dụng cũng thải ra môi trường một lượng nước thải tương đương Nếu không có biện pháp xử lý trước khi thải bỏ, hàm lượng chất hữu cơ trong nước thải sẽ gây ô nhiễm đến nguồn nước mặt và diện tích đất đai xung quanh vùng xã thải do quá trình phân hủy chất hữu cơ trong tự nhiên Nghiêm trọng hơn nếu chất hữu cơ ngấm xuống tầng nước ngầm, chúng sẽ phá hủy chất lượng nguồn nước ảnh hưởng đến môi trường sống của cả cộng đồng dân cư trong khu vực Nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội trong xu hướng phát triển bền vững của nước ta cũng như thế giới Việc nghiên cứu biện pháp quản lý và xử
lý thích hợp đối với chất thải từ sản xuất tinh bột khoai mì là điều cần thiết
Công nghệ xử lý nước thải nói chung và nước thải sản xuất tinh bột khoai mì nói riêng ngày càng đi sâu vào áp dụng công nghệ sinh học Hơn nữa, đặt trưng của nước thải tinh bột là hàm lượng chất hữu cơ cao dễ phân hủy, giá trị BOD, COD cao thì việc áp dụng phương pháp sinh học là một giai đoạn không thể thiếu trong hệ thống xử lý Hiện nay, thực vật thủy sinh cũng là một lựa chọn chiếm ưu thế trong việc xử lý nước thải do hiệu quả cao và giá thành thấp Xuất phát từ nhu cầu trên, đề tài của tôi trong khóa luận này là “nghiên cứu hiệu quả xử lý nước thải tinh bột khoai mì bằng Lục Bình”
Trang 13I.2 Mục tiêu nghiên cứu
_ Dùng cây bèo Lục Bình để xử lý nước thải chế biến tinh bột khoai mì Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải tinh bột khoai mì bằng Lục Bình
I.3 Nội dung nghiên cứu
Tiến hành phân tích các chỉ tiêu đầu vào của nước thải sau khi lấy từ nhà máy sản xuất bột mì Miwon – Tây Ninh
Tiến hành chạy mô hình thí nghiệm và phân tích các chỉ tiêu đầu ra
Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải tinh bột khoai mì bằng Lục Bình
I.4 Đối tượng nghiên cứu
Bèo Lục Bình
Nước thải nhà máy sản xuất bột mì Miwon – Tây Ninh
I.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu: tổng hợp các tài liệu liên quan về nước thải, nước thải tinh bột khoai mì, công nghệ sinh học xử lý nước thải bằng thực vật thủy sinh
- Phương pháp xây dựng mô hình thực nghiệm: xây dựng mô hình thí nghiệm quy mô phòng thí nghiệm nhằm xác định các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng nước
Trang 14CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI TINH BỘT MÌ
II.1 Tổng quan về cây khoai mì
II.1.1 Phân loại khoai mì
Giới (regnum): Plantae
Ngành (divisio): Magliophyta
Lớp (Class): Magnoliopsida
Bộ (ordo): Malpighiales
Họ (familia): Euphorbiaceae
Phân họ (subfamilia): Crotonoideae
Tông (tribus): manihoteae
Chi (genus): Manihot
Loài (species): M esculenta
Cây khoai mì có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh (Crantz, 1976) và được trồng cách đây khoảng 5.000 năm (CIAT, 1993) Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết tại vùng đông bắc của nước Brazil thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (De Candolle 1886; Rogers, 1965) Trung tâm phân hóa phụ có thể tại Mexico và vùng ven biển phía bắc của Nam Mỹ Bằng chứng về nguồn gốc sắn trồng là những di tích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2.700 năm trước Công nguyên, di vật thể hiện củ sắn ở cùng ven biển Peru khoảng
2000 năm trước Công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía Bắc Colombia niên đại khoảng 1.200 năm trước Công nguyên, những hạt tinh bột trong phân hóa thạch được phát hiện tại Mexico có tuổi từ năm 900 đến năm 200 trước Công nguyên (Rogers 1963, 1965)
Cây khoai mì được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của châu Phi vào thế
kỷ 16 Tài liệu nói tới sắn ở vùng này là của Barre và Thevet viết năm 1558 Ở châu
Á, sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ 17 (P.G Rajendran et al, 1995) và Sri Lanka đầu thế kỷ 18 (W.M.S.M Bandara và M Sikurajapathy, 1992) Sau đó, sắn được trồng ở Trung Quốc, Myanma và các nước châu Á khác ở cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 (Fang Baiping 1992 U Thun Than 1992) Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18, (Phạm Văn Biên, Hoàng Kim, 1991) Hiện chưa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên
Hình II.1 Cây khoai mì
Trang 15Ở nước ta cây mì được trồng khắp nơi từ Bắc vào Nam, nhiều nhất là ở vùng trung du miền núi Hiện nay mì là một trong những loại cây hoa màu quan trọng trong
cơ cấu lương thực của nước ta
II.1.2 Cấu tạo cây khoai mì
Cây khoai mì là loại cây lương thực đứng thứ ba trên thế giới sau mía và gạo Khoai mì có hàm lượng carbonhydrat cao hơn 40% so với gạo, 25% so với ngô
Củ mì thường có dạng hình trụ, vuốt hai đầu Kích thước tùy thuộc vào thành phần dinh dưỡng của đất và điều kiện trồng, dài 0,1 – 1m, đường kính 2 – 10cm Cấu tạo gồm bốn phần chính: lớp vỏ gỗ, vỏ cùi, phần thịt củ và phần lõi
Vỏ gỗ gồm những tế bào xếp sít, thành phần chủ yếu là cellulose và hemicellulose, không có tinh bột, có vai trò bảo vệ củ khỏi những tác động bên ngoài
Vỏ gỗ mỏng, chiếm 0,5 – 5% trọng lượng củ Khi chế biến, phần vỏ gỗ thường kết dính với các thành phần khác như: đất, cát, sạn và các chất hữu cơ khác Vỏ cùi dày hơn vỏ gỗ, chiếm 5 – 20% trọng lượng củ Gồm các tế bào thành dày, thành tế bào chủ yếu là cellulose, bên trong tế bào là các hạt tinh bột, các chất chứ nitrogen và dịch bào Trong dịch bào có tanin, sắc tố, độc tố, các enzyme,…Vỏ cùi có nhiều tinh bột (5 – 8%) nên khi chế biến nếu tách bỏ đi thì sẽ tổn thất tinh bột trong củ, nếu không tách thì nhiều chất dịch sẽ làm ảnh hưởng đến màu sắc của tinh bột
Thịt củ khoai mì là thành chủ yếu trong củ, gồm các tế bào nhu mô thành mỏng là chính, thành phần chủ yếu là cellulose, pentosan Bên trong tế bào là các hạt tinh bột, nguyên sinh chất, glucide hòa tan và nhiều nguyên tố vi lượng khác Những
tế bào xơ bên ngoài chứa nhiều tinh bột, càng vào phía trong hàm lượng tinh bột cang giảm Ngoài các tế bào nhu mô còn có các tế bào thành cứng không chứa tinh bột, cấu tạo từ cellulose nên cứng như gỗ gọi là xơ
Lõi củ khoai mì ở trung tâm dọc từ cuống đến chuôi củ Ờ cuống lõi to nhất rồi nhỏ dần tới chuôi, chiếm 0,3 – 1% trọng lượng củ Thành phần lõi là cellulose và hemicellulose
II.1.3 Thành phần hóa học
Thành phần hóa học thay đổi tùy theo giống cây trồng, tính chất, độ dinh dưỡng của đất, độ phát triển của cây và thời gian thu hoạch
Trang 16Bảng II.1: Thành phần hóa học của củ khoai mì
Bảng II.2: Thành phần hóa học của củ và bã khoai mì
1 – 1,45
1 – 1,4 Vết Vết 6,6 – 10,2
12,5 – 13 51,8 – 63 12,8 – 14,5 1,5 – 2 0,58 – 0,65 0,37 – 0,43 0,008 – 0,009 1,95 – 2,4
4 – 8,492 (Hội thảo giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp chế biến tinh bột mì Hà Nội, 1/98)
Trang 17Đặc biệt trong củ khoai mì còn chứa độc tố Cyanua CN
thường có trong các chóp củ, nhất là các vùng bị rễ tranh ăn luồn vào hay khi chăm bón đụng phải Khi củ chưa đào nhóm này ở dạng glucozite gọi là phaseolutanin
hủy thành glucose, acetone và acid cyahyrit (HCN) Như vậy sau khi đào củ khoai mì mới xuất hiện HCN tự do, vì khi đào để tự vệ thì các enzyme trong củ mới bắt đầu hoạt động mạnh, đặc biệt xuất hiện nhiều trong khi chế biến và sau khi ăn (trong dạ dày người có chứa acid và dịch trong chế biến cũng là môi trường acid) Phaseolutanin tập trung ở vỏ cùi, dễ tách trong quá trình chế biến, hòa tan tốt trong nước, kém tan trong rượu etylic và metylic, rất ít hòa tan trong cloroform và hầu như không tan trong ether
Các hợp chất Cyanua được phân thành bốn nhóm chính:
_ Nhóm hợp chất cyanua đơn giản, tan và độc như: axit cyahyric (HCN) và muối cyanua NaCN, KCN,
dạng phân tán nhỏ, chúng xâm nhập vào cơ thể dưới tác dụng của môi trường axit của dịch vị chúng sẽ chuyển sang trạng thái đơn giản tan và gây nhiễm độc
Vì hòa tan độc tố trong nước nên khi chế biến, độc tố sẽ theo nước dịch ra ngoài Tuy thuộc vào giống đất và cây trồng mà hàm lượng độc tố có thể thay đổi từ 0,0001 – 0,004% CN- gây độc tính cao đối với người và thủy sinh vật Cân CN- ngăn cản các quá trình chuyển hóa các ion vào da, túi mât, thận ảnh hưởng tới quá trình phân hóa tế bào thần kinh Hàm lượng cyanua cao ảnh hưởng tới mạch máu não Triệu chứng ban đầu là co giật sau đó dẫn đến vỡ mạch máu não CN- gây độc cho cá, động vật hoang
dã, vật nuôi Đối với cá, CN
độc ở liều lượng 4 – 5 mg/l Đó là lý do tại sao việc khử
CN- rất quan trọng đối với hệ thống xử lý nước thải nhà máy tinh bột mì
Trang 18Ở Việt Nam, ngành chế biến khoai mì phát triển ở thế kỷ 16, ở những năm gần đây do nhu cầu phát triển của ngành chăn nuôi và ngành chế biến thực phẩm tinh bột
mì bắt đầu gia tăng, sản lượng bột mì hàng năm đạt hơn 3 triệu tấn theo Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn dự báo sản lượng tinh bột mì vào năm nay của nước
ta đạt khoảng 600.000 tấn Theo sự gia tăng về sản lượng là lượng nước thải sản xuất cũng theo đó tăng lên Ước tính trung bình những năm gần đây, ngành chế biến tinh bột khoai mì (bao gồm nhà máy chế biến và hộ gia đình) đã thải ra môi trường 500.000 tấn bã thải và 15 triệu m3
nước thải mỗi năm Thành phần chủ yếu của các loại nước thải này là các hợp chất hữu cơ, các chất này khi thải ra ngoài môi trường nhanh chóng bị phân hủy và gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường đất, nước, không khí,… ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư trong khu vực Hiện nay, ở một số nhà máy nồng độ COD trong nước thải vượt TCVN hàng trăm lần Đó là lý do vì sao việc
xử lý nước thải sản xuất tinh bột khoai mì là vấn đề quan trọng hiện nay
II.2 Tổng quan ngành công nghiệp sản xuất bột mì
II.2.1 Giới thiệu chung
Tinh bột khoai mì là nguồn cung cấp thực phẩm cho hơn 500 triệu người trên thế giới (theo Cock, 1985; Jackson & Jackson, 1990) Tinh bột khoai mì cung cấp 37% calories trong thực phẩm của Châu Phi, 11% ở Mỹ La Tinh và 60% ở các nước Châu Á (Lancaster etal, 1982)
Tinh bột mì được các nước trên thế giới sản xuất nhiều để tiêu thụ và xuất khẩu Brazil sản xuất khoảng 25 triệu tấn/năm, Nigeria, Indonesia và Thái Lan cũng sản xuất một lượng lớn chủ yếu để xuất khẩu (CAIJ, 1993) Châu Phi sản xuất khoảng 85,2 triệu tấn/năm (1997), Châu Á 48,6 triệu tấn/năm và 32,4 triệu tấn do Mỹ La Tinh
và Caribbean (FAO, 1998)
Ở Việt Nam, do không có đủ điều kiện xây dựng các nhà máy chế biến nên ngành công nghiệp chế biến tinh bột mì bị hạn chế Các cơ sở sản xuất phân bố theo quy mô hộ gia đình, sản xuất trung bình và sản xuất lớn
II.2.2 Hiện trạng ngành chế biến tinh bột mì ở Việt Nam
II.2.2.1 Giới thiệu chung
Việt Nam đứng thứ 3 trên thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu tinh bột mì hiện nay (sau Indonesia và Thái Lan)
Sản lượng tinh bột mì xuất khẩu đạt 180 – 350 nghìn tấn/năm
Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật, Singapore, Malaysia, Hàn quốc và Đông Âu
Trang 19Sản phẩm được chế biến từ khoai mì: tinh bột mì, bột ngọt, acid glutamate, acid amin, thức ăn gia súc, phân bón hữu cơ,…
II.2.2.2 Tình hình sản xuất tinh bột mì trong nước
Diện tích trồng mì trên cả nước chủ yếu tập trung ở các khu vực:
_ Đông Bắc sông Hồng: Vĩnh Phúc, Hà Tây
_ Đông Bắc: Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai
_ Tây Bắc: Sơn La, Hòa Bình
_ Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An
_ Duyên Hải Nam Trung Bộ: Quãng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định, Phú Yên
_ Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông
_ Đông Nam Bộ: Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Thuận Trong đó Gia Lai là tỉnh có diện tích trồng khoai mì lớn nhất nước (Gia Lai: 47.695 ha; Tây Ninh: 45.137 ha – số liệu thống kê 2006)
Theo ước tính:
Khoảng 12% khoai mì được tiêu thụ trực tiếp
17% dùng trong trang trại
22% dùng cho thức ăn gia súc
49% củ khoai mì được bán dùng trong quá trình sản xuất tinh bột mì
Bảng II.3: Thống kê số liệu về diện tích, sản lượng và năng suất khoai mì tính
trên cả nước trong giai đoạn 2001 – 2006
Trang 20Bảng II.4: Một số nhà máy sản xuất tinh bột khoai mì tại các tỉnh miền Nam
Tân Châu – Singapore
Tây Ninh - Tapioka
(Hội thảo chuyên đề: Phát triển cụm công nghiệp sinh thái cho ngành chế biến tinh
bột khoai mì tại Việt Nam, 2007)
II.2.2.3 Định hướng phát triển bền vững (Nông nghiệp)
Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn đến năm 2010, các giống khoai mì được tiến hành trồng rộng rãi là: KM60, KM64, KM94, KM95, H34, Ấn Độ
Ở các vùng như: Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Tây Ninh, Kon Tum, Bình Phước
Thúc đẩy liên kết giữa các nông trại trồng trọt và công ty chế biến khoai mì quy mô nhỏ với các tổ chức, hội phát triển cây khoai mì trong và ngoài nước
II.2.2.4 Quy trình công nghệ sản xuất tinh bột mì
Nguồn nguyên liệu chính sản xuất tinh bột khoai mì có hai loại: củ mì tươi và
mì lát khô
Trang 21Tóm tắt quy trình chế biến khoai mì từ khoai mì tươi:
Củ từ bải nguyên liệu được băng tải chuyển lên khâu rữa
Khâu rữa có hai phần: rửa sơ bộ và rửa ướt Quá trình rữa sơ bộ là để tách lượng đất cát trên củ, khâu rửa ướt tách hết phần đất cát còn lại và một phần lớn vỏ củ (lớp vỏ mỏng ngoài)
Sau khi rửa, củ được đưa vào máy cắt, cắt thành những lát nhỏ giúp cho quá trình mài sát được thuận lợi
Những mảnh nguyên liệu được đưa vào máy nghiền (mài xát + xay) Tại đây chúng được nghiền nhỏ và giải phóng một lượng lớn tinh bột tự do làm tăng hiệu xuất thu hồi bột của cả quá trình
Sau khi nghiền, hỗn hợp sệt được ly tâm để lấy dịch bào
Sau khi tách được một lượng lớn dịch bào, hỗn hợp sệt được đưa vào ly tâm tách bã với kích thước lỗ rây giảm dần từ khâu đầu đến khâu cuối Trong khâu này có
bổ sung vào SO2 0,05% khối lượng để kiềm chế các quá trình sinh hóa (phân hủy gây chua bột), đồng thời giữ màu tắng cho tinh bột
Sữa bột thu từ quá trình tách bã trên sẽ được đưa qua hệ ly tâm siêu tốc nhằm tách hết lượng dịch bào còn lại và thu hồi tinh bột
Lượng sữa bột tinh thu được, được đưa qua hệ thống ly tâm tách nước, nha92m mục đích giảm lượng nước để tăng cường hiệu quả cho quá trình sấy phía sau Lượng bột ẩm thu được sẽ đưa qua hệ thống sấy khhgi1 thổi Sau đó dược làm mát, sàng và đóng bao
Trang 22Li tâm tách bã Nước
Hình II.2: Sơ đồ quy trình chế biến tinh bột khoai mì
NƯỚC THẢI CẦN XỬ LÝ Tách nước
Bột thành phẩm
Li tâm siêu tốc tách dịch bào lần 2
Sấy Kho
Trang 23II.3 Hiện trạng ô nhiễm của ngành sản xuất tinh bột khoai mì
Khu vực miền Nam có khoảng 15 – 20 nhà máy chế biến tinh bột khoai mì quy mô lớn, có thể kể đến như: nhà máy chế biến tinh bột khoai mì KMC (Bình Phước), nhà máy chế biến tinh bột khoai mì của công ty VEDAN (Bình Phước), công
ty liên doanh bột mì VINAFOOD-GCR, nhà máy tinh bột khoai mì Bình Thuận, xí nghiệp liên doanh TAPIOCA Việt Thái, công ty tinh bột sắn Phú Yên, công ty tinh bột khoai mì Quãng Ngãi,…
Tại Bình Định, các cơ sở sản xuất như: Quốc Khánh và Tiến Phát, chất thải đã gây ô nhiễm nghiêm trọng trên một vùng rộng lớn Tuy nhà máy có hầm chứa nhưng không hề qua một hệ thống xử lý nào Nước thải rút xuống hầm rồi đổ ra suối Hố Mây, tràn vào đồng ruộng làm hư hại hoa màu của dân Cứ mùa mưa đến là nước bẩn mang theo bã mì rồi trôi lềnh bềnh trên ruộng, gây ghẻ lở cho người dân
Số liệu thống kê về tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải của một số nhà máy chế biến tinh bột khoai mì quy mô lớn tại Việt Nam thể hiện trong bảng sau:
Bảng II.5: Tải lượng ô nhiễm do nước thải tinh bột khoai mì tại Việt Nam STT Tên cơ sở công nghiệp Tải lượng ô nhiễm (kg/ngày)
1 Công ty cổ phần Vedan 15.600 30.060 38.700 326,4 8,28
2 Công ty khoai mì Tây
Ninh
7.800 15.030 19.350 163,2 4.14
3 Nhà máy chế biến tinh bột
Tân Châu – Singapore
3.900 7.515 9.675 81.6 2.07
4 Phân xưởng sản xuất tinh
bột khoai mì Phước Long
Trang 24II.4 Tổng quan về nhà máy sản xuất tinh bột khoai mì Miwon – Tây Ninh
II.4.1 Tình hình chung về ô nhiễm nước thải tinh bột khoai mi ở Tây Ninh
Theo con số thống kê của SKHCNMT, riêng tỉnh Tây Ninh có trên 300 cơ sở sản xuất thủ công nằm tập trung ở một số huyện như: Tân Biên, Tân Châu, Châu Thành, Dương Minh Châu,… Hầu hết hệ thống xử lý nước thải của các cơ sở rất sơ sài, không đạt tiêu chuẩn, gây ô nhiễm môi trường khu dân cư xung quanh, nguồn nước mặt sông và mạch nước ngầm bị ô nhiễm, …
Một số cơ sở có hệ thống xử lý nước thải bằng ao sinh học, song chưa xử lý hoàn chỉnh cộng với diện tích ao nhỏ, sạt lỡ khiến nước thải tràn ra bên ngoài, tác động xấu đến môi trường lân cận Nước thải từ lò mì làm các giếng nước lân cận đó không thể sử dụng được Muốn có nước sạch dùng trong sinh hoạt, người dân phải khoan giếng sâu từ 45m trở lên Thậm chí có lò mì cách trường học Trần Phú huyện Tân Biên gây mùi hôi thối nồng nặc Tình trạng ô nhiễm từ nước thải của các cơ sở sản xuất tinh bột khoai mì thủ công làm cho hàng loạt cá không thể sinh sống tại rạch Bến Đá (đoạn đổ ra sông Vàm Cỏ), rạch Tây Ninh
II.4.2 Tổng quan về nhà máy sản xuất bột mì Miwon – Tây Ninh
II.4.2.1 Giới thiệu chung về nhà máy
Tên nhà máy : Nhà máy chế biến tinh bột mì Miwon
Giai đoạn 1: Tiếp nhận nhà máy chế biến khoai mì có sẵn của Công ty Tân
Hoàng Minh (công suất sản xuất 60 tấn/ngày) vào ngày 06/12/2004 và đã chính thức
đi vào hoạt động từ ngày 01/03/2005;
Giai đoạn 2 (giai đoạn mở rộng nhà máy): Sau khi nhà máy của giai đoạn 1
hoạt động ổn định thì tiến hành lắp đặt dây chuyền chế biến tinh bột biến tính (công suất 50 tấn/ngày) và dây chuyền chế biến lỏng (công suất 20 tấn/ngày)
Sau khi tiếp nhận Công ty Tân Hoàng Minh, Công ty Miwon Việt Nam – Chi nhánh Miwon Tây Ninh đã tiến hành lập báo cáo đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường
và đã được Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tây Ninh cấp giấy chứng nhận số 458/STNMT – MT, ngày 19/08/2005
Trang 25Vị trí của nhà máy chế biến tinh bột mì Miwon – Tây Ninh được xác định như sau:
Toạ độ địa lý: 106019,195’ độ kinh Đông và 11019,695’ độ vĩ Bắc
Ranh giới:
_ Bắc giáp tỉnh lộ 781 và hồ Dầu Tiếng;
_ Nam đất màu trồng cây tràm;
_ Đông giáp nhà máy Trường An;
_ Tây giáp kênh tiêu thoát ra sông Sài Gòn (chiều dài kênh tiêu từ nhà máy đến điểm tiếp nhận nước thải tại sông Sài Gòn khoảng 4km)
II.4.2.2 Dây chuyền sản xuất bột mì của nhà máy
Hình II.3 Sơ Đồ Công Nghệ Chế Biến Tinh Bột Mì
Nguồn tin: Điều tra tổng hợp
Củ mì tươi
Tách tạp chất, vỏ gỗ
và bốc vỏ lụa
Băm nhỏ và nghiền nát Nước cấp
Bã, cát
Nước thải
Tách bã
Tách bột (vắt nước) Tách dịch
Dung dịch
SO2
Đóng bao Sấy khô
Nước thải
Thành phẩm
Nước thải
Trang 26II.4.2.3 Nhu cầu nguyên liệu sản xuất
Nguyên liệu chủ yếu của công ty là củ mì, Với lượng củ mì nhập vào công ty hàng ngày là khoảng 300 tấn Và nguyên liệu này chủ yếu là do người dân trong xã trồng trọt và cung cấp cho nhà máy Ngoài ra, các xã lân cận cũng cung cấp một lượng lớn loại nguyên liệu này
Ngoài củ mì, còn có các loại bao bì, bao nilon, v.v Chủ yếu được thu mua từ các công ty, các nhà máy sản xuất bao bì trong nước
Các thiết bị máy móc của công ty phần lớn được nhập từ nước ngoài, chủ yếu được nhập từ Nhật
II.5 Nước thải trong chế biến tinh bột khoai mì
II.5.1 Nguồn phát sinh
Quy trình sản xuất khoai mì có nhu cầu sử dụng nước rất lớn (15 – 20m3/tấn sản phẩm) Lượng nước thải mang theo một phần tinh bột không thu hồi hết trong sản xuất, các protein, chất béo, các chất khoáng… Trong dịch bào của củ và các thành phần SO32-, SO42- từ công đoạn tẩy trắng sản phẩm Lưu lượng thải lớn và có nồng độ chất hữu cơ rất cao (16 – 20 Kg COD/m3
nước thải) là một nguồn gây ô nhiễm lớn cho môi trường
Trong quy trình sản xuất này, nguồn gây ô nhiễm nước gồm nước thải rửa củ, nước thải nghiền củ, ly tâm, sàn loại sơ, lọc thô, khử nước và nước thải tách dịch: Trong công đoạn rửa: nước sử dụng trong công đoạn rửa củ mì trước khi lột vỏ để loại
bỏ các chất bẩn bám trên bề mặt Nếu rửa không đầy đủ, bùn bám trên củ sẽ làm cho màu của tinh bột sau này rất xấu Nước thải trong quá trình rửa củ, cắt vỏ có chứa bùn, đất, cát, mảnh vỏ, HCN tạo ra do phân hủy phazeolutanin trong vỏ thịt nhờ xúc tác của men cyanoaza…
Nước thải trong quá trình nghiền củ, lọc thô có nhiều tinh bột, protein và khoáng chất tách ra trong quá trình nghiền thô
Nước thải trong quá trình tách dịch có nồng độ chất hữu cơ cao (BOD), chất rắn lơ lửng nhiều (SS) Ngoài ra trong nước thải này còn chứa các dịch bào có Tanin, men và nhiều chất vi lượng có mặt trong củ mì
Tóm lại, lượng nước thải phát sinh từ nhà máy dự kiến có 10% bắt nguồn từ nước rửa
củ và 90% xả ra từ công đoạn ly tâm, sàng lọc, khử nước
Trang 27II.5.2 Đặt tính nước thải của ngành sản xuất tinh bột khoai mì
Nước thải chế biến tinh bột khoai mì có pH thấp, hàm lượng chất lơ lửng lớn, ô nhiễm cất hữu cơ cao và bị nhễm chất độc Cyanua Theo cảm quan nước thải có màu trắng đục, mùi chua, độ đục cao
Bảng II.6: các thông số nước thải ngành sản xuất tinh bột khoai mì
Độ pH quá thấp sẽ làm mất khả năng tự làm sạch của nguồn tiếp nhận
do các loài vi sinh vật có trong tự nhiên trong nước bị kiềm hãm phát triển Ngoài ra nước có tính axit sẽ gây ăn mòn, làm mất cân bằng trao đổi chất, ức chế sự phát triển bình thường của quá trình sống
II.5.3.2 Ảnh hưởng của các chất hữu cơ
Hàm lượng chất hữu cơ cao sẽ làm giảm nồng độ oxi hòa tan trong nước, làm ảnh hưởng đến đời sống thủy sinh vật của nguồn tiếp nhận Ngoài ra,
nó còn gây nên tình trạng ô nhiễm mùi
II.5.3.3 Ảnh hưởng của chất lơ lửng
Các chất rắn lơ lửng làm cho nước đục và có màu, làm hạn chế nguồn ánh sáng chiếu vào nước, cản trở quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh, giam3 lượng oxi sinh ra Mặt khác, phần cặn lắng xuống đáy sẽ gây bồi lắng
Trang 28lòng sông, cản trở sự lưu thông và làm thay đổi dòng chảy Phần cặn này sẽ bị phân hủy kị khí gây nên mùi hôi cho khu vực xung quanh
II.5.3.4 Ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng
Hàm lượng chất dinh dưỡng (N, P) quá lớn sẽ gây nên hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, sự phát triển khó kiểm soát của rong và tảo Khiến môi trường sống của nguồn tiếp nhận bị thay đổi và xấu đi
II.5.3.5 Ảnh hưởng của Cyanua
và HCN Nó gây ảnh hưởng độc trực đến hệ thủy sinh thực vật Nước ngấm xuống đất sẽ gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Tuy nhiên, ở điều kiện thích hợp HCN sẽ phân hủy tạo thành
II.6 Phương pháp xử lý nước thải tinh bột khoai mì
II.6.1 Xử lý cơ học
Tách các tạp chất thô ra khỏi nước như vỏ khoai mì và các đất cát trong nước rữa củ,…Các phương pháp thường dùng là song chắn rác, lắng trọng lực, lọc, tách ly Đây là một phương pháp xử lý sơ bộ nhằm đảm bảo cho các quá trình xử lý tiếp theo được ổn định
II.6.2 Xử lý hóa học
Trung hòa: là phương pháp xử lý thông dụng và đơn giản đối với chất ô nhiễm vô cơ, bằng cách thêm axit hoặc bazơ để điều chỉnh pH đến mức cho phép (6 – 9) Đồng thời hổ trợ quá trình xử lý sinh học
Oxy hóa khử: Phương pháp này có khả năng phân hủy hầu hết các chất hữu cơ và vô cơ trong nước, chuyển chất hữu cơ khó phân hủy sinh học thành
dễ phân hủy (nâng tỉ lệ BOD/COD), nó còn ứng dụng để khử độc một số chất hữu cơ: Cyanide, Ammonia,… Phương pháp này được thực hiện bằng cách thêm vào tác nhân oxy hóa, tác nhân khử với pH thích hợp Chất oxy hóa có thể sử dụng là: Cl, KmnO4, H2O2, O3, MnO2,… Quá trình này tiêu tốn một lượng lớn hóa chất nên chỉ sử dụng trong trường hợp những chất ô nhiễm không thể xử lý được bằng các phương pháp khác
Trang 29II.6.3 Xử lý hóa lý
- Keo tụ - tạo bông: Khử chất ô nhiễm dạng keo bằng cách sử dụng chất đông tụ để trung hòa điện tích các hạt keo nhằm liên kết chúng lại với nhau tạo nên bông cặn lớn có thể lắng trọng lực Chất đông tụ là muối nhôm, sắt hoặc hỗn hợp, PAC hiệu quả hoạt động trong khoảng pH = 5 – 7,5 Ngoài ra có thể kèm thêm các chất trợ keo tụ (Polimine) giúp nâng cao tóc độ lắng, rút ngắn thời gian cũng như lưu lượng chất keo tụ Phương pháp này giúp loại bỏ một lượng lớn chất rắn lơ lửng có trong nước thải tinh khoai mì, đồng thời làm giảm nồng độ COD, BOD
- Tuyển nổi: Thường sử dụng tách hợp chất lơ lửng nhỏ, không tan, nhẹ lắng chậm Chúng cũng có thể sử dụng để tách chất hòa tan, hoạt động bề mặt Quá trình thực hiện bằng cách tạo các bọt khí nhỏ, các bọt khí dính kết với các hạt kéo chúng lên bề mặt và sau đó được thu gom nhờ thiết bị vớt bọt Phương pháp có ưu điểm: cấu tạo thiết bị đơn giản, vốn đều tư và chi phí vận hành thấp,
có độ lựa chọn cao tách tạp chất, tốc độ cao hơn quá trình lắng
- Cơ học và hấp phụ: Chất lơ lửng nhỏ mịn, các vi hữu cơ bị loại qua quá trình lọc cát hay hấp phụ Phương pháp hấp phụ được sử dụng rộng rãi để làm sạch triệt để các chất hữu cơ hòa tan sau xử lý sinh học mà chúng có độc tính cao hoặc không thể phân hủy sinh học Chất hấp phụ là: thanh hoạt tính, các chất tổng hợp; một số chất thải của sản xuất: tro, xỉ, mạc sắt, khoáng chất, keo nhôm,… phương pháp này có hiệu quả cao ở xử lý giai đoạn cuối Phương pháp cũng có thể tái chế chất hấp phụ
- Trao đổi ion: Làm sạch tách khỏi nước chứa Cyanua,… Đây là quá trình mà các ion trên bề mặt vật rắn trao đổi với ion có cùng điện tích trong dung dịch khi chúng tiếp xúc nhau Chất trao đổi là các chất vô cơ có nguồn gốc tự nhiên, chất vô cơ tổng hợp Phương pháp có hiệu quả có ở giai đoạn cuối nhưng khá tốn kém, đòi hỏi phải tái sinh ionit (chất trao đổi ion)
Trang 30II.6.4 Xử lý sinh học
- Xử lý hiếu khí: Bao gồm quá trình bùn hoạt tính, hồ ổn định có sục khí, bể tiếp xúc sinh học, cánh đồng tưới,… Tuy nhiên các công trình xử lý thường chiếm diện tích lớn, nước thải tinh bột khoai mì có hàm lượng ô nhiễm rất cao nên xử lý hiếu khí tốn nhiều năng lượng do tiêu hao trong quá trình sục khí Phương pháp này chỉ thích hợp sau khi nước thải đã qua giai đoạn tiền xử
lý nhằm giảm nồng độ các chất ô nhiễm
- Xử lý kỵ khí: Gồm: USB, lọc kỵ khí, hệ thống lọc đệm giãn nở So với hiếu khí, xử lý kỵ khí cho thấy tính khả thi cao hơn và có nhiều điểm vượt trội hơn: chi phí đầu tư vận hành thấp, lượng hóa chất cần bổ sung ít, ít tốn năng lượng và có thể thu hồi tái sử dụng biogas, lượng bùn sinh ra thấp hơn nên có thể vận hành cao tải, giảm diện tích công trình
II.6.5 Các công nghệ xử lý đang đƣợc áp dụng và nghiên cứu tại Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 16 về chế biến tinh bột khoai mì trên thế giới, với mức sản xuất tinh bột mì đạt tới 2.050.300 tấn mỗi năm (Diệu, 2003)
Củ mì tươi được xem như là nguồn nguyên liệu thô để chế biến tinh bột mì Rất nhiều nhà máy chế biến tinh bột khoai mì đã được xây dựng và đưa vào hoạt động nhằm làm tăng giá trị của tinh bột mì, cung cấp tinh bột mì cho các ngành công nghiệp như dệt, giấy, thực phẩm, xà phòng, chất tẩy, dược phẩm, mỹ phẩm… Tinh bột khoai mì được sản xuất hàng năm tại Việt Nam khoảng 500.000 tấn (Diệu, 2003) Sự phát triển của ngành chế biến tinh bột mì đã dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt đối với các nguồn tiếp nhận nước thải Để sản xuất một tấn tinh bột mì, các nhà máy chế biến thải ra môi
nước thải (Hiển và cộng sự, 1999; Mai, 2004)
Kết quả khảo sát và đánh giá các thành phần và tính chất nước thải sinh
ra từ các nhà máy chế biến tinh bột mì cho thấy loại nước thải này có hàm lượng chất hữu cơ cao, COD (7.000 – 41.500 mg/l), BOD (6.200 – 23.000 mg/l) và SS (500 – 8.600 mg/l), pH thấp và dao động trong khoảng 4,2 – 5,7
khá cao (19 – 96 mg/l) Khả năng phân hủy
kỵ khí của nước thải tinh bột mì rất cao có thể đạt đến 92,3 – 93,3% đối với nước thải nguyên thủy, và đạt đến 94,6 – 94,7% đối với nước thải sau lắng sơ
Trang 31bộ (Mai, 2006) Do đó, đối với các nhà máy chế biến tinh bột mì, nước thải là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường
Hiện nay, xử lý nước thải tinh bột mì hầu như chỉ được áp dụng ở các nhà máy lớn bằng cách sử dụng hệ thống các hồ ổn định cùng với thực vật nước Tuy nhiên, thực tế vận hành của hệ thống đã cho thấy một số nhược điểm như phát sinh mùi, nhu cầu diện tích lớn và thời gian lưu nước dài (20 – 40 ngày) để các chất hữu cơ có thể phân hủy hoàn toàn Công nghệ xử lý như trên
sẽ cho kết quả đầu ra không ổn định và rất khó đạt tiêu chuẩn đầu ra của Việt Nam, thông thường là TCVN 5945 – 2005 cột B
Trong khi đó có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến xử lý nước thải tinh bột mì bằng quá trình xử lý hiếu khí và kỵ khí, chẳng hạn như bể FBMR (Siller
và cộng sự, 1997), dùng phản ứng acid hóa (Siller và cộng sự, 1998), bể UASB (Annachhatre và cộng sự, 1997; Huub và cộng sự, 2000), bể phản ứng UASB,
và hệ thống hồ oxy hóa (Hiển và cộng sự, 1999), bể methane (Olga và cộng sự, 1999), bể phản ứng khuấy trộn và kết hợp lắng (Paixaco và cộng sự, 2000), kết hợp giữa quá trình hiếu khí và kỵ khí (Oliveira et al., 2001), bể phản ứng kỵ khí
2 bậc dùng bùn hoạt tính dính bám (Nandy và cộng sự, 1995), và hệ thống hồ (Uddin, 1970; Yothin, 1975; Uddin, 1997; pescod et al, 1997; Nandy et al, 1995) Tuy vậy, có rất ít nghiên cứu được thưc hiện hoàn chỉnh, từ nước thải ban đầu cho đến đầu ra của hệ thống, để có thể đạt được tiêu chuẩn xả thải của địa phương
Để thúc đẩy công nghiệp chế biến tinh bột mì phát triển bền vững, nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá và xác định khả năng áp dụng phương pháp sinh học để xử lý đối với nước thải chế biến tinh bột tại việt nam
Hệ thống UASB (Upflow Anaerobic Sludge Blanket) được sử dụng để làm giảm COD và thu hồi năng lượng từ khí methane, sau hệ thống UASB, nước thải vẫn chứa một phần lượng chất hữu cơ,do đó sẽ tiếp tục xử lý triệt để bằng
hệ thống hiếu khí và hệ thống hồ sinh học Hệ thống hồ sinh học ngoài chức năng xử lý phần chất hữu cơ còn lại, loại nitơ, photpho, hệ thống hồ còn có khả năng là hồ dự trữ nước để tái sử dụng cho nông nghiệp, là hệ thống đảm bảo an toàn khi có sự cố đối với hệ thống xử lý Công nghệ kết hợp giữa các bể phản
Trang 32ứng cao tải và hệ thống xử lý hồ có ưu điểm hơn nhiều so với hệ thống xử lý chỉ dùng hồ sinh học như: nhu cầu diện tích thấp, ít sinh mùi, và nước thải sau
xử lý có thể đạt tiêu chuẩn địa phương trước khi xả thải ra môi trường
Thống kê hiện trạng áp dụng công nghệ xử lý nước thải tại các nhà máy chế biến tinh bột khoai mì quy mô lớn miền Nam như sau:
Bảng II.7: Hiện trạng áp dụng công nghệ xử lý nước thải tại một số nhà
máy chế biến tinh bột khoai mì
phương
Công nghệ/công suất
Tình trạng thực tế
Chưa đạt TCVN
5945 – 1995 (Loại B) do quá tải về công suất
tinh bột khoai mì
Quảng Ngãi
Quảng Ngãi
Hồ kỵ khí, hồ sinh học tùy nghi – 750
Chưa đạt TCVN
5945 – 1995 (Loại B) do quá tải về công suất
tinh bột khoai mì
KMC
Bình Phước
Hồ kỵ khí, hồ sinh học tùy nghi – 2.000
Chưa đạt TCVN
5945 – 1995 (Loại B) do quá tải về công suất
Chưa đạt TCVN
5945 – 1995 (Loại B) do quá tải về công suất
khoai mì Phước Long
Bình Phước
Hồ kỵ khí, hồ sinh học tùy nghi – 4.000
Chưa đạt TCVN
5945 – 1995 (Loại B) do quá tải về công suất
Trang 33Hồ kỵ khí, hồ sinh học tùy nghi – 800
Đạt TCVN
5945 – 1995 (Loại B) (theo thiết kế nhưng chưa kiểm chứng)
Trang 34CHƯƠNG III TỔNG QUAN CÂY LỤC BÌNH
III.1 Cây Lục Bình
III.1.1 Nguồn gốc
Lục Bình có nguồn gốc ở vùng
nhiệt đới của Nam Mỹ nó đã du nhập
vào nhiều vùng ôn đới trên thế giới
như Trung Mỹ, Bắc Mỹ (califonia, các
bang miền Bắc nước Mỹ), Châu Phi,
Ấn Độ, Châu Á, Úc, NewZealand
Ở Việt Nam, Lục Bình xâm
nhập vào nước ta từ năm 1905 và
từ nước và thường được sử dụng làm công cụ xử lý nước thải Chúng thích hợp
và phát triển mạnh mẽ trong nguồn nước giàu dưỡng chất
Ở phía Tây Bắc và Thái Bình Dương, Lục Bình được trồng ở các ao tự nhiên hay nhân tạo nhưng nó không được xem là cây một năm chịu được giá rét, trừ những điều kiện đặc biệt (www.ecy.wa.gov)
III.1.3 Phân loại
Theo Lecomete Het F Gagrepain, 1998 (Được trích từ Dương Thúy Hoa, 2004)
Ở Đông Dương Lục Bình có 2 loài:
Eichhornia crasipes (Solms): Có tiểu nhị, không có phụ bộ, đính giữa 2 phần dưới ống tràng, lá gân, tròn, cuống phù Loại này gặp ở Bắc, Trung
và Nam
Hình III.1: Cây lục bình
Trang 35Eichharnia Natana: 3 tiểu nhị nhưng 1 tiểu nhị có phụ bộ, dính ở giữa hay phần dưới ống tràng, lá có dạng như lá lúa, loài này gặp ở Campuchia Theo Phạm Hoàng Hộ, 2000 (Được trích từ Dương Thúy Hoa, 2004) Lục Bình
ở Việt Nam chỉ có 1 loài là Eichhornia crasipes
III.1.4 Cấu tạo
a Hình dáng:
Lục Bình là cây thân thảo sống trôi nổi trên mặt nước hoặc bám trên đất bùn Thân gồm một trục mang nhiều lông ngắn và những đốt mang rễ
và lá (Nguyễn Đăng Khôi, 1985 Được trích từ Nguyễn Văn Tùng, 2004.)
+ Lá: Đơn, mọc thành chùm tạo thành hoa nhị, phiến tròn dài 4 – 8 cm, bìa nguyên, gân hình cung, mịn, đặc sắc, cuống là rất xốp thường phù to tạo thành phao nổi hình lọ thường ngắn và to ở cây non, kéo dài đến 30
cm ở cây già
+ Hoa: Xanh nhạt hoặc xanh tím tạo thành chùm đứng, cao 10 – 20 cm, không đều, đài và tràng cùng màu đính ở gốc, cánh hoa hoa trên có đốm vàng, 3 tâm bì nhưng chỉ có 1 tâm bì thụ, 6 tiểu nhị dài và 3 tiểu nhị ngắn
+ Trái: Là nang có 3 buồng, bì mỏng, nhiều hột
+ Rễ: Dạng sợi, bất định, không phân nhánh, mọc thành chùm dài và rậm ở dưới chiếm 20 – 50% trọng lượng toàn cây tùy thuộc vào môi trường sống nhiều hay ít dinh dưỡng (Nguyễn Đăng Khôi, 1985 Được trích từ Nguyễn Văn Tùng, 2004.)
hệ thống rễ