1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA TẠI VIỆT NAM.doc.DOC

104 1,9K 22
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Định Giá Doanh Nghiệp Nhà Nước Cổ Phần Hóa Tại Việt Nam
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA TẠI VIỆT NAM

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG I 6

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP 6

1.1.Doanh nghiệp và nhu cầu định giá doanh nghiệp 6

1.1.1 Định giá doanh nghiệp là gì? 6

1.1.2 Nhu cầu định giá doanh nghiệp 6

1.1.3 Mục tiêu và yếu cầu của hoạt động định giá doanh nghiệp 7

1.2 Các yếu tố tác động tới giá trị doanh nghiệp 9

1.2.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 9

1.2.2.Các yếu tố thuộc môi trường ngành 11

1.2.3 Môi trường nội bộ doanh nghiệp 12

1.3 Các phương pháp định giá doanh nghiệp 14

1.3.1.Phương pháp giá trị tài sản ròng 14

1.3.2.Phương pháp định giá chứng khoán 21

1.3.3.Phương pháp định lượng GOODWILL 25

1.3.4.Phương pháp định giá dựa vào chỉ số PER 30

CHƯƠNG II 33

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 33

2.1 Cơ sở pháp lý 33

2.1.1 Phương thức định giá 35

2.1.2 Xử lý các tồn tại về tài chính trước khi xác định giá trị doanh nghiệp .37

2.1.3 Phương pháp định giá 38

2.1.4 Xác định giá trị đối với quyền sử dụng đất và giá trị lợi thế 40

2.2 Thực trạng hoạt động định giá tại Việt nam hiện nay 42

2.2.1 Phương thức định giá 42

2.2.2 Năng lực định giá 42

2.2.3 Xử lý tồn tại tài chính 44

2.2.4 Phương pháp định giá 46

2.3 Đánh giá tổng quan về hoạt động định giá doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay 59

2.3.1 Những mặt đã làm được 59

2.3.2 Những mặt còn hạn chế 63

2.3.3 Những nhân tố tác động đến hoạt động định giá 65

2.3.4 So sánh giữa hoạt động định giá doanh nghiệp ở nước ta và trên thế giới 68

2.4 Định giá Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk theo phương pháp DCF- Chiết khấu dòng tiền tự do 69

2.4.1 Giới thiệu công ty 69

2.4.2 Phân tích thị trường và phân tích ngành 70

Trang 2

2.4.3 Phân tích môi trường nội bộ 78

2.4.5 Thực hiện quá trình tính giá trị 79

CHƯƠNG III 90

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA TẠI VIỆT NAM 90

3.1 Định hướng Cổ phần hóa và công tác Định giá doanh nghiệp Nhà nước Cổ phần hóa 90

3.1.1 Mục tiêu và định hướng tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 90

3.1.2 Yêu cầu và định hướng công tác định giá doanh nghiệp Nhà nước Cổ phần hóa 91

3.2 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác định giá doanh nghiệp để CPH ở Việt Nam hiện nay 93

3.2.1 Xây dựng hệ thống lý luận làm nền tảng cho hoạt động định giá doanh nghiệp 93

3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật hiện hành theo một hệ thống 93

3.2.3 Nâng cao hiệu quả của công tác xử lý tài chính khi xác định giá trị doanh nghiệp 94

3.2.4 Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu 95

3.2.5 Phát triển thị trường chứng khoán 95

3.2.6 Hoàn thiện các phương pháp định giá doanh nghiệp hiện hành 96

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP (2000-2007f) 71

Bảng 1: Lượng sữa sản xuất và tốc độ tăng trưởng dự đoán trong thời kỳ 2006-2010 74

Biểu đồ 2: Tăng trưởng thu nhập 2000-2010 75

Biểu đồ 3: Dự báo dân số qua các năm 76

Bảng 2: Bảng cân đối kế toán giai đoạn 2002-2006 81

Bảng 3: Báo cáo kết quả kinh doanh 2002-2006 82

Bảng 4: Báo cáo kết quả kinh doanh dự báo 2007-2011 84

Bảng 5: Tỷ lệ tăng trưởng của các chỉ tiêu chính 85

Bảng 6: Kết quả tính giá trị hiện tại của dòng tiền 88

Bảng 7: Giá trị doanh nghiệp 89

Bảng 8: Giá trị vốn chủ sở hữu trong phân tích độ nhạy 90

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường mà nước ta đang hướng đến, nhu cầu xácđịnh giá trị doanh nghiệp là một đòi hỏi hoàn toàn tự nhiên Trong điều hànhkinh tế vĩ mô cũng như trong hoạt động quản trị kinh doanh luôn cần thiết thôngtin về giá trị doanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp là mối quan tâm của các phápnhân và thể nhân có lợi ích liên quan, gắn bó trực tiếp đến các doanh nghiệpđược đánh giá

Chủ doanh nghiệp cần thông tin định giá để ra quyết định quản trị doanhnghiệp Nhà đầu tư cũng cần thông tin này để có một cái nhìn tổng quan về hiệuquả hoạt động doanh nghiệp, từ đó ra quyết đầu tư, tài trợ Giá trị doanh nghiệp

là thông tin quan trong cho hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô Đặc biệt, định giádoanh nghiệp còn là nhu cầu tất yếu của kinh tế thị trường khi mà hoạt độngmua bán, sát nhập, chia nhỏ doanh nghiệp diễn ra ngày càng thường xuyên vàphổ biến

Xét trong bối cảnh nước ta hiện nay, tiến trình cổ phần hóa đã và đangdiễn ra ngày càng mãnh mẽ Và góp phần không nhỏ trong đó là hoạt động địnhgiá doanh nghiệp Hoạt động định giá đang là vấn đề cần được quan tâm, nghiêncứu trong giai đoạn cổ phần hóa nói riêng và trong nền kinh tế thị trường nóichung

Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề định giá doanh nghiệp mà người

viết quyết định chọn đề tài bàn luận về vấn đề này Đề tài mang tên: “Ứng dụng

phương pháp DCF trong hoạt động định giá ở Việt Nam hiện nay”

Đề tài hướng đến việc xem xét các phương pháp định giá doanh nghiệp,thực trạng công tác định giá tại Việt Nam hiện nay, ứng dụng một phương phápmới trong định giá và đưa ra một số kiến nghị Bố cục của đề tài bao gồm 3chương:

Chương I: Các phương pháp định giá doanh nghiệp

Chương II: Thực trạng hoạt động định giá doanh nghiệp Nhà nước tại

Việt Nam hiện nay

Trang 6

Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác định giá doanh nghiệp

Nhà nước cổ phần hóa tại Việt Nam

Do những hạn chế về mặt thời gian và năng lực, đặc biệt là hạn chế vềmặt thông tin và cơ sở lý luận nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót và sơsuất trong việc trình bày các vấn đề xung quanh hoạt động định giá doanhnghiệp

Trang 7

CHƯƠNG I CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP

1.1 Doanh nghiệp và nhu cầu định giá doanh nghiệp

1.1.1 Định giá doanh nghiệp là gì?

C.Mác khẳng định rằng: hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị.Nói về khía cạnh giá trị, giá trị của hàng hóa được xác định ở mặt chất và lượng:

 Chất của giá trị là lao động của người sản xuất ra hàng hóa Hay, đó làlao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa

 Lượng của giá trị được tính theo thời gian lao động Mỗi hàng hóa cóthời gian lao động cá biệt khác nhau

Như vậy, lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hóa quyết định giá trị củahàng hóa đó

Doanh nghiệp cũng là một loại hàng hóa, và nó cũng có giá trị nhất định bởicũng phải mất rất nhiều hao phí lao động thì mới có thể tạo dựng nên một doanhnghiệp

Định giá doanh nghiệp tức là xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp Giá trịthực tế của doanh nghiệp là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp mà

có tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai

1.1.2 Nhu cầu định giá doanh nghiệp

Giá trị doanh nghiệp luôn là mối quan tâm của các pháp nhân và thể nhân có lợiích liên quan, gắn bó trực tiếp tới các doanh nghiệp được định giá

Giá trị doanh nghiệp là loại thông tin quan trọng để các nhà quản trị doanhnghiệp phân tích, đánh giá trước khi ra các quyết định kinh doanh và tài chính

có liên quan đến doanh nghiệp được định giá Nội dung cũng như mục tiêu cơbản của công tác quản trị doanh nghiệp là phải làm tăng giá trị doanh nghiệp.Giá trị doanh nghiệp là sự phản ánh năng lực tổng hợp, phản ánh khả năng tồntại và phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, căn cứ vào kết quả định giá, nhà quảntrị có thể thấy được khả năng cạnh tranh, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Trang 8

mình trên cơ cở so sánh với các doanh nghiệp khác và so sánh với giá trị trongquá khứ Giá trị doanh nghiệp trở thành căn cứ, cơ sở và nền tảng hợp lý choviệc đưa ra quyết định về kinh doanh, về tài chính, đầu tư… một cách đúng đắn.Dưới con mắt nhà đầu tư, nhà cung cấp, thông tin giá trị doanh nghiệp cho họmột sự đánh giá tổng quát về hiệu quả kinh doanh, khả năng sinh lời, uy tín, khảnăng tài chính và vị thế tín dụng để từ đó có cơ sở đưa ra quyết định về đầu tư,tài trợ, cấp tín dụng cho doanh nghiệp.

Giá trị doanh nghiệp là thông tin quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô Giá cảchứng khoán phản ánh giá trị thực tế của doanh nghiệp Do đó, giá trị doanhnghiệp là cơ sở để các nhà hoặch định chính sách, các tổ chức, hiệp hội kinhdoanh chứng khoán đánh giá tính ổn định và hiệu quả của thị trường, từ đó cónhững điều chỉnh thích hợp Giá cả chứng khoán không phản ánh giá trị củadoanh nghiệp, bị đánh giá quá cao hay quá thấp do bất kỳ nguyên nhân nào(đầu

cơ, thao túng,làm giá,…) đều là mầm mống nguy hiểm cho các biến cố kinh tế.Đặc biệt, định giá doanh nghiệp còn là nhu cầu tất yếu của nền kinh tế thị trườngkhi mà hoạt động mua bán, sát nhập, hợp nhất và chia nhỏ doanh nghiệp diễn rangày càng thường xuyên và phổ biến Để thực hiện các giao dịch đó, đòi hỏiphải có sự đánh giá trên một phạm vi rộng lớn các yếu tố tác động tới doanhnghiệp, trong đó, giá trị doanh nghiệp là một yếu tố có tính chất quyết định, làcăn cứ trực tiếp để thực hiện thương thuyết

Nước ta đã và đang diễn ra quá trình cổ phần hóa, trong đó định giá doanhnghiệp là bước đi quan trọng để xác định phần vốn nhà nước, quy mô vốn điều

lệ, cơ cấu cổ phần bán lần đầu, xác định mức giá sàn để tổ chức bán cổ phần lầnđầu ra công chúng

1.1.3 Mục tiêu và yếu cầu của hoạt động định giá doanh nghiệp

Đảm bảo tính chính xác, độ tin cậy của thông tin

Thông tin giá trị doanh nghiệp là đầu vào cho quá trình ra quyết định của rấtnhiều đối tượng Để có một quyết định đúng đắn đòi hỏi nguồn thông tin làm cơ

cở cho việc ra quyết định phải đủ độ chính xác và tin cậy Do đó, đây là mục

Trang 9

tiêu cơ bản và hàng đầu hay yêu cầu quan trọng nhất trong công tác định giádoanh nghiệp.Thực hiện được yêu cầu này ta cần phải đảm bảo nhiều yếu tố liênquan khác trong quá trình thực hiện đánh giá: năng lực định giá, phương phápđịnh giá, tính khách quan và trung thực,…

Đảm bảo tính nhanh chóng và đúng thời điểm

Mọi quyết định đòi hỏi đưa ra trong một khoảng thời gian nhất định và cũng chỉ

có giá trị trong một khoảng thời gian xác định Vì vậy thông tin định giá phảiđảm bảo kịp thời, phù hợp với tiến độ của kế hoạch đã đặt ra từ trước Tínhnhanh chóng ở đây là để đảm bảo kế hoạch được tiến hành đúng như dự kiến.Kết quả định giá được sử dụng đúng thời điểm Thực hiện nhanh chóng và đúngthời điểm bao hàm trong đó cả đòi hỏi về tính chính xác và tin cậy của thông tin

Đảm bảo muc tiêu về chi phí

Trên thực tế, khi lựa chọn phương pháp đinh giá nào (định giá tài sản thuần,dòng tiền chiết khấu,…) thì cũng có những chi phí tương ứng trong quá trìnhđịnh giá Rõ ràng công việc định giá không phải được thực hiện với bất kỳ giánào Hay, đây là một việc làm có sự ràng buộc về chi phí

Mỗi doanh nghiệp có những đặc trưng riêng khi xét đến khía cạnh giá trị, do đónhà định giá nhất thiết phải lựa chọn phương pháp tính phù hợp Doanh nghiệp

có thể chỉ có tài sản hữu hình, doanh nghiệp có thể tài sản vô hình lớn trong khi

đó tài sản hữu hình lại không đáng kể Doanh nghiệp đã giao dịch trên thị trườngchứng khoán, doanh nghiệp mới thành lập… Việc lựa chọn phương pháp phùhợp sẽ cho phép giá trị cấu thành doanh nghiệp được phản ánh chính xác nhấttrong phạm vi có thể Một tập hợp các phương pháp cũng có thể được sử dụngvới mục đích tham khảo, so sánh và nâng cao tính chính xác cho công việc địnhgiá

Trang 10

1.2 Các yếu tố tác động tới giá trị doanh nghiệp

1.2.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô

Môi trường vĩ mô là yếu tố ảnh hưởng có tính khách quan, về cơ bản chúng vượtkhỏi tầm kiểm soát của doanh nghiệp Để tồn tại và phát triển được, doanhnghiệp phải tìm cách thích nghi với môi trường

1.2.1.1 Môi trường kinh tế

Doanh nghiệp luôn tồn tại trong một bối cảnh kinh tế cụ thể Bối cảnh kinh tế đóđược nhìn nhận thông qua hàng loạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như: tốc độ tăngtrưởng kinh tế, chỉ số giá cả, tỷ giá, tỷ suất đầu tư, các chỉ số trên thị trườngchứng khoán, …Mặc dù môi trường kinh tế mang tính chất như yếu tố kháchquan nhưng ảnh hưởng của chúng tới giá trị doanh nghiệp lại là sự tác động trựctiếp

Mỗi sự thay đổi nhỏ của các yếu tố này bao giờ cũng ảnh hưởng tới sự đánh giá

về doanh nghiệp Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, phản ánh nhu cầu đầu

tư và tiêu dùng ngày càng lớn Chỉ số giá chứng khoán phản ánh đúng quan hệcung cầu, đồng tiền ổn định, tỷ giá và lãi suất có tính kích thích đầu tư sẽ trởthành cơ hội tốt cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất Ngược lại, sự suythoái kinh tế, giá chứng khoán ảo, lạm phát phi mã… là biểu hiện môi trườngtồn tại của doanh nghiệp đang bị lung lay tận gốc Mọi sự đánh giá về doanhnghiệp, trong đó có giá trị doanh nghiệp sẽ bị đảo lộn hoàn toàn

1.2.1.2 Môi trường chính trị

Sản xuất kinh doanh chỉ có thể ổn định và phát triển trong môi trường có sự ổnđịnh về chính trị ở mức độ nhất định Chiến tranh, xung đột sắc tộc, tôn giáo,tính thiếu minh bạch và công bằng trong cơ chế vận hành cũng như các yếu tốtrật tự an toàn xã hội khác bao giờ cũng có những tác động xấu đến mọi mặt đờisống xã hội chứ không riêng gì đối với sản xuất kinh doanh

Các yếu tố của môi trường chính trị có sự gắn bó chặt chẽ, tác động trực tiếp đếnsản xuất kinh doanh bao gồm:

 Tính đầy đủ, đồng bộ, rõ ràng, chi tiết của hệ thống pháp luật

Trang 11

 Quan điểm tư tưởng của Nhà nước đối với sản xuất kinh doanhthông qua hệ thống văn bản pháp quy thể hiện trong Luật thuế, Luậtcạnh tranh, Luật sở hữu trí tuệ,…

 Năng lực hành pháp của Chính phủ và ý thức chấp hành pháp luậtcủa các công dân và các tổ chức sản xuất Pháp luật đã ban hànhnhưng không trở thành hiện thực, tệ nạn buôn lậu, trốn thuế, hànggiả,… là những biểu hiện của một môi trường chính trị gây bất lợicho sản xuất

Môi trường chính trị và môi trường kinh tế đóng vai trò là môi trường cơ sở,đem lại những điều kiện thiết yếu và tối thiểu để doanh nghiệp có thể hoạt động

Và do đó, đây là những yếu tố cần xem xét trước tiên khi đưa ra đánh giá vềdoanh nghiệp

1.2.1.3 Môi trường văn hóa-xã hội

Môi trường văn hóa được đặc trưng bởi những quan niệm, những hệ tư tưởngcủa cộng đồng về lối sống, đạo đức…Thể hiện trong quan niệm về “Chân, thiện,mỹ”-quan niệm về nhân cách, văn minh xã hội, thể hiện trong tập quán sinh hoạt

và tiêu dùng

Môi trường xã hội thể hiện ở số lượng và cơ cấu dân cư, giới tính, độ tuổi, mật

độ, sự gia tăng dân số, thu nhập bình quân đầu người và hàng loạt các vấn đềmới nảy sinh như ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kiệt…

Trên phương diện xã hội, doanh nghiệp ra đời là để đáp ứng những đòi hỏi ngàycàng cao trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng nơi doanh nghiệpđang hoạt động Chính vì thế, đánh giá về doanh nghiệp không thể bỏ qua nhữngyếu tố, những đòi hỏi bức xúc của môi trường văn hóa xã hội trong hiện tại màcòn phải thực hiện dự báo được sự ảnh hưởng của yếu tố này đến sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp trong tương lai

1.2.1.4 Môi trường khoa học công nghệ

Sự tác động của khoa học-công nghệ đang làm thay đổi một cách căn bản cácđiều kiện về quy trình công nghệ và phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh

Trang 12

trong các doanh nghiệp Sản phẩm ra đời ngày càng đa dạng, phong phú, đápứng nhu cầu ngày càng cao trong đời sống vật chất và tinh thần Hàm lượng trithức có khuynh hướng chiếm ưu thế tuyệt đối trong giá bán sản phẩm.

Đối với doanh nghiệp, sự biến đổi về khoa học và công nghệ không chỉ là cơ hội

mà còn là thách thức đối với sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp Sự thiếu nhạy béntrong việc chiếm lĩnh những thành tựu khoa học mới nhất có thể là nguyên nhânđưa doanh nghiệp mau chóng đến chỗ phá sản Và vì thế, khi đánh giá doanhnghiệp, ta phải xem xét đến sự tương tác cũng sự thích ứng của doanh nghiệptrước thay đổi

1.2.2 Các yếu tố thuộc môi trường ngành

1.2.2.1 Quan hệ doanh nghiệp với khách hàng

Thị trường là yếu tố quyết định đầu ra đối với sản phẩm hay quyết định khảnăng phát triển, mở rộng sản xuất của doanh nghiệp Thị trường của doanhnghiệp được thể hiện bằng yếu tố khách hàng hiện tại hoặc khách hàng tiềmnăng Thị trường của doanh nghiệp được duy trì và phát triển khi mà mức độbền vững và uy tín của doanh nghiệp với khách hàng được đảm bảo Để đánhgiá uy tín của doanh nghiệp, ta thường dựa vào một số yếu tố định tính như: sựtrung thành và thái độ của khách hàng, số lượng và chất lượng khách hàng, tiếngtăm, mối quan hệ,…Và căn cứ có sức thuyết phục cao nhất cho sự đánh giá đó là

ở thị phần hiện tại, thị phần tương lai, doanh số bán ra và tốc độ tiến triển củacác chỉ tiêu đó qua các thời kỳ

1.2.2.2 Quan hệ doanh nghiệp với nhà cung cấp

Doanh nghiệp nhận nguồn cung cấp từ bên ngoài về các loại hàng hóa, nguyênvật liệu, các dịch vụ điện nước, thông tin,…làm đầu vào cho quá trình sảnxuất.Tính ổn định của nguồn cung cấp có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho sảnxuất và tiêu thụ được thực hiện theo kế hoạch mà doanh nghiệp đã đặt ra

Trong mối quan hệ với nhà cung cấp, doanh nghiệp đóng vai trò khách hàng.Tuy nhiên, có thể do tính chất khan hiếm vật tư đầu vào, do số lượng nhà cungcấp không đủ lớn, do sự cấu kết giữa họ với nhau,…hay nguyên nhân nào đó mà

Trang 13

doanh nghiệp có thể bị gây sức ép Đặc biệt là sức ép về số lượng và giá cả đầuvào Do vậy, đánh giá khả năng đáp ứng các yếu tố đầu vào và đảm bảo cho sảnxuất kinh doanh ổn định cần xem xét đến: sự phong phú của các nguồn cungcấp, các nguồn nguyên liệu thay thế, tính lâu dài của nguồn cung, tính kịp thời,giá cả và chất lượng đầu vào.

1.2.2.3 Các hãng cạnh tranh

Nguy cơ hàng đầu cho sự tồn tại của doanh nghiệp chính là từ các đối thủ cạnhtranh Sự cạnh tranh càng gay gắt quyết liệt đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhữngchính sách thích hợp để củng cố vị trí của mình trên thương trường Để đánh giánăng lực cạnh tranh, ta phải xem xét đến tập hợp các yếu tố: giá cả, chất lượngsản phẩm, dịch vụ hậu mãi, số lượng doanh nghiệp trong ngành, năng lực cũngnhư thế mạnh của đối thủ về mọi mặt trong quy trình sản xuất kinh doanh Đồngthời phải có khả năng dự báo về việc xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới trongtương lai

1.2.2.4 Cơ quan nhà nước

Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào luôn phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sátcủa các cơ quan Nhà nước: Cơ quan thuế, cơ quan thanh tra, cơ quan môitrường,…Các tổ chức này có chức năng kiểm tra giám sát, đảm bảo cho sự hoạtđộng của doanh nghiệp không vượt ra khỏi những luật lệ, quy ước xã hội thểhiện trong luật thuế, luật môi trường, luật lao động,…

Doanh nghiệp có mối quan hệ tốt đẹp với các tổ chức đó tức là đã thực hiệnđúng nghĩa vụ của mình đối với xã hội: nộp thuế, thực hiện trách nhiệm đối vớingười lao động, giải quyết vấn đề về môi trường sinh thái,… Đó cũng là nhữngbiểu hiện có ảnh hưởng tích cực đối với giá trị của doanh nghiệp mà chúng tacần xem xét đến trong quá trình đánh giá

1.2.3 Môi trường nội bộ doanh nghiệp

1.2.3.1 Hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp

Tài sản của một doanh nghiệp là biểu hiện của yếu tố vật chất cần thiết, tối thiểuđối với quá trình sản xuất kinh doanh Số lượng, chất lượng, trình độ kỹ thuật và

Trang 14

tính đồng bộ của các loại tài sản là yếu tố quyết định đến số lượng và chất lượngsản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra Tức là khả năng cạnh tranh và thu lợinhuận của doanh nghiệp phụ thuộc trực tiếp và có tính chất quyết định vào yếu

tố này

Mặt khác, giá trị các tài sản của doanh nghiệp được coi là một căn cứ và là một

sự đảm bảo rõ ràng nhất về giá trị của doanh nghiệp Vì thay cho việc dự báocác khoản thu nhập tiềm năng thì người sở hữu có thể bán chúng bất cứ lúc nào

để nhận về một khoản thu nhập từ những tài sản đó

Do vậy, hiện trạng tài sản của doanh nghiệp luôn là vấn đề được quan tâm khiđịnh giá doanh nghiệp

1.2.3.2 Uy tín kinh doanh - Thương hiệu

Uy tín kinh doanh là sự đánh giá của khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp,nhưng nó lại được hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau trong doanh nghiệp:chất lượng sản phẩm, dịch vụ chăm sóc khách hàng, năng lực quản trị,…

Cùng sản xuất một loại sản phẩm, nhưng doanh nghiệp do có uy tín lớn có thểđịnh giá cao cho sản phẩm của mình so với sản phẩm của doanh nghiệp khác.Như vậy, khi đã xây dựng được uy tín-thương hiệu thì đó được coi như một tàisản của doanh nghiệp vì nó góp phần tạo nên lợi nhuận cho doanh nghiệp Tàisản uy tín-thương hiệu có giá trị nhất định Trên thực tế, đã có những giao dịchmua bán thương hiệu vì lợi ích mà nó mang lại cho doanh nghiệp Chính vì vậy,

uy tín-thương hiệu của doanh nghiệp được thừa nhận như một yếu tố quan trọngcấu thành nên giá trị doanh nghiệp

1.2.3.3 Chất lượng lao động

Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào máy móc thiết

bị kỹ thuật mà còn phụ thuộc vào trình độ và chất lượng của lao động

Trình độ kỹ thuật và sự lành nghề của người lao động là nhân tố tác động trựctiếp tới chất lượng sản phẩm Đồng thời, nhờ đó, doanh nghiệp có thể giảm đượcchi phí đào tạo, bồi dưỡng, góp phần nâng cao thu nhập cho doanh nghiệp

Trang 15

Đánh giá về trình độ kỹ thuật và tay nghề của người lao động không chỉ xem ởbằng cấp và số lượng mà quan trọng hơn trong điều kiện hiện nay còn phải xemxét đến hàm lượng tri thức có trong mỗi sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra.

Do vậy, khi đánh giá khả năng tồn tại, phát triển và tạo ra lợi nhụân của doanhnghiệp nhất thiết phải xét đến yếu tố chất lượng lao động, coi đó như một yếu tốnội tại quyết định đến giá trị doanh nghiệp

1.2.3.4 Năng lực quản trị kinh doanh

Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài phải có một bộ máy quản lý

đủ mạnh để có thể sử dụng một cách hiệu quả các nguồn lực cho sản xuất, biếnthách thức thành cơ hội, ứng phó linh hoạt với những biến động của môi trườngkinh doanh Năng lực kinh doanh luôn được nhắc tới như một yếu tố đặc biệtquan trọng tác động tới giá trị doanh nghiệp

Năng lực quản trị kinh doanh của một doanh nghiệp cần được đánh giá theo nộidung cơ bản của hoạt động quản trị: khả năng hoặch định chiến lược, chiếnthuật, trình độ tổ chức bộ máy quản lý, năng lực quản trị các yếu tố đầu vào vàđầu ra của quá trình sản xuất, quản trị nguồn nhân lực,…

Năng lực quản trị kinh doanh tổng hợp còn thể hiện thông qua hệ thống các chỉtiêu tài chính doanh nghiệp Vì vậy, thực hiện phân tích một cách toàn diện tìnhhình tài chính doanh nghiệp sẽ trợ giúp cho việc đưa ra các kết luận về giá trịdoanh nghiệp

1.3 Các phương pháp định giá doanh nghiệp

1.3.1 Phương pháp giá trị tài sản ròng

Cơ sở lý luận:

Lý luận thực tiễn cho rằng: nếu giá trị doanh nghiệp cao hơn giá trị đầu tư cầnthiết để xây dựng nên nó thì các chủ đầu tư sẽ lựa chọn phương án xây dựng mớidoanh nghiệp thay vì mua lại doanh nghiệp đó Từ đó, các nhà định giá đã đề ra

nguyên lý chung cho phương pháp định giá theo giá trị tài sản: “Giá trị của một doanh nghiệp bằng với giá trị đầu tư cần thiết (hữu hình và vô hình) để lập nên doanh nghiệp đó”.

Trang 16

Trong các phương pháp định giá doanh nghiệp theo giá trị tài sản thì phươngpháp giá trị tài sản ròng (NAV) được sử dụng phổ biến nhất và dựa trên cơ sởsau:

 Sự hoạt động của doanh nghiệp bao giờ cũng được tiến hành dựa trên

cơ sở một lượng tài sản có thực Những tài sản đó là sự hiện diện rõràng và cụ thể cho sự tồn tại của doanh nghiệp, cấu thành nên thực thểcủa doanh nghiệp

 Tài sản của doanh nghiệp được hình thành bởi sự tài trợ vốn của cácnhà đầu tư khi thành lập và tiếp tục được bổ sung trong quá trình hoạtđộng Cơ cấu nguồn tài trợ để hình thành tài sản là sự khẳng định vàthừa nhận về mặt pháp lý các quyền sở hữu và lợi ích của các nhà đầu

tư đối với tài sản đó

Phương pháp định giá

Phương pháp 1

Giá trị doanh nghiệp = Giá trị tài sản ròng

 Giá trị tài sản ròng (NAV) có thể được tính theo hai cách:

Cách 1: Căn cứ vào giá trị sổ sách

Giá trị tài sản ròng = Tổng giá trị tài sản có – Các khoản nợ có khả năng thu hồiCác khoản nợ của doanh nghiệp bao gồm: Nợ vay ngắn hạn, nợ vay dài hạn, cáckhoản phải trả cho khách hàng, phải trả công nhân viên, thuế và các khoản phảinộp cho Ngân sách, chi phí phải trả, phải trả nội bộ, các khoản nợ khác,…Cáckhoản nợ này được phản ánh ở phần nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán củadoanh nghiệp

Cách làm này hoàn toàn phụ thuộc vào việc doanh nghiệp chấp hành chế độ kếtoán như thế nào Nếu như các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được ghi chép vàphản ánh đầy đủ, doanh nghiệp chấp hành tốt các quy định của chế độ kế toánthì giá trị tài sản thuần tính toán được sẽ là số liệu tin cậy Mặt khác, việc tínhtoán khá đơn giản và dễ dàng Giá trị tính được là giá trị vốn chủ sở hữu theo sổsách đang được huy động và sử dụng trong sản xuất kinh doanh Nó chỉ ra mức

Trang 17

độ độc lập về mặt tài chính, khả năng tự chủ trong sản xuất kinh doanh, là căn

cứ để các nhà tài trợ đánh giá khả năng an toàn của đồng vốn đầu tư, vị thế tíndụng của doanh nghiệp

Hạn chế:

Nếu chỉ căn cứ vào số liệu trên bảng cân đối kế toán thì sẽ không thu được kếtquả chính xác tại thời điểm định giá Bởi doanh nghiệp thực hiện tốt chế độ kếtoán thì những số liệu đó cũng chỉ phản ánh trung thực chi phí phát sinh tại thờiđiểm xảy ra các nghiệp vụ kinh tế trong quá khứ của kỳ kế toán Đó là những chiphí mang tính lịch sử, không còn phù hợp ở thời điểm định giá doanh nghiệp,ngay cả khi không có lạm phát

Giá trị còn lại của TSCĐ phản ánh trên sổ sách kế toán cao hay thấp phụ thuộcvào việc doanh nghiệp sử dụng phương pháp khấu hao nào, thời điểm doanhnghiệp xác định nguyên giá và sự lựa chọn tuổi thọ kinh tế của TSCĐ Vì vậy,giá trị TSCĐ phản ánh trên sổ kế toán thường không phù hợp với giá trị thịtrường tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

Cách sử dụng giá hạch toán là giá mua đầu kỳ, cuối kỳ hay thực tế bình quân;tiêu thức phân bổ chi phí,…sẽ ảnh hưởng đến giá trị hàng hóa vật tư, công cụlao động…Do vậy, số liệu kế toán phản ánh giá trị của chúng sẽ không đủ độ tincậy tại thời điểm đánh giá

Vì những hạn chế cơ bản như vậy của cách xác định giá trị tài sản thuần theo sốliệu của bảng cân đối kế toán mà giá trị tính được chỉ được coi như một tài liệutham khảo

Cách 2: Xác định giá trị tài sản thuần theo giá thị trường.

Để xác định giá trị tài sản ròng theo giá thị trường, nhà định giá sẽ loại khỏidanh mục định giá những tài sản không cần thiết và không có khả năng đáp ứngyêu cầu của sản xuất kinh doanh Sau đó, công việc định giá sẽ được tiến hành:

 Đối với TSCĐ và TSLĐ là hiện vật thì đánh giá theo giá thị trườngnếu trên thị trường hiện có bán những tài sản như vậy Trong thực tế,thường không tồn tại thị trường TSCĐ cũ, đã qua sử dụng ở nhiều mức

Trang 18

độ khác nhau Khi đó, người ta dựa theo công dụng hay khả năng phục

vụ sản xuất của tài sản để áp dụng một tỷ lệ khấu trừ dựa trên giá trịcủa tài sản cố định mới

Đối với những TSCĐ không còn tồn tại trên thị trường thì nhà định giá sẽ ápdụng một hệ số quy đổi so với những TSCĐ khác loại nhưng có tính năng tươngđương

 Các tài sản bằng tiền được xác định bằng cách kiểm quỹ, đối chiếu số

dư trên tài khoản Nếu là ngoại tệ sẽ được quy đổi về đồng nội tệ theo

tỷ giá thị trường tại thời điểm định giá Các loại tài sản: vàng, kim loạiquý, đá quý,… cũng được tính toán tương tự

 Các khoản phải thu: Do khả năng thu hồi của các khoản này là khôngđồng nhất nên ta phải tìm cách loại bỏ những khoản nợ không có khảnăng thu hồi hay khả năng thu hồi là quá mong manh bằng việc: đốichiếu công nợ, xác minh tính pháp lý, đánh giá độ tin cậy của từngkhoản phải thu

 Đối với các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp: Nếu khoản đầu

tư không quá lớn, có thể dựa trên giá trị chứng khoán, hoặc dựa theo

số liệu của bên đối tác liên doanh Nếu khoản đầu tư khá lớn, cần thựchiện đánh giá một cách toàn diện về giá trị của khoản đầu tư đó trongviệc tạo nên giá trị doanh nghiệp

 Đối với tài sản cho thuê và quyền thuê bất động sản: Tính theo phươngpháp chiết khấu dòng thu nhập trong tương lai

Trang 19

Phương pháp 3

V2 + Giá trị tương đối

Giá trị doanh nghiệp =

P1 : Giá cổ phiếu bình quân sánh nhóm công ty cùng quy mô, lĩnh vực

Ln0: Lợi nhuận ròng của công ty định giá

Ln1 : Lợi nhuân ròng của nhóm công ty so sánh

NAV0 : Giá trị tài sản ròng của công ty định giá

NAV1 : Giá trị tài sản ròng bình quân của nhóm công ty so sánh

Phương pháp này lại là sự kết hợp của phương pháp 2 với phương pháp định giátheo giá trị tương đối Giá trị tương đối được xác định dựa trên cơ sở so sánh vớicác công ty cùng lĩnh vực kinh doanh dựa trên các số liệu theo công thức đã nêu

Trang 20

Ba phương pháp đã trình bày trên đây sẽ đưa đến những kết quả giá trị doanhnghiệp khác nhau Ta nhận thấy, phương pháp 3 là sự kết hợp của phương pháp1

và 2 trong đó có tính đến các yếu tố đặc thù của ngành mà doanh nghiệp hoạtđộng, tiềm năng lợi nhuận, mức độ rủi ro của từng công ty Ở một khía cạnh nào

đó, giá trị doanh nghiệp tính được theo phương pháp 3 có tính bao quát hơn haiphương pháp trước

Nhưng việc lựa chọn phương pháp nào để kết quả thu được là chính xác và hợp

lý nhất thì còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố Thực tế ở nước ta hiện nay thị trườngchứng khoán chưa phát triển, giá chứng khoán không thể hiện giá trị thực củacông ty,những thông số có được trong phương pháp 3 chưa hẳn đã giúp ích choviệc tính toán, thậm chí có thể làm sai lệch

Ứng dụng phương pháp tính giá trị tài sản ròng:

Trên thực tế, đã có lúc người ta chỉ tính giá trị tài sản ròng (NAV) thuần túy vàlấy giá trị đó là giá trị thực tế của doanh nghiệp mà không tính đến bất cứ giá trịnào khác.Phải khẳng định rằng đây không phải là cách làm không đúng nhưng

nó chỉ thể hiện một cách hạn chế giá trị của doanh nghiệp

Hạn chế:

 Theo cách này, giá trị doanh nghiệp chỉ thuần tuy là một phép cộngtổng các tài sản bên trong doanh nghiệp tại thời điểm tính giá trị.Phương pháp này đã đánh giá doanh nghiệp ở một trạng thái tĩnh.Doanh nghiệp không được coi như một thực thể, một tổ chức đang tồntại và còn có thể hoàn chỉnh và phát triển trong tương lai Vì vậy mà

nó không phù hợp với một tầm nhìn chiến lược về doanh nghiệp Mộttrong những mục tiêu của định giá là nhìn thấy khả năng sinh lời củadoanh nghiệp và giá trị NAV không đủ để thỏa mãn yêu cầu đó

 Nếu chỉ xét đến giá trị NAV thì ta đã bỏ qua phần lớn các yếu tố phivật chất nhưng lại có giá trị thực sự và nhiều khi chiếm giá trị rất lớntrong giá trị doanh nghiệp: trình độ quản lý, trình độ công nhân, uy tín,

Trang 21

thị phần…Tài sản khiêm tốn nhưng triển vọng sinh lời doanh nghiệp

Thuận lợi:

 Phương pháp giá trị tài sản thuần chỉ ra giá trị của những tài sản cụ thểcấu thành doanh nghiệp Giá trị tài sản đó là căn cứ cụ thể, có tínhpháp lý rõ ràng nhất về khoản thu nhập mà người mua chắc chắn nhậnđược khi sở hữu doanh nghiệp Hay, số tiền mà người mua bỏ ra luônđược đảm bảo bằng một lượng tài sản có thật

 Phương pháp này cho ta giá trị thị trường của tài sản có thể bán rời tạithời điểm đánh giá Đây cũng là mức giá thấp nhất, là cơ sở đầu tiên đểcác bên liên quan đưa ra trong quá trình giao dịch và đàm phán về giábán doanh nghiệp

 Đối với doanh nghiệp nhỏ có số lượng tài sản không quá khổng lồ,không yêu cầu những kỹ thuật phức tạp trong định giá, giá trị yếu tố vôhình không đáng kể, chiến lược kinh doanh không rõ ràng, thiếu căn

cứ xác định các khoản thu nhập trong tương lai thì đây là một phươngpháp khá thích hợp để đưa ra giá trị cơ bản trong bước đầu đàm phán,thương lượng, mua bán doanh nghiệp

Phương pháp 2 đã tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Phương pháp 3 đã tính đến yếu tố so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùngngành và khả năng sinh lời của doanh nghiệp Nhưng trên thực tế, đối với nhữngnước chưa có thị trường chứng khoán hay thị trường chứng khoán chưa phát

triển thì không nên sử dụng phương pháp 3 Đối với những quốc gia có thị

Trang 22

trường chứng khoán phát triển thì các phương pháp 1,2,3 đều có thể sử dụng

với mục đích tham khảo và so sánh

1.3.2 Phương pháp định giá chứng khoán

Thị trường chứng khoán được coi là sự phát triển đỉnh cao của nền kinh tế thịtrường Các nhà đầu tư chứng khoán luôn khao khát tìm ra quy luật hay dấu hiệu vềgiá chứng khoán để có thể thu lợi nhuận lớn nhất Không dễ dàng để lý giải sự biếnđổi và chiều hướng lên xuống của giá cả chứng khoán Các nhà đầu tư buộc phảichao đảo theo thị trường, chấp nhận những cú sốc khi xảy ra các cuộc khủng hoảngtài chính tiền tệ, giá cả chứng khoán tăng rồi giảm đột ngột như “bong bóng xàphòng” Vậy cái gì quyết định giá cả chứng khoán? Các nhà kinh tế cho rằng: “Đó

là giá trị của doanh nghiệp!”

Quan điểm cơ bản

Năm 1962, M.I.Gordon đã đưa ra công thức lượng giá chứng khoán vô cùng nổitiếng Ý nghĩa của công thức đó là: Nhà đầu tư bỏ tiền ra mua chứng khoán khôngphải là để lấy những tài sản hiện có trong doanh nghiệp mà để đổi lấy những khoảnthu nhập trong tương lai

Giá trị thực của một chứng khoán phải được đánh giá bằng độ lớn của khoản thunhập mà nhà đầu tư chắc chắn sẽ nhận được từ chính doanh nghiệp đó, không phải

do yếu tố đầu cơ chứng khoán

Giá trị doanh nghiệp sẽ bằng tổng giá trị các loại chứng khoán mà doanh nghiệp đãphát hành

PV0 : Giá trị thực của một loại chứng khoán

Rt : Thu nhập của một loại chứng khoán ở năm t

i : Tỷ suất hiện tại hóa

Trang 23

n : Số năm nhận được thu nhập

Xác định giá trị thực của trái phiếu

Trái phiếu là một loại chứng chỉ vay nợ, thể hiện nghĩa vụ của người phát hànhphải trả nợ cho người nắm giữ trái phiếu một số tiền lãi nhất định và khoản tiêngốc khi đến hạn

Trái phiếu cũng có nhiều loại khác nhau: trái phiếu coupon, trái phiếu consol,trái phiếu niên kim cố định, trái phiếu chiết khấu,… Song đặc điểm chung củacác loại trái phiếu là: lợi tức cố đinh, có giá trị đáo hạn, thời hạn và thời điểmhoàn trả tiền lãi, gốc thường được xác định từ trước

Ta có thể triển khai công thức tính giá trị trái phiếu như sau:

Pn : là mệnh giá trái phiếu phải trả vào năm n

Do mức lợi tức trái phiếu được coi là ổn định hàng năm, tức là:

Trong công thức trên,  

i

i n

 1

1 được gọi là thừa số hiện tại hóa, và chính bằng

tổng của một cấp số nhân có công bội i

 1

1

Xác định giá trị cổ phiếu

Cổ phiếu là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông với công ty cổ phần

Cổ phiếu có một số điểm khác biệt cơ bản so với trái phiếu là:

- Không thể xác định trước các khoản lợi tức cổ phần hàng năm

- Không có thời điểm đáo hạn

- Cổ đông chỉ có thể nhận về phần vốn của mình khi doanh nghiệp bị thanh

lý, phá sản hoặc bán lại cổ phiếu của mình vào một thời điểm trong tươnglai

Trang 24

Do vậy, xuất hiện những khó khăn cơ bản khi áp dụng công thức tổng quát đãnêu:

 Phải dự báo được các khoản thu nhập (Rt) dưới hình thức lợi tức cổ phầnhàng năm và giá trị bán lại của cổ phiếu hoặc giá trị cổ phiếu tại thời điểmthanh lý, phá sản doanh nghiệp trong tương lai

 Đầu tư cổ phiếu là loại đầu tư chứa đựng nhiều rủi ro, vì thế không thể sửdụng tỷ suất hiện tại hóa (i) như đối với trái phiếu

 Công thức tổng quát làm nên một tổng không xác định do cổ phiếu là mộtloại chứng khoán không có thời điểm đáo hạn

Vì những khó khăn cơ bản như trên mà công thức tổng quát không mang tínhthực tiễn đối Thậm chí, các nhà kinh tế còn đưa ra những nhận xét hóm hỉnh về

nó như “Định giá cổ phần là một cơn ác mộng” hay “Tính toán kiểu đó là cả một

sự phi lý”

Lý thuyết được xây dựng thêm để khắc phục khó khăn:

1 1

Trang 25

1 2

2

1

1

1

1 1

k i

k

n n

1 1

=

k i

d

1

Công thức cuối cùng trên dựa trên lập luận cho rằng: Tăng trưởng và phát triển

là động cơ mà mọi doanh nghiệp phải đi theo, nhất là tăng trưởng một cách đềuđặn và vững chắc Và vì vậy giả định lợi tức cổ phần tăng một cách đều đặnhàng năm là sự phản ánh khuynh hướng và thực trạng có thật trong nhiều doanhnghiệp

Tăng trưởng và phát triển là xu hướng chung của các doanh nghiệp Song đócũng chỉ là xu hướng Cho dù các doanh nghiệp có duy trì chính sách phân chialợi tức cổ phần một cách ổn định thì trong thực tế lợi nhuận thuần và lợi tức cổphần giữa các năm đạt được cũng thương không đều nhau

Giả định trong n năm đầu doanh nghiệp đạt tỷ lệ tăng lợi tức cổ phần là k (k>i),còn từ năm thứ n+1 trở đi thì tăng với tỷ lệ k’ (k’< i)

Với các phép tính toán tương tự, ta có công thức cuối cùng như sau:

1

k i

k k

i k

Trang 26

Trong thực tế, nhà đầu tư thiểu số có thể trông thấy những triển vọng tiềm

ẩn lớn lao về khả năng sinh lời của doanh nghiệp Song do tính chất

“thiểu số”, họ không thể can thiệp vào những vấn đề có ảnh hưởng lớn tớidoanh nghiệp Do vậy, giá trị của một nhà đầu tư thiểu số được tính bằnggiá trị hiện tại của các khoản lợi tức cổ phần mà doanh nghiệp sẽ trả trongtương lai

 Phương pháp này tỏ ra thích hợp đối với những doanh nghiệp có chứngkhoán được giao dịch trên thị trường và việc xác định giá trị doanh nghiệpbằng những phương pháp khác gặp khó khăn

Hạn chế:

 Đối với cổ phiếu, mặc dù đã xây dựng một hệ thống các lý thuyết dựa trêncác giả định song việc dự báo lợi tức cổ phần không phải là dễ dàng Cổphiếu là loại chứng khoán chứa đựng nhiều rủi ro nhất Vì vậy, giả thuyết

về sự tăng trưởng đều đặn hay tăng trưởng ổn định không thuyết phụcđược các nhà thực hành

 Để xác định lợi tức cổ phần còn phải xây dựng được một lý thuyết địnhhướng phân chia lợi tức cổ phần trong tương lai Chính sách phân chia lợitức cổ phần phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: nhu cầu đầu tư, nhu cầu trả

nợ, khả năng tích lũy vốn từ khấu hao, …Việc tính toán đến các yếu tốnày cũng không đơn giản, nhất là khi các nhà đầu tư lại là cổ đông thiểu

số, không có quyền quyết định tới chính sách phân chia lợi tức cổ phần

1.3.3 Phương pháp định lượng GOODWILL

Cơ sở lý luận

Hai doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong cùng một ngành, liệu cógiống nhau hoàn toàn về khả năng sinh lời?

VD: Doanh nghiệp A bỏ ra một lượng vốn là 100$, thu về một khoản lợi nhuận

là 10$, tỷ suất lợi nhuận trên vốn là 10%

Doanh nghiệp B cũng bỏ ra một lượng vốn là 100$, nhưng thu về mộtkhoản lợi nhuận lớn hơn là 15$, tỷ suất lợi nhuận trên vốn là 15%

Trang 27

Nguyên nhân tạo ra sự khác biệt về khả năng sinh lời của hai doanh nghiệp là ởđâu?

Do:

 Doanh nghiệp B có vị trí kinh doanh tốt hơn

 Chất lượng sản phẩm của B tốt hơn, trình độ quản lý giỏi hơn, mạnglưới phân phối hàng hóa rộng lớn hớn và hiệu quả hơn

Nếu 10% là tỷ suất lợi nhuận trung bình trên thị trường thì khoản lợi nhuận vượttrội so với mức trung bình mà doanh nghiệp tạo ra (15-10=5) được gọi là siêulợi nhuận

Từ đây, giá trị tài sản vô hình được tính bằng giá trị hiện tại của các khoản thunhập do tài sản vô hình tạo ra, hay chính là giá trị hiện tại của các khoản siêu lợinhuận

Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp

Giá trị doanh nghiệp = NAV + GW

Trong đó:

NAV : Giá trị tài sản thuần

GW : Lợi thế thương mại

1 ( 1 )

.

Bt : Lợi nhuận năm t

At : Giá trị tài sản đưa vào kinh doanh

r : Tỷ suất lợi nhuận trung bình của tài sản đưa vào kinh doanh

r.At: Lợi nhuận trung bình của tài sản năm t

Trang 28

Bt-r.At : Siêu lợi nhuận năm t

Các nhà kinh tế có những quan điểm rất khác nhau trong việc lựa chọn Bt, At , r Bảng dưới đây sẽ thể hiện sự khác biệt đó:

Tài sản đầu tư vào kinh doanh (A t )

UEC (Hiệp hội

chuyên gia kế

toán châu Âu)

Chi phí sử dụng vốntrung bình

Lợi nhuận sauthuế trước lãivay

Tổng giá trị tài sản(Không phân biệttài sản được tài trợbằng nguồn vốnnào)

Anglo- Saxons Chi phí sử dụng vốn

chủ sở hữu

Lợi nhuậnthuần

Giá trị tài sản thuầnđược đánh giá lại

Lợi nhuận sauthuế trước lãitrung và dàihạn

Vốn thường xuyênđược tài trợ bằngcác nguồn ổn định(dài hạn và trunghạn)

(Nguồn: Đánh giá doanh nghiệp, 1992)

Phương pháp UEC:

Để lý giải cho sự lựa chọn các tham số này, các chuyên gia kế toán cho rằng: Tàisản của doanh nghiệp được tài trợ một phần bởi các khoản nợ Do đó người sửdụng vốn hay chủ doanh nghiệp phải tạo ra tỷ suất lợi nhuận tối thiểu, phản ánhchi phí cơ hội của các nhà đầu tư Phải trả được lãi vay và mức tối thiểu các cổđông đòi hỏi Từ đó, tỷ suất sinh lãi cơ bản cần được lựa chọn là chi phí sử dụngvốn trung bình của doanh nghiệp (WACC) Chi phí sử dụng vốn trung bình củadoanh nghiệp là sự phản ánh mức sinh lời tối thiểu mà các nhà đầu tư đòi hỏi ởdoanh nghiệp tương ứng vơi một cơ cấu nợ nhất định

Khoản lợi nhuận vượt trội so với mức sinh lời tối thiểu đó mới được coi là siêulợi nhuận Bt cần được tính bằng lợi nhuận sau thuế trước lãi, bởi đó là khoản lợi

Trang 29

nhuận sinh ra do các yếu tố vô hình và hữu hình của doanh nghiệp, chứa đựnglợi nhuận cơ bản và siêu lợi nhuận.

Phương pháp Anglo-Saxons lựa chọn các tham số có nhấn mạnh đến các yếu

tố rủi ro: ít có doanh nghiệp nào được tài trợ bởi 100% vốn chủ sở hữu Trong

cơ cấu vốn, nợ tăng tức là rủi ro tài chính tăng Do đó, tỷ suất sinh lời tối thiểutrên vốn chủ sở hữu để bù đắp những rủi ro có thể gặp phải Nghĩa là, khi chủ sởhữu đầu tư một lượng vốn tương ứng với giá trị tài sản thuần được đánh giá lại,thì tỷ suất sinh lời tối thiểu đối với số vốn này phải là chi phí sử dụng vốn chủ

sở hữu Khoản lợi nhuận thuần mà doanh nghiệp tạo ra vượt trên mức sinh lờiđòi hỏi của chủ sở hữu sẽ được coi là siêu lợi nhuận

Phương pháp CNPE xem xét doanh nghiệp như một dự án đầu tư nhằm thuđược siêu lợi nhuận Các hoạt động đầu tư dài hạn vào TSCĐ và TSLĐ thườngxuyên phải được tài trợ ổn định: dài và trung hạn Lợi nhuận của doanh nghiệpđạt được chủ yếu phụ thuộc vào những tính toán về đầu tư dài hạn vào những tàisản thường xuyên Do đó, tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp tối thiểu phải đủ bùđắp chi phí sử dụng vốn trung và dài hạn Và kết quả hoạt động đầu tư nếu caohơn mức sinh lời tối thiểu sẽ được coi là siêu lợi nhuận

Như vậy, mỗi phương pháp tính toán khác sẽ cho ra một giá trị vô hình cá biệttương ứng Nguyên nhân xuất phát từ quan niệm về chi phí cơ hội của các nhàđầu tư là khác nhau

Trang 30

được đánh giá cao sẽ làm giảm giá trị GW và ngược lại, nếu đánh giáthấp giá trị của các tài sản thì sẽ được bù đắp một phần bằng giá trị

GW tăng lên

 Phương pháp này dựa trên cơ sở có tính đến cả lợi ích của người mua

và người bán Công thức tính toán hàm chứa một điều: Người muadoanh nghiệp là nhằm thu được khoản lợi nhuận cao hơn mức sinh lờibình thường của một tài sản, chứ không phải mua lấy những tài sảnhiện hành Bao hàm trong đó là quan niệm về mức sinh lời tối thiểucủa một đồng vốn đưa vào đầu tư Đó là cơ sở cho mọi quyết định đầutư

Hạn chế:

 Siêu lợi nhuận chỉ ra khả năng sinh lời có thực của nhiều doanhnghiệp Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường, dưới sự tác động của quyluật cạnh tranh, quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân thì doanh nghiệpkhó có thể duy trì lợi thế đó một cách lâu dài Tức là ta sẽ gặp khókhăn trong việc dự đoán độ dài thời gian thu được siêu lợi nhuận Tácđộng bên ngoài doanh nghiệp:xuất hiện đối thủ cạnh tranh mới, thayđổi công nghệ,… có nguy cơ làm mất siêu lợi nhuận của doanh nghiệp

là khó dự đoán

 Do đây là sự kết hợp giữa xác định giá trị tài sản thuần (NAV) và giátrị lợi thế thương mại nên cũng không thể tránh khỏi những hạn chếvốn có

 Sử dụng công thức tính toán ta cần có sự thận trọng khi xác định r Vìkhi thay đổi r thì lợi nhuận sẽ thay đổi lớn bởi một lượng At thay đổitheo Nói cách khác, GW có biên độ dao động lớn trước r Sự thậntrọng khi sử dụng công thức sẽ tránh dẫn đến kết luận sai lầm về giá trịtài sản vô hình của doanh nghiệp

1.3.4 Phương pháp định giá dựa vào chỉ số PER

Trang 31

Đây là một phương pháp mang nặng tính kinh nghiệm nhưng lại được sử dụngmột cách phổ biến trên các thị trường tài chính thế giới để ước lượng nhanh giátrị của một chứng khoán.

 Thị trường chứng khoán hoàn hảo cần thỏa mãn một số điều kiện sau:

 Vô số người mua và bán

 Các loại chứng khoán thay thế hoàn hảo cho nhau

 Thông tin hoàn hảovà chứng khoán lưu thông tự do

 Người mua có thể mua bán vào bất kỳ lúc nào, nơi nàoTrong thị trường chứng khoán hoàn hảo, giá cả chứng khoán chỉ phản ánhcung cầu thuần túy thì có thể sử dụng để ước lượng giá trị của doanhnghiệp

 Giá cả chứng khoán trên thị trường hoàn hảo là sự đánh giá của thịtrường về khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Người ta bỏ tiền ra mua cổ phiếu là để đánh đổi lấy các khoản lợi tức do cổphiếu của doanh nghiệp mang lại

d1 d2 d3 dn Vn

V0 = + + + ….+ +

(1+i) (1+i)2 (1+i)3 (1+i)n (1+i)n

dn : là cổ tức thu được hàng năm

Vn: là giá trị bán lại cổ phiếu vào năm n

Giả sử doanh nghiệp thu lợi nhuận là P hàng năm và dùng toàn bộ để chi trả cổtức, ta có:

Trang 32

Tỷ số Vo P được gọi là tỷ số giá lợi nhuận, viết tắt là PER, và bằng nghịch đảo

của tỷ suất hiện tại hóa (i): PER =Vo P = 1i

PER thể hiện mối tương quan giữa giá giao dịch cổ phiếu trên thị trường với sốlợi nhuận mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư

Phương pháp xác định

Theo những nhận định trên, nếu thị trường chứng khoán là một thị trường hoànhảo, PER phản ánh trung thực, đáng tin cậy mối tương quan giữa giá trị hợp lýcủa một cổ phần với số lợi nhuận của doanh nghiệp, thì giá trị doanh nghiệp cóthể tính qua:

Giá trị doanh nghiệp = Lợi nhuận dự kiến đạt được  PER (quá khứ)

Trong đó, PER có thể là thông tin của những công ty lớn được công bố thườngxuyên trên thị trường, là tỷ số trung bình của các doanh nghiệp cùng một lĩnhvực kinh doanh có chứng khoán giao dịch trên thị trường Và PER là con số của

kỳ trước hay trong quá khứ

Thực tế là không có thị trường chứng khoán hoàn hảo hay thỏa mãn các yêu cầu

đề ra Nhà đầu tư cũng không chỉ có khoản thu nhập là cổ tức, còn có chênh lệchgiá,…Do đó để phương pháp này đem lại hiệu quả cao hơn, các nhà kinh tếkhuyến cáo nên sử dụng kết hợp các chỉ số khác ở những doanh nghiệp cóchứng khoán giao dịch trên thị trường và điều kiện sản xuất kinh doanh tươngtự

Hạn chế:

Trang 33

 Thiếu cơ sở lý thuyết rõ ràng, mang nặng tính kinh nghiệm Dó đó,thiếu tính thuyết phục: giá cả giao dịch là mức giá trả cho lợi nhuận từdoanh nghiệp, không bị ảnh hưởng bởi yếu tố đầu cơ Và vì vậy, giá trịtính được không có độ tin cậy cao.

 Tỷ số PER của các doanh nghiệp khác nhau, ở doanh nghiệp này là 20,tức là được trả với giá gấp 20 lần, ở doanh nghiệp khác lại là 30 Và takhông lý giải được vì sao?

 Phương pháp này không đưa ra được cơ sở để các nhà đầu tư phântích, đánh giá về khả năng tăng trưởng và rủi ro tác động tới giá trịdoanh nghiệp

Ưu điểm:

 Tại các nước có thị trường chứng khoán phát triển, đây là một phươngpháp định giá khá phổ biến Tính phổ biến này là do nó cho phép ướclượng tương đối nhanh chóng giá trị doanh nghiệp, đảm bảo tính kịpthời trong việc ra quyết định của nhà đầu tư thiểu số trên thị trườngcấp II

 Bản chất của phương pháp này là sử dụng giá trị thị trường, so sánhtrực tiếp để ước lượng giá trị doanh nghiệp Đây hoàn toàn có thể làmột phương pháp hiệu quả nếu thị trường chứng khoán hoạt động ổnđịnh, các yếu tố đầu cơ có thể giảm tới mức thấp nhất

Trang 34

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT

NAM HIỆN NAY 2.1 Cơ sở pháp lý

Trong khoảng thời gian trước năm 1986, nhà nước ta duy trì thực hiện cơ chế kếhoạch hóa tập trung Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hầu như chưa có Các

cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp quốc doanh gần như không có khái niệm

và nhu cầu về định giá doanh nghiệp Mọi hoạt động chuyển nhượng tài sản, bàngiao xí nghiệp, sáp nhập, chia tách doanh nghiệp thông qua hệ thống điều hòavốn của các cơ quan chủ quản và tài chính Nhà nước quy định giá trị tài sản củadoanh nghiệp và duy trì sự ổn định tổ chức doanh nghiệp trong một thời giandài Sự bảo bọc và quản lý của cơ quan nhà nước về mọi hoạt động trong doanhnghiệp, bao gồm cả lĩnh vực tài chính kế toán khiến cho nhu cầu về định giádoanh nghiệp không được đề cập đến trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung ởnước ta

Từ năm 1987 tới nay, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển đổi từ nền kinh tế

kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế hạch toán kinh doanh, phát triển nền kinh tếtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa

Trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi, các cơ quan quản lý Nhà nước đãvấp phải một vấn đề hết sức nghiêm trọng Đó là hiện tượng thất thoát vốn Nhànước thể hiện thông qua hiện tượng lãi giả lỗ thật tại các cơ sở kinh doanh Cácdoanh nghiệp thực hiện sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm theo giá thịtrường Trong khi đó, vốn và tài sản của Nhà nước không được định giá lại theogiá trị thị trường thích ứng với sự thay đổi của cơ chế Điều này làm phát sinhchênh lệch lãi rất lớn do các yếu tố đầu vào được định giá thấp trong khi giá cảđầu ra lại cao Trong nhiều năm liền, các doanh nghiệp nhà nước luôn ở trongtình trạng lãi giả lỗ thật, một số lớn doanh nghiệp tồn tại bằng cách ăn dần vàovốn Nhà nước Để khắc phục tình trạng đó, Nhà nước đã ban hành Chế độ bảo

Trang 35

toàn và phát triển vốn Nhà nước tại doanh nghiệp Cơ chế bảo toàn và phát triểnvốn Nhà nước tại doanh nghiệp được đánh giá là một trong những quy định đầutiên liên quan đến việc xác định phần giá trị tài sản mà các doanh nghiệp nhànước có trách nhiệm bảo toàn và phát triển, liên quan tới hoạt động định giá.

Từ năm 1992 cho tới nay, các quy định về định giá doanh nghiệp được tập trungchủ yếu vào định giá doanh nghiệp CPH Ngày 08/06/1992, thực hiện Nghịquyết của kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa VIII, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đãBan hành Quyết định 202/CT về việc tiếp tục làm thí điểm một số DNNN thànhCông ty cổ phần Một loạt các văn bản pháp luật được ban hành về việc chuyểnđổi DNNN thành công ty cổ phần, có thể liệt kê các văn bản chính như sau:

 Nghị định số 28/NĐ-CP ngày 07/05/1996 về chuyển một số DNNN thànhcông ty cổ phần hóa và Thông tư số 50/TT-BTC ngày 30/08/1996 hướngdẫn Nghị định 28

 Nghị định số 44/NĐ-CP ngày 19/06/1998 về chuyển DNNN thành Công

ty cổ phần (thay thế Nghị định 28) và Thông tư số 104/TT-BTC ngày18/07/1998 hướng dẫn Nghị định 44

 Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 19/06/2002 về chuyển DNNN thành Công

ty cổ phần (thay thế Nghị định 44) và Thông tư số 79/TT-BTC ngày12/09/2002 hướng dẫn xác định giá trị doanh nghiệp khi chuyển DNNNthành Công ty cổ phần theo Nghị định 64 và Thông tư số 76/TT-BTCngày 09/09/2002

 Nghị định 187/2004/ NĐ-CP ngày 16/11/2004 về chuyển công ty Nhànước thành công ty cổ phần và Thông tư 126/2004/TT-BTC ngày24/12/2004 hướng dẫn thực hiện Nghị định 187

Để thuận tiện cho việc so sánh, có thể chia các văn bản pháp luật trên thành 3nhóm chính:

Nhóm 1: Văn bản trước năm 2002 (bao gồm Nghị định 28/CP, Nghị định

44/1998/NĐ-CP và các Thông tư hướng dẫn)

Trang 36

Nhóm 2: Văn bản năm 2002-2004 (bao gồm Nghị định 64/2002/NĐ-CP

và các Thông tư hướng dẫn)

Nhóm 3: Văn bản năm 2004 cho tới nay (bao gồm Nghị định

187/2004/NĐ-CP và Thông tư hướng dẫn)

Hệ thống các văn bản pháp luật trên quy định quá trình và phương pháp xácđịnh giá trị DNNN để cổ phần hóa Các văn bản ban hành sau là những văn bảnthể hiện sự cải tiến, khắc phục những hạn chế của văn bản trước trong quá trìnhđưa quy định vào thực tiễn Tuy nhiên, không phải là không còn những thiếu sót

và bất cập

2.1.1 Phương thức định giá

Từ năm 2002 trở về trước là giai đoạn ban đầu của quá trình CPH, việc xác địnhgiá trị doanh nghiệp do các cơ quan quản lý doanh nghiệp thông qua phươngthức thành lập Hội đồng xác định giá trị Trong thời gian tồn tại của phươngthức này, cơ cấu và thành phần của Hội đồng định giá hầu như không thay đổi.Tại điều 5 Quyết định số 202/CP thành phần của Hội đồng định giá và thẩmđịnh giá trị doanh nghiệp bao gồm: “ chuyên gia kinh tế, tài chính do cơ quanNhà nước có thẩm quyền cử ra và những chuyên gia tư vấn am hiểu về ngànhnghề kinh doanh của doanh nghiệp do cơ quan chủ quan doanh nghiệp và cơquan tài chính cùng cấp mời”

Theo Nghị định số 28 ngày 7/5/1996, thành phần Hội đồng không thay đổi đáng

kể, chỉ đổi tên Ban chuẩn bị cổ phần hóa thành Ban cổ phần hóa tại doanhnghiệp

Theo Nghị định số 44 ngày 29/6/1998 và Thông tư số 104 ngày 18/7/1998, Ban

cổ phần hóa lại có tên mới là Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp

Cơ cấu, thành phần của Hội đồng thẩm định giá trị về cơ bản vấn không thayđổi Tuy nhiên, Hội đồng có thể mời bổ sung các thành viên khác tùy theo yêucầu của việc thẩm định

Nguyên tắc làm việc của Hội đồng thẩm định giá trị: Biểu quyết đa số, khi sốphiếu ngang nhau, lá phiếu của Chủ tịch Hội đồng sẽ có vai trò quyết định

Trang 37

Quá trình thực hiện công tác định giá doanh nghiệp thông qua phương thức Hộiđồng như trên trong thực tế đã bộc lộ những bất cập và hạn chế:

Thứ nhất: Trong trường hợp những doanh nghiệp mà trước và sau khi CPH, Nhà

nước vẫn là người nắm quyền chi phối (Nhà nước chiếm đa số cổ phần) thìngười bán và người mua doanh nghiệp chỉ là một Doanh nghiệp được định giácao hay thấp thì Nhà nước đều có lợi Điều này dẫn đến thái độ tắc trách củangười đại diện cho Nhà nước trong Hội đồng Và cũng là điểm không có lợi đốivới các cổ đông thiểu số vì họ không biết được giá trị thực của doanh nghiệp đểđưa ra quyết định đầu tư đúng đắn

Thứ hai: Hội đồng không có thành viên chuyên trách, chủ yếu là thành viên

kiêm nhiệm Phần lớn thành viên trong Hội đồng định giá không có chuyên môntrong việc xác định giá trị doanh nghiệp Họ là những đại diện từ nhiều cơ quanNhà nước khác nhau, vì thế, ý kiến đánh giá không phải bao giờ cũng thống nhất

và có thể nghiêng về những mục tiêu quản lý khác nhau Mâu thuẫn giữa DNNN

và cơ quan quản lý còn làm cho công tác định giá chậm được thống nhất

Thứ ba: Việc xác định giá trị doanh nghiệp thông qua phương thức Hội đồng là

thiếu tính khách quan và thiếu tính thị trường Giá trị xác định được không phảnánh giá trị thực tế của doanh nghiệp

Giai đoạn 2002-2004, theo Nghị định 64/2002/NĐ-CP, hoạt động định giá đãtừng bước được chuyển giao cho các định chế trung gian đảm nhiệm Nghị định

64 ghi rõ: “Cơ quan có thẩm quyền quyết định cổ phần hóa doanh nghiệp quyếtđịnh thành lập Hội đồng xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa hoặc lựachọn Công ty kiểm toán, tổ chức kinh tế có chức năng định giá để doanh nghiệp

cổ phần hóa ký hợp đồng xác định giá trị doanh nghiệp.” Văn bản này cho thấyhoạt động định giá tồn tại song song hai phương thức Tuy nhiên, việc tồn tạiphương thức Hội đồng định giá đã làm mất nhiều thời gian, gây chậm trễ chotiến trình CPH

Nghị định 187 được ban hành năm 2004 đã giải quyết tương đối triệt để nhữngbất cập trên Nghị định đã xóa bỏ việc định giá doanh nghiệp theo cách tổ chức

Trang 38

Hội đồng để nâng cao tính chuyên nghiệp và tính minh bạch trong hoạt độngđịnh giá, giúp đẩy nhanh tiến độ CPH Có thể nói, Nghị định 64 là sự chuẩn bịcho sự thay đổi về mặt phương thức, giúp doanh nghiệp thích nghi với việc địnhgiá được thực hiện bởi bên thứ ba Nghị định 187 quy định:

 “Doanh nghiệp CPH có tổng giá trị tài sản theo sổ sách kế toán từ 30 tỷđồng trở lên thì việc xác định giá trị doanh nghiệp CPH thực hiện thôngqua các tổ chức có chức năng định giá như: các công ty kiểm toán, công

ty chứng khoán, tổ chức thẩm định giá, ngân hàng đầu tư trong nước vàngoài nước có năng lực định giá”

 “Doanh nghiệp CPH có tổng giá trị tài sản theo sổ sách kế toán dưới 30 tỷđồng thì không nhất thiết phải thuê tổ chức định giá để xác định giá trịdoanh nghiệp Trường hợp doanh nghiệp không thuê tổ chức định giá thìdoanh nghiệp tự xác định giá trị doanh nghiệp và báo cáo cơ quan có thẩmquyền quyết định giá trị doanh nghiệp.”

2.1.2 Xử lý các tồn tại về tài chính trước khi xác định giá trị doanh nghiệp

Trước năm 2002, việc xử lý các tồn tại tài chính như nợ và tài sản tồn đọng, lỗlũy kế,…là thách thức và khó khăn lớn nhất đối vỡi hoạt động định giá doanhnghiệp Điều này khiến cho thời gian xác định bị kéo dài, giá trị doanh nghiệpvẫn còn chứa đựng giá trị ảo, cơ chế xử lý còn mang nặng tính bao cấp Việc xử

lý các vấn đề tài chính nêu trên vấn mang tính chất trình-duyệt chứ không đưa ranhững tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách để xử lý

Nghị định 64 năm 2002 đã bước đầu tạo khung pháp lý cho việc xử lý dứt điểmcác khoản nợ và tài sản tồn đọng, lỗ lũy kế với một cơ chế tăng cường tráchnhiệm, đảm bảo hài hòa các lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, người laođộng, nhà đầu tư Trong đó, nguyên tắc áp dụng cho việc xử lý các khoản tổnthất là: Doanh nghiệp được sử dụng các khoản dự phòng, lợi nhuận trước thuế

để bù đắp, nếu không đủ thì mới giảm trừ vào phần vốn Nhà nước tại doanhnghiệp

Trang 39

Song song với đó, Chính phủ đã thành lập Công ty Mua bán nợ và Tài sản tồnđọng để hỗ trợ các doanh nghiệp xử lý dứt điểm những tồn tại về tài chính trướckhi định giá và chuyển đổi sở hữu Việc làm này nhằm hướng tới sự lành mạnhhóa tài chính trong doanh nghiệp, giúp công tác định giá được thực hiện nhanhchóng, thuận lợi, kết quả định giá phản ánh đúng giá trị thực tế của doanhnghiệp, từ đó tạo cơ sở vững chắc cho việc lập phương án chuyển đổi sở hữucũng như phục vụ cho việc ra quyết định đầu tư.

Nghị định 187/2004/NĐ-CP tiếp tục tăng cường quyền tự quyết của doanhnghiệp CPH trong việc xử lý dứt điểm các tồn tại về tài chính, nợ và tài sản tồnđọng khi chuyển thành công ty cổ phần Vai trò của Công ty mua bán nợ và tàisản tồn đọng của doanh nghiệp được coi trọng trong vấn đề xử lý tồn tại tàichính tại doanh nghiệp: “Đến thời điểm quyết định công bố giá trị doanh nghiệp,doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm bàn giao các khoản công nợ không cókhả năng thu hồi đã loại khỏi giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa (kèm theo hồ sơ,tài liệu liên quan) cho công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp

để xử lý theo quy định của pháp luật”

2.1.3 Phương pháp định giá

Trước năm 2002, phương pháp sử dụng trong công tác định giá doanh nghiệpCPH chỉ là phương pháp tài sản Do có sự kế thừa và rút kinh nghiệm trong thựctiễn nên các văn bản pháp luật ra đời sau đã có những sửa đổi quan trọng Đặcbiệt Thông tư 104 đã phân biệt 6 khái niệm quan trọng:

 Giá trị doanh nghiệp theo sổ kế toán

 Giá trị thực tế của doanh nghiệp

 Giá trị phần vốn của Nhà nước theo sổ kế toán

 Giá trị thực tế phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp

 Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp

 Cổ phần chi phối của Nhà nước

Thông tư 104 cũng quy định cụ thể hơn cách thức xác định giá trị của các loạitài sản trong doanh nghiệp, trong đó có tính đến giá trị lợi thế của doanh nghiệp

Trang 40

Giá trị thực tế của doanh nghiệp sẽ được tính bằng tổng giá trị của các loại tàisản đã được xác định giá trị.

Tuy nhiên, việc sử dụng duy nhất một phương pháp tài sản đã bộc lộ những hạnchế.Các doanh nghiệp khác nhau sẽ có đặc điểm kinh tế kỹ thuật khác nhau, thìliệu chỉ sử dụng một công thức xác định giá trị TSCĐ (Quy định tại Thông tư104) có hợp lý?Giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm xác định giá trị doanhnghiệp là không dễ dàng xác định Có tài sản đã mua từ lâu, không còn xuất hiệntrên thị trường Có những tài sản mang tính đặc thù, hoàn toàn không có thịtrường để xác định Hơn nữa, mỗi ngành nghề sẽ có cơ cấu tài sản(TSHH+TSVH) khác nhau trong việc cấu thành nên giá trị doanh nghiệp, liệumột phép cộng tổng có phản ánh chính xác giá trị của doanh nghiệp?

Nghị định 64 năm 2002 đã kết hợp thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp bằnghai phương pháp:

giá trị thực tế của toàn bộ tài sản hữu hình, vô hình của doanh nghiệp tạithời điểm định giá

vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai

Tuy nhiên, đối tượng áp dụng của phương pháp chiết khấu dòng tiền chỉ hạn chếtrong các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành dịch vụ thương mại, dịch vụ

tư vấn, thiết kế xây dựng, dịch vụ tài chính kế toán, tin học, chuyển giao côngnghệ Một điều kiện đi kèm là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữubình quân 5 năm liền kề trước thời điểm chuyển đổi sở hữu phải cao hơn lãi suấttrái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm ở thời điểm gần nhất với thời điểm xác địnhgiá trị doanh nghiệp

Nghị định 187 ra đời năm 2004 đã có sự “thông thoáng” hơn trong việc chophép doanh nghiệp lựa chọn phương pháp xác định giá trị Ngoài hai phươngpháp cơ bản quy định tại Nghị định 64, doanh nghiệp có thể sử dụng phươngpháp khác, nếu đảm bảo được sự hợp lý và có sự chấp thuận của Bộ Tài chính

Ngày đăng: 31/08/2012, 15:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Lượng sữa sản xuất và tốc độ tăng trưởng dự đoán trong thời kỳ - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA TẠI VIỆT NAM.doc.DOC
Bảng 1 Lượng sữa sản xuất và tốc độ tăng trưởng dự đoán trong thời kỳ (Trang 74)
Bảng 2: Bảng cân đối kế toán giai đoạn 2002-2006 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA TẠI VIỆT NAM.doc.DOC
Bảng 2 Bảng cân đối kế toán giai đoạn 2002-2006 (Trang 81)
Bảng 5: Tỷ lệ tăng trưởng của các chỉ tiêu chính - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA TẠI VIỆT NAM.doc.DOC
Bảng 5 Tỷ lệ tăng trưởng của các chỉ tiêu chính (Trang 85)
Bảng 7: Giá trị doanh nghiệp - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA TẠI VIỆT NAM.doc.DOC
Bảng 7 Giá trị doanh nghiệp (Trang 88)
Bảng 8: Giá trị vốn chủ sở hữu trong phân tích độ nhạy - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA TẠI VIỆT NAM.doc.DOC
Bảng 8 Giá trị vốn chủ sở hữu trong phân tích độ nhạy (Trang 90)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w