1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài: Đặc điểm tâm lý của người giáo viên

11 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm tâm lý của người giáo viên
Tác giả Lê Thị Thúy Viên
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục và Đào tạo
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 265,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCA.MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài2.Mục đích nghiên cứu3.Nhiệm vụ nghiên cứu4.Đối tượng nghiên cứu5.Phương pháp ngiên cứuB.NỘI DUNGChương 1: Tìm hiểu chung về nhân cách1.1Quan niệm nhân cách ở Việt Nam1.2Những quan điểm cơ bản của các trường phái tâm lý học về nhân cách1.2.1Quan điểm sinh vật hóa bản chất nhân cách1.2.2Bản chất nhân cách1.2.3Nhân cách được hiểu là toàn bộ mối quan hệ xã hội của cá nhân1.2.4Nhân cách theo platônôp1.2.5Nhân cách được hiểu như cá nhân của con người với tư cách là chủ thể của mối quan hệ và hoạt động nhận thức1.2.6Nhân cách được hiểu như là các thuộc tính nào đó tạo nên bản chất nhân cách1.2.7Nhân cách được hiểu như cấu trúc hệ thống tâm lý cá nhân

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

4 Đối tượng nghiên cứu

5 Phương pháp ngiên cứu

B NỘI DUNG

Chương 1: Tìm hiểu chung về nhân cách

1.1 Quan niệm nhân cách ở Việt Nam

1.2 Những quan điểm cơ bản của các trường phái tâm lý học về nhân cách 1.2.1 Quan điểm sinh vật hóa bản chất nhân cách

1.2.2 Bản chất nhân cách

1.2.3 Nhân cách được hiểu là toàn bộ mối quan hệ xã hội của cá nhân 1.2.4 Nhân cách theo platônôp

1.2.5 Nhân cách được hiểu như cá nhân của con người với tư cách là chủ

thể của mối quan hệ và hoạt động nhận thức 1.2.6 Nhân cách được hiểu như là các thuộc tính nào đó tạo nên bản chất

nhân cách 1.2.7 Nhân cách được hiểu như cấu trúc hệ thống tâm lý cá nhân

Chương 2: Đặc điểm lao động của người thầy giáo

2.1 Nghề mà đối tượng quan hệ trực tiếp là con người

2.2 Nghề mà công cụ chủ yêu là nhân cách của chính mình

2.3 Nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội

2.4 Nghề đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo cao

Chương 3: Phẩm chất đạo đức năng lực uy tín của người giáo viên

3.1 Phẩm chất đạo đức của người giáo viên

3.1.1 Thế giới quan khoa học

3.1.2 Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ

3.1.3 Lòng tin yêu học sinh

3.1.4 Lòng yêu nghề

Trang 2

3.1.5 Một số phẩm chất đạo đức và ý chí của giáo viên

3.2 Năng lực sư phạm

3.2.1 Nhóm năng lực dạy học

3.2.2 Nhóm năng lực giáo dục

3.2.3 Nhóm năng lực tổ chức hoạt động sư phạm

3.3 Sư hình thành uy tín của người giáo viên

3.3.1 Uy tín là gì?

3.3.2 Vai trò của uy tín hoạt động sư phạm của người giáo viên

3.3.3 Những điều kiện chủ yếu để hình thành uy tín sư phạm

C KẾT LUẬN

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, “một chữ cũng thầy, nửa chữ cũng thầy” Điều này cho thấy, nghề giáo là một nghề rất cao cả và luôn được xã hội kính trọng và yêu quý từ ngàn xưa đến nay Xã hội dù có phát triển đến đâu thì vị trí, vai trò của người thầy giáo, cô giáo trong lòng mỗi con

Trang 3

người vẫn được khẳng định với sự kính yêu và tôn trọng Với mỗi chúng

ta, khoảng thời gian đi học là khoảng thời gian đẹp nhất, với nhiều kỷ niệm đáng nhớ, đáng giữ gìn trân trọng nhất Trong ký ức đó, bạn bè, trường lớp và thầy cô là hình ảnh không bao giờ phai Thầy, cô giáo là những người đã truyền đạt các kiến thức, những kinh nghiệm sống cho con người từ khi chập chững bước vào đời cho đến khi họ trưởng thành, những kiến thức và kinh nghiệm đó có thể ở nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học tự nhiên, khoa học xã hộ và cả những kiến thức để hình thành nhân cách con người, góp phần tạo dựng một xã hội tốt đẹp

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của người giáo viên

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 4

Tìm hiêu về nhân cách, bản chất, đặc điểm lao động của người giáo viên, năng lực, uy tín của người giáo viên

4 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm tâm lý của người giáo viên

5 Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, đọc tài liệu

-Phương pháp đọc

- Phương pháp phân tích

-Phương pháp đánh giá, khảo sát

B NỘI DUNG

Chương 1: Tìm hiểu chung về nhân cách

1.1 Quan niệm nhân cách ở Việt Nam

Trang 5

- Nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách và năng lực hoặc là con người có các phẩm chất: Đức, trí, thể, mỹ, lao (lao động)

- Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của cin người

- Nhân cách được hiểu như phẩm chất của con người mới: Làm chủ, yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần lao động

- Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, giá trị làm người của con người Nhân cách là tập hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người Nhân cách là sự tổng hòa không phải các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý-xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân

1.2 Những quan điểm cơ bản của các trường phái tâm lý học về nhân cách 1.2.1 Quan điểm sinh vật hóa bản chất nhân cách:

Nhân cách được coi là bản năng tình dục (S.Phơrơt) là đặc điểm hình thể (Krestchmer), siêu đẳng, bù trừ (Atle), vô thức tập thể (K.Jung) là các kiểu hoạt động thần kinh cao cấp (những người quá tôn sùng học thuyết paplôp) Thực chất của các quan điển trên đủ hình thức biểu hiện ở mỗi người có khác nhau, nhưng đều sinh vật hóa bản chất nhân cách, đều mang quan điểm duy tâm siêu hình

1.2.2 Bản chất nhân cách: là nhân tính con người đã dược trường phái

nhân văn nhấn mạnh Đại diện của trường phái này là C.Rôgiơ, A.Matxlâu, G.Ônpooc… Những người ở trường phái này đều quan tâm đến giá trị tiềm năng bẩm sinh của con người, đến những đặc tính riêng của mỗi người, kinh nghiệm của con người A.Matxlâu cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng con người Những nhu cầu tiếp xúc, tình yêu long kính trọng đều có tính chất bản năng, đặc trưng cho giống người Nhân cách là động cơ tự điều hành (G.Ônpooc), là nhu cầu (A.Murây), là tương tác xã hội (G.H.Mít) là

lo lắng (K.Hoocnây) Những quan điểm này đều đề cao tính chất tự nhiên sinh vật của con người, phủ nhận bản chất xã hội nhân cách 1.2.3 Nhân cách được hiểu là toàn bộ mối quan hệ xã hội của cá nhân: Các mối

quan hệ xã hội của cá nhân như trong quan hệ gia đình, nhà trường, cơ quan công tác, nghề nghiệp, bạn bè… là chuẩn để đánh giá nhân cách Về thực chất quan điểm này đã xã hội hóa nhân cách một cách giản đơn

1.2.4 Nhân cách theo Platônôp là con người có ý thức, có lý trí và ngôn ngữ, lầ con

người lao động

1.2.5 Nhân cách được hiểu như cá nhân của con người với tư cách là chủ thể của

mối quan hệ và hoạt động có ý thức: Hiện nay quan điểm này được đa số các

Trang 6

nhà tâm lý học xã hội chấp nhận, coi nhân cách là cá nhân là cá thể so với tập thể và xã hội

1.2.6 Nhân cách được hiểu như là các thuộc tính nào đó tạo nên bản chất nhân cách

như là các thuộc tính ổn định, các thuộc tính sinh vật hoặc thuộc tính xã hội P.Bueeva cho rằng nhân cách là con người với toàn bộ những phẩm chất xã hội của nó Nhân cách là toàn bộ những đặc tính và những quy luật cá nhân (H.Hipsô, M.Phorvee), là tổng số những đặc điểm cá nhân con người mà không người nào giống người nào (E.P.Hôlenđơ) Nhân cách là tâm thể

(Uzơnatze)là thái độ (V.N.Miaxisev), là phương thức tồn tại của con người trong xã hội, tron điều kiện lịch sử cụ thể (L.I.Anxưphêrôva) Những quan điểm này chỉ chú ý đến cái đơn nhất trong nhân cách, chưa thể hiện tính toàn diện trong định nghĩa về nhân cách

1.2.7 Nhân cách được hiểu như cấu trúc hệ thống tâm lý cá nhân: Trong hang chục

năm lại đây, nhiều nhà tâm lý học đều có xu hướng kiểu nhân cách là cấu trúc, hệ thống tâm lý (A.N.Lêônchiep, K.Obuchowxki) Nhân cách là cấu tạo tâm lý mới được hình thành trong mối quan hệ sống của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của con người đó (A.N.Lêônchiep) Với quan niệm bản chất nhân cách là một hệ thống tổ chức K.Ôbuchôxki đã định nghĩa như sau:

“ Nhân cách là sự tổ chức những thuộc tính tâm lý của con người có tính chất, điều kiện lịch sử xã hội, ý nghĩa của nó cho phép giải thích và dự đoán hành động cơ bản của con người” Từ bảy quan niệm trên, chúng ta thấy rằng cho đến nay vẫn chưa có một trường nào giải quyết một cách thỏa đáng, một cách toàn diện về vấn đề bản chất nhân cách Vấn đề nhân cách vẫn luôn là vấn đề nóng bỏng và hết sức quan trọng trong cac khoa học về con người nói chung và tâm lý học nói riêng

Chương 2: Đặc điểm lao động của người giáo viên

* Mục đích của lao động sư phạm là hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, chuẩn bị cho các năng lực và phẩm chất để sống và động theo các yêu cầu mà

xã hội mong đợi, phù hợp với trình độ phát triển và tiến bộ của xã hội

3.1 Nghề mà đối tượng quan hệ trực tiếp là con người

- Vì đối tượng quan hệ trực tiếp là con người, đòi hỏi người giáo viên phải

có sự tôn trọng, lòng tin, tình thương, sự đối sử công bằng, thái độ ân cần, lịch sự, tế nhị,

- Đối tượng của người giáo viên và con người đang trong thời kỳ chuẩn bị, đang ở buổi bình minh của cuộc đời Xã hội tương lai mạnh hay yếu, phát triển hay trí tuệ tùy thuộc vào nội dung và chất lượng của thời kì chuẩn bị này

3.2 Nghề mà công cụ chủ yếu là nhân cách của chính mình:

Trang 7

- Trong dạy học và giáo dục, giáo viên dùng nhân cách của chính mình để tác động vào học sinh Đó là sản phẩm chính trị là sự giác ngộ về lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ, là long yêu nghề mến trẻ, là trình độ học vấn, là sự thành thạo về nghề nghiệp, là lối sống cách ứng xử và kỹ năng giao tiếp…

- Nghề đào tạo con người lại là nghề lao động nghiêm túc, không được phép tạo ra thứ phẩm hay phế phẩm như ở một số nghề khác

- Để thành một người giáo viên tốt, trước hết cần phải sống một cuộc sống chân chính, vẹn toàn nhưng đồng thời phải có ý thức và kĩ năng tự hoàn thiện mình.Tâm hồn của nhà giáo phải được bồi bổ rất nhiều để có khả năng truyền lại gấp bội cho thế hệ trẻ

3.3 Nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội (ý nghĩa chính trị và kinh tế to lớn)

- Sức lao động chính là toàn bộ sức mạnh vật chất hay tinh thần ở trong con người, nhân cách sinh động của cá nhân cần thiết để sản xuất ra sản phẩm vật chất hay tinh thần có ích cho xã hội

- Chức năng của giáo dục, mà giáo viên là lực lượng chủ yếu, chính là bồi dưỡng và phát huy sức mạnh đó ở trong con người

3.4 Nghề đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và tính sang tạo cao:

- Ai có ở trong nghề giáo viên, ai có làm việc đầy đủ tinh thần trách

nhiệm, với lương tâm nghề nghiệp cao thượng thì mới cảm thấy lao động

sư phạm là một lao động căng thẳng, tinh tế, không rập khuôn, không đóng khung trong một giờ giảng, trong khuôn khổ nhà trường

- Dạy học đòi hỏi người giáo viên phải dựa trên nền tảng khoa học xác định, khoa học bộ môn cũng như khoa học giáo dục và có những kĩ năng

sử dụng chúng vào từng tình huống sư phạm cụ thể thích ứng với từng cá nhân sinh động

Chương 3: Phẩm chất đạo đức năng lực uy tín người giáo viên

* Nói đến nhân cách là nói đến tổng thể những phẩm chất và năng lực tạo nên bản sắc (nét đặc trưng) và giá trị tinh thần (giá trị làm người) Như vậy cấu trúc của nhân cách là một hệ thống gồm hai bộ phận: phẩm chất

và năng lực

* Nói đến phẩm chất là nói đến thái độ của người đó với hiện thực , có nghĩa là hệ thống những thuộc tính tâm lý biểu hiện các mối quan hệ xã hội cụ thể của người đó

3.1 Phẩm chất của người giáo viên

Đặc điểm của nghề dạy học như bác hồ đã nói là: “Dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non tốt thì sau này cây lên tốt Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt” Nên trong quá trình dạy học người giáo

Trang 8

viên luôn tác động trực tiếp đến sự phát triển nhân cách của học sinh, đòi hỏi người giáo viên phải có những phẩm chất:

3.1.1 Thế giới quan khoa học

- Đây là phẩm chất quan trọng trong cấu trúc nhân cách của người giáo viên Thế giới quan của người giáo viên việt nam là thế giới Mác – Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh, là thành tố nền tảng, định hướng cho toàn bộ thái độ, hành vi ứng xử của giáo viên trước các vấn đề của thế giới tự nhiên, thực tiễn xã hội và thực tiễn nghề nghiệp Thế giới quan của giáo viên nhà trường xã hội chủ nghĩa phải là thế giới quan Mác- Leenin, tạo nên niềm tin chính trị của giáo viên và chế độ xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho giáo viên thực hiện tốt định hướng tiếp tục đổi mới nội dung giáo dục theo nghị quyết trung ương 2 là tang cường giáo dục công dân, tư tưởng đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác- Lênin

- Người giáo viên là người giác ngộ xã hội chủ nghĩa gắn liền với lý

tưởng nghề nghiệp trong sáng, luôn say sưa học tập, nâng cao kiến thức, trình độ đạo đức cách mạng, có năng lực và trình độ tổ chức thực hiện thành công quy trình dạy học cũng như giáo dục đạo đức cho học sinh Trong bất cứ hoạt động nào, người giáo viên chỉ có thuyết phục được mọi người bằng uy tín sư phạm, bằng niềm tin vào sự nghiệp của mình

- Tư duy giáo dục là một biểu hiện cụ thể thế giới quan khoa học của người giáo viên Đó là lối suy nghĩa về giáo dục Ở người giáo viên có tư duy giáo dục trong mọi lời nói, cử chỉ, thái độ, và hành vi đều được cân nhắc tren tất cả các phương diện giáo dục

3.1.2 Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ

- Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ là “ Ngôi sao dẫn đường” giúp cho giáo viên luôn đi lên phía trước, thấy hết được giá trị lao động của mình đối với thế

hệ trẻ, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách học sinh Mặt khác lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách của học sinh, để lại những dấu ấn đậm nét trong tâm trí học sinh, có tác dụng định hướng, điều khiển quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ

Lý tưởng nghề nghiệp của người thầy giáo là lý tưởng vì sự nghiệp “ quốc sách hàng đầu”, về sự nghiệp “ trồng người”, lý tưởng xây dựng một nền giáo dục hưng thịnh, trẻ em đều được đi học, đều đưpực hưởng nền giáo dục tốt và đều có sự phát triển lành mạnh

Lý tưởng nghề nghiệp của người thầy giáo là sự phản ánh, sự triết lý giáo dục của người giáo viên, là tư tưởng linh hồn, lẽ sống của người giáo viên

Trang 9

- Biệu hiện: Niềm say mê nghề nghiệp, lòng yêu trẻ lương tâm nghề, tận tụy với công việc, tác phong làm việc cần cù, trách nhiệm, lối sống giản

dị, chân thành…

- Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ không phải là cái có sẵn, cũng không phải được truyền người này sang người khác mà nó được hình thành và phát triển qua một quá trình hoạt động tích cực, lâu dài trong suốt quá trình học tập ở nhà trường sư phạm và trong suốt quá trình hành nghề của người giáo viên Chính trong quá trình đó, nhận thức về nghề nghiệp, tình cảm nghề nghiệp ngày càng được nâng cao, càng sâu sắc

3.1.3 Lòng tin yêu học sinh

- “Đối với một nhà giáo dục, điều chủ yếu là tình người, đó là một nhu cầu sâu sắc trong con người Những mầm móng của hứng thú sư phạm là

ở chỗ hoạt động sáng tạo đầy tình người để tạo ra hanh phúc cho con người Vì khi tạo ra niềm vui cho người khác, cho trẻ thơ thì ở chỗ họ sẽ

có một tài sản vô giá: đó là tình người, mà tập trung là sự nhiệt tâm, thái

độ ân cần và chu đáo, long vị tha” (Xukhômlinski)

- Đây là một phẩm chất đạo đức cao quý của con người, đồng thời là phẩm chất đặc trưng trong nhân cách của người giáo viên, có như vậy mới thu hút và cảm hóa được học sinh Chính tình yêu học sinh sớm nảy nở như một phẩm chất tự nhiên, đã là nhân tố người thanh niên vào nghề dạy học và làm công tác Qua tiếp xúc với học sinh, tình cảm yêu mến học sinh cũng dần dần phát triển và ngày càng gắn bó nhà giáo với nghề mình

đã chọn Bí quyết thành công của người giáo viên bắt nguồn từ đó, một thứ tình cảm đầy tình người, vừa thật long yêu thương gần gũi, ân cần, khoan dung vừa nghiêm nghị, công bằng, có yêu cầu cầu cao đối với học sinh Một nét đòi hỏi người giáo viên hiện nay phải tôn trọng nhân cách của học sinh, biết hợp tác với học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục, biết tạo dựng bầu không khí trong lớp học Giáo viên vừa là người thầy, cô dìu dắt giúp đỡ học sinh, vừa là người bạn chân thành, thân thiết, gần gũi chia sẽ những nỗi lòng thầm kín của học sinh Giáo ciên là tấm gương soi chiếu vào tâm hồn trong sáng , hồn nhiên của các em Trên cở

sở đó, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo trong mỗi học sinh để đạt được mục tiêu giáo dục với chất lượng và hiệu quả cao Trong quá trình giáo dục đòi hỏi người giáo viên phải kếp hợp giữa lí trí và tình cảm để giáo dục nhưng đặt biệt là giáo dục tình cảm, tránh dùng biện pháp thô bạo mệnh lệnh, lời nói thô lỗ Tránh quát mắng đánh đập các em, phải động viên khen thưởng đúng mức Khi quá cần thiết, bất đắc dĩ mới trách phạt 3.1.4 Lòng yêu nghề

Trang 10

- Giáo viên phải có lòng yêu nghề, xuất phát từ lòng yêu thương học sinh

mà hình thành thái độ sư phạm mẫu mực: Tìm tòi nội dung, lo lắng, để giáo dục sát đối tượng, đảm bảo hiệu quả giáo dục, từ đó thu hút , cảm hóa thuyết phục các em Là tình yêu và sự gắn bó với nghề dạy học của nghề giáo viên để có lòng yêu nghề Lòng thương người, tình yêu đối với học sinh là một nguồn động lực mạnh mẽ giúp người giáo viên chủ nhiệm vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện chức năng người “ Kỹ sư tâm hồn” với tinh thần trách nhiệm cao, với niềm say mê sáng tạo, vowsi ý chí không ngừng học hỏi, vươn lên hoàn thiện mình để cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp trồng người

Ngoài nững phẩm chất ấy đặc trưng nói trên, trước hết người giáo viên phải là người công dân gương mẫu, có ý chí trách nhiệm xã hội cao, hăng hái tham gia vào sự phát triển của cộng đồng Người giáo viên phải có phong cách sư phạm, sống cuộc sống trong sáng, khiêm tốn, giản dị, chan hòa gần gũi, sẵn sàng giúp đỡ mọi người Người giáo viên là tấm gương sáng cho học sinh noi theo

3.1.5 Một số phẩm chất đạo đức và ý chí của người giáo viên

- Khác với các hoạt động khác, hoạt động của người giáo viên nhằm làm thay đổi con người ( học sinh) Do vậy, mối quan hệ thầy trò là vấn đề quan trọng nhất Nội dung, tính chất và cách xử lý mối quan hệ này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học, tạo sự cân bằng trong quan hệ giáo viên và trò, tác động trực tiếp đến học sinh Hơn nữa, người thầy giáo dục học sinh không những bằng hành động trực tiếp của mình mà còn bằng tấm gương của cá nhân mình, bằng thái độ và hành vi của chính mình đối với thực hiện

- Để làm điều đó, giáo viên một mặt phải biết lấy những quy định khách quan làm chuẩn mực cho mọi tác động sư phạm của mình, mặt khác, phải

có những phẩm chất đạo đức và phẩm chất ý chí cần thiết Trong những phẩm chất đó, ta có thể nêu lên những phẩm chất đạo đức và ý chí không thể thiếu Đó là tinh thần nghĩa vụ, tinh thần “ mình vì mọi người, mọi người vì mình”, thái độ nhân đạo, lòng tôn trọng, thái độ công bằng, chính trực, tính tình ngay thẳng giản dị và khiêm tốn, tính mục đích, nguyên tắc, kiên nhẫn, tự kiềm chế, biết tự chiến thắng với những thói hư tật xấu, kỹ năng điều khiển tình cảm, tâm trạng cho thích hợp với các tình huống sư phạm…

3.2 Năng lực sư phạm

Hoạt động của người giáo viên biểu hiện ở tất cả các hình thức khác nhau của công tác sư phạm nhưng chung lại ở hai dạng đặc trưng: công tác dạy học và công tác giáo dục Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ là tương

Ngày đăng: 16/05/2022, 00:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w