2 BỘ TƯ PHÁP ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI MÔN HỌC LUẬT NGÂN HÀNG ĐỀ TÀI HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Lớp Hà Nội, Tháng 42022 Mục lục MỞ ĐẦU 4 NỘI DUNG 5 Chương I Một số vấn đề lý luận chung về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ngân hàng 5 1 1 Khái niệm 5 1 1 Khái niệm cho vay 5 1 2 Khái niệm hợp đồng tín dụng ngân hàng 5 1 2 Các hình thức cho vay của tổ chức tín dụng ngân hàng 6 1 3 Hợp đồng tín dụng ngân hàng 11 1 3 1 Đặc đi.
Trang 1ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÔN HỌC: LUẬT NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI: HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 4/2022
Trang 2Mục lục
Trang 3MỞ ĐẦU
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngânhàng Trong đó hoạt động ngân hàng có thể được hiểu là việc kinh doanh, cung ứng thườngxuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứngdịch vụ thanh toán qua tài khoản Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụngphi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân Tổ chức tín dụng có vaitrò to lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế; các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tăng trưởng vàthành công hay không thì một phần nhờ vào sự tiếp cận các tổ chức tín dụng
Như chúng ta đã biết, cho vay là một trong những hình thức cấp tín dụng của tổ chức tíndụng, theo đó, tổ chức tín dụng sẽ chuyển giao cho bên vay một khoản vốn tiền tế, bên vay
sẽ sử dụng khoản vốn tiền tệ đó trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó sẽ hoàn trảcho tổ chức tín dụng cả gốc lẫn lãi và theo thỏa thuận Điều này được thể hiện dưới dạngbản hợp đồng gọi là hợp đồng tín dụng
Khác với pháp luật dân sự, thương mại nói chung, pháp luật ngân hàng quy định khá chặtchẽ về điều kiện cho vay của các tổ chức tín dụng Vì việc cho vay của ngân hàng giốngnhư việc bán chịu hàng hóa, đôi khi được ví như cầm dao đằng lưỡi, có nhiều rủi ro ảnhhưởng đến an toàn hệ thống ngân hàng Vậy những quy định của pháp luật về hoạt độngcho vay của tổ chức tín dụng như thế nào và thực tiễn thực hiện ra sao, Nhóm 9 xin được
trình bày cụ thể trong đề tài “Pháp luật về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng”
Trang 5Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ngân hàng.
1.1 Khái niệm
1.1 Khái niệm cho vay
Theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 20/VBHN – NHNN ngày22/05/2014 của Ngân hàng Nhà nước về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng,
“ cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sửdụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận vớinguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
1.2 Khái niệm hợp đồng tín dụng ngân hàng
Hợp đồng tín dụng là thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng ( gọi là bên cho vay),với khách hàng là tổ chức cá nhân ( gọi là bên vay) theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuậnứng trước một số tiền cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện
có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm1
1.2 Các hình thức cho vay của tổ chức tín dụng ngân hàng
Như đã biết, cho vay là một hình thức cấp tín dụng cho khách hàng của tất cả các ngânhàng thông qua hình thức pháp lý là hơp đồng tín dụng
Hiện này, luật cũng đã quy định rất cụ thể về phương thức cho vay (ngắn hạn) của các tổchức tín dụng và nội dung này được thể hiện một cách rõ ràng tại Điều 27 Thông tư số39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngânhàng nước ngoài đối với khách hàng Theo đó, luật quy định hoạt động cho vay của tổ chức
1Trang 162, giáo trình Luật Ngân hàng
Trang 6tín dụng ngân hàng được diễn ra theo 8 phương thức cụ thể như sau:
1.2.1 Phương thức cho vay từng lần
Đây là một phương thức cho vay mà mỗi lần vay khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủtục vay vốn cần thiết và kí kết hợp đồng tín dụng
Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu và đề nghị vay vốn từng lần,khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên hoặc khách hàng mà ngân hàng xétthấy cần thiết phải áp dụng cho vay từng lần để giám sát kiểm tra quản lý việc sử dụng vốnvay chặt chẽ an toàn
Đối với phương thức này, người vay sẽ phải làm hồ sơ vay vốn cho từng lần vay với lãisuất, thời hạn trả tiền và số tiền vay xác định Chẳng hạn, giả sử ngày 01/01/2009, bạn cónhu cầu mua NVL, bạn lập hồ sơ vay 300tr trong thời hạn 4 tháng Tới ngày 12/02/2009bạn cần mua một thiết bị và bạn lại lập một hồ sơ mới xin vay 150tr trong thời hạn 2 tháng
Và nếu NH đồng ý cho bạn vay thì họ sẽ giải ngân cũng như theo dõi hai khoản nợ nàyriêng,tính lãi riêng và thu nợ riêng.)
Ưu điểm: Phương thức này là linh hoạt trong quá trình sử dụng vốn của ngân hàng Khi
nào khách hàng có nhu cầu vay vốn, ngân hàng mới xem xét đáp ứng (mỗi lần vay ngânhàng đều định thời hạn cho khoản vay đó, đến thời hạn trả nợ người vay phải có tráchnhiệm trả nợ ngân hàng) Do đó, qua phương thức cho vay này ngân hàng kiểm tra chặt chẽđược từng khoản vay, tính toán được hiệu quả kinh tế của từng đối tượng cho vay từ đóđảm bảo được khả năng an toàn vốn cho ngân hàng Thực tế, phương thức này được ápdụng khá phổ biến ở Việt Nam vì doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, không cần vốnthường xuyên, trong khi ngân hàng với nghiệp vụ chưa cao nên cho vay theo hình thức này
sẽ giảm bớt được rủi ro
Nhược điểm: Cho vay từng lần thủ tục rườm rà, phức tạp, gây khó khăn cho người vay.
Mỗi lần vay tiền, người vay phải làm đơn xin vay gửi tới ngân hàng xem xét quyết định
Trang 7cho vay Nếu đối tượng vay vốn có vòng quay nhanh thì doanh nghiệp sẽ sử dụng món vay
đó vào nhiều mục đích mà ngân hàng không kiểm soát được điều này gây nên tình trạngchiếm dụng vốn lẫn nhau ảnh hưởng đến việc thu hồi nợ, ảnh hưởng đến nguồn vốn củangân hàng
1.2.2 Cho vay hợp vốn:
Là một trong các phương thức cho vay của ngân hàng, cụ thể, khoản 2 Điều 27 Thông tư
số 39/2016/TT-NHNN đưa ra định nghĩa cho vay hợp vốn “Là việc có từ hai tổ chức tíndụng trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự ánvay vốn”
Phương thức vay này có một số đặc trưng như sau:
- Khoản vay hợp vốn phải có sự tham gia của 2 ngân hàng hoặc 2 đơn vị tài chính trở lên.Một ngân hàng làm đầu mối chịu trách nhiệm, ăn phí và hưởng hoa hồng cao hơn, nhưng
sẽ phải chịu nhiều rủi ro hơn Phần còn lại là các ngân hàng thành viên, chịu chi phí thấphơn, nhưng ít rủi ro hơn
- Hình thức cho vay hợp vốn chỉ phù hợp với những khoản vay lớn hoặc những khoản vayphức tạp, khó thẩm định
- Khoản vay có khoảng cách địa lý và thời gian hoàn vốn dài, ví dụ dự án xây dựng đượctriển khai ở vùng sâu, vùng xa, …
Thực tế, ngân hàng đầu mối sẽ quản lý dòng tiền chính của dự án, sau khi có tiền sẽ chiađều cho các ngân hàng thành viên Ngân hàng thành viên nào giải ngân chậm sẽ bị phạthoặc ngân hàng đầu mối chuyển lãi chậm cũng bị phạt
Về ưu điểm, cho vay hợp vốn giúp các doanh nghiệp có điều kiện để kinh doanh, hoạt động
tốt hơn,giải quyết các hạn chế về tài chính Hơn nữa, hiện nay nhiều ngân hàng cho vay lớnhơn hẳn hạn mức cho vay của một ngân hàng Khi cần rút vốn vay, ngân hàng sẽ làm đầu
Trang 8mối đảm bảo khoản vay và thu xếp cho các ngân hàng khác tham gia Việc giải quyết cácthủ tục cho vay của phương thức này cũng rất đơn giản, thuận lợi và hiệu quả.
Về nhược điểm (rủi ro), ngoài những ưu điểm nổi trội như trên thì phương thức cho vay
hợp vốn cũng đang tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Chẳng hạn, rủi ro về liên kết, đây là loại rủi ronảy sinh từ sự hợp tác liên kết trong hợp vốn không có hiệu quả, và loại rủi ro này phátsinh từ những giai đoạn: mời gọi hợp vốn, ký kết hợp đồng hợp vốn, giải ngân, thu nợ Một
số rủi ro khác có thể kể đến đó là rủi ro về tín dụng , rủi ro lãi suất (là rủi ro có liên hệ đếntính chất không chắc chắn về biến động lãi suất và lợi tức), và rủi ro tỷ giá (là loại rủi romang tính chất xã hội cao, phần lớn nguyên nhân thường mang tính nội bộ trong nước, rủi
ro có phạm vi rộng và mức độ ảnh hưởng lớn, )
1.2.3 Cho vay lưu vụ:
Là việc tổ chức tín dụng thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc cáccây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc cáccây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm Theo đó, tổ chức tín dụng và kháchhàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếptheo nhưng không vượt quá thời gian của 02 chu kỳ sản xuất liên tiếp
1.2.4 Cho vay theo hạn mức:
Tổ chức tín dụng xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đađược duy trì trong một khoảng thời gian nhất định Trong hạn mức cho vay, tổ chức tíndụng thực hiện cho vay từng lần Một năm ít nhất một lần, tổ chức tín dụng xem xét xácđịnh lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này
Khi vay, người vay chỉ lập hồ sơ 1 lần cho nhiều khoản vay, ngân hàng cấp cho khách 1hạn mức, chỉ giới hạn dư nợ, không giới hạn doanh số (Ví dụ: Vay hạn mức 50tr 1 tháng,bạn có thể vay tối đa 50tr, nếu trả 20tr trong tháng có thể vay tiếp 30tr,có thể giải ngân làmnhiều lần theo nhu cầu vay vốn của mình miễn sao số dư cuối tháng không vượt quá hạn
Trang 9mức 50tr.)
Ưu điểm:
+ Tiết kiệm vốn tối đa cho người vay vì khi mua nguyên liệu hàng hoá thì vay, bán hàng làghi thẳng vào bên Có để trả nợ không phải vừa vay vừa đọng tiền gửi như lối cho vay từnglần
+ Cán bộ ngân hàng dễ nắm tình hình đơn vị vay vì doanh số cho vay thể hiện doanh sốmua vào, doanh số thu nợ thể hiện doanh số bán ra Từ đó biết tình hình hoạt động kinhdoanh của khách hàng tương đối chính xác đặc biệt là khả năng tài chính của khách hàng
Nhược điểm:
+ Do ngân hàng và khách hàng cùng thoả thuận hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạnnhất định nên ngân hàng luôn phải duy trì một số vốn nhất định để sẵn sàng giải ngân chongười vay làm cho ngân hàng bị đọng vốn sử dụng, nếu khoản vay lớn có thể dẫn đến tìnhtrạng ứ đọng vốn của ngân hàng bởi đó là những khoản vốn chết đã không đem lại lợinhuận cho ngân hàng mà ngân hàng còn phải trả lãi huy động cho những khoản vốn đó.+ Phương thức cho vay này không phổ biến ở VN do các doanh nghiệp không có nhu cầuvốn thường xuyên, hành lang pháp lý chưa chặt chẽ dẫn đến việc ngân hàng khó xử lýtrong việc phạt nợ quá hạn, vì vậy ngân hàng thường ít cung cấp dịch vụ này
1.2.5 Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng:
Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi mứccho vay dự phòng đã thỏa thuận Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệulực của hạn mức cho vay dự phòng nhưng không vượt quá 01 (một) năm
1.2.6 Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: Tổ chức tín dụng chấpthuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một
Trang 10mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán Mức thấu chitối đa được duy trì trong một khoảng thời gian tối đa 01 (một) năm.
Mặt xấu của hình thức này là lãi suất khá cao Lời khuyên dành cho bạn là hãy cân nhắckhả năng chi trả trước khi làm quyết định vay thấu chi tại các ngân hàng Nếu bạn là người
có thói quen "vung tay quá trán" thì nên cân nhắc kỹ hơn hoặc tìm kiếm một giải pháp vaytiêu dùng khác Điều quan trọng là luôn phải đảm bảo được khả năng trả nợ trước khi vay,tránh trường hợp không có khả năng chi trả sẽ ảnh hưởng đến lịch sử tín dụng sau này.1.2.7 Cho vay quay vòng:
Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay đối với nhu cầu vốn có chu kỳhoạt động kinh doanh không quá 01 (một) tháng, khách hàng được sử dụng dư nợ gốc củachu kỳ hoạt động kinh doanh trước cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo nhưng thời hạn chovay không vượt quá 03 (ba) tháng
– Ưu điểm chính của tín dụng quay vòng là nó cho phép người vay linh hoạt tiếp cận tiềnkhi họ cần Nhiều doanh nghiệp nhỏ và lớn phụ thuộc vào tín dụng quay vòng để duy trìkhả năng tiếp cận tiền mặt ổn định thông qua những biến động theo mùa về chi phí vàdoanh số bán hàng của họ
1.2.8 Cho vay tuần hoàn:
Cho vay tuần hoàn (rollover loan) là khoản vay mà ngân hàng cho phép người vay, sau mộtthời gian vay cụ thể, được tiếp tục nợ tiền vay sau ngày trả nợ khoản vay mà người vayđồng ý trả lãi suất ở mức cụ thể và phải trả lại tiền vay tại một thời gian cụ thể
Các điều kiện để vay tuần hoàn:
- Đến thời hạn trả nợ, khách hàng có quyền trả nợ hoặc kéo dài thời hạn trả nợ thêm mộtkhoảng thời gian nhất định đối với một phần hoặc toàn bộ số dư nợ gốc của khoản vay;
- Tổng thời hạn vay vốn không vượt quá 12 tháng kể từ ngày giải ngân ban đầu và không
Trang 11vượt quá một chu kỳ hoạt động kinh doanh.
- Tại thời điểm xem xét cho vay, khách hàng không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng;
- Trong quá trình cho vay tuần hoàn, nếu khách hàng có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng thìkhông được thực hiện kéo dài thời hạn trả nợ theo thỏa thuận
1.3 Hợp đồng tín dụng ngân hàng
1.3.1 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng ngân hàng
Thứ nhất, về chủ thể một bên tham gia hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng
có đủ các điều kiện luật định với tư cách là bên cho vay Còn chủ thể bên kia ( bên vay) cóthể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thỏa mãn những điều kiện vay vốn do phápluật hoặc do tổ chức tín dụng quy định
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng tín dụng là tiền ( bao gồm tiền mặt và bút tệ) Về nguyêntắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phảiđược các bên thỏa thuận ghi rõ trong văn bản hợp đồng
Thứ ba, hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ, rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bênvay Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay chỉ có thể đòitiền của bên vay sau thời hạn nhất định Thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bấttrắc càng lớn và vì thế tổ chức tín dụng càng phải quan tâm đến việc áp dụng càng phảiquan tâm đến việc áp dụng các biện pháp quản trị rủi ro, đồng thời phải quy định lãi suấtcho vay cao hơn nhằm thu hồi đủ các chi phí bỏ ra cho việc quản lý các khoản cho vay dàihạn với mức độ rủi ro cao
Thứ tư, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụngn, nghĩa vụ chuyểngiao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước,làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay Do đó, chỉ khi nào
Trang 12bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tíndụng cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụđối với mình ( bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụhòan trả tiền vay đúng hạn cả gốc và lãi,…)
1.3.2 Hình thức của hợp đồng tín dụng ngân hàng
Hợp đồng tín dụng là một dạng hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự
2015 Theo đó, hình thức của hợp đồng vay tài sản Bộ luật Dân sự cho phép Luật chuyênngành được ấn định hình thức cụ thể để phù hợp và đảm bảo hạn chế rủi ro có thể tiềm ẩntrong giao dịch cụ thể liên quan đến chuyên ngành đó và pháp luật ngân hàng quy địnhrằng thỏa thuận cho vay phải được lập thành văn bản, vì vậy hợp đồng tín dụng cũng làhình thức thể hiện bằng văn bản của một thỏa thuận cho vay giữa ngân hàng và người đivay Hoạt động cho vay là một hoạt động phức tạp và mang tính rủi ro cao nên vì vậy việcthể hiện hợp đồng tín dụng dưới hình thức văn bản nhằm giúp cho tổ chức tín dụng có thểquản lý và kiểm soát tốt hoạt động cho vay của mình, đồng thời là một chứng cứ cho haibên khi có tranh chấp xảy ra
Thông thường, hợp đồng tín dụng đa phần sẽ là các hợp đồng theo mẫu, có nghĩa là hợpđồng được tổ chức tín dụng soạn thảo sẵn đối với từng nghiệp vụ cho vay của mình, nhữnghợp đồng này do một bên soạn thảo nên sẽ không tránh khỏi tình trạng họ sẽ soạn thảo theohướng có lợi cho mình, đặc biệt là khi mà một bên soạn thảo lại là những người có chuyênmôn cao trong lĩnh vực kinh doah tiền tệ như ngân hàng, và bên còn lại là khách hàng đivay lại yếu thế hơn về mặt kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực này nên họ sẽ khôngthể nắm bắt hết được toàn bộ nội hàm và ý nghĩa của từng điều khoản trong hợp đồng tíndụng, vì vậy pháp luật dân sự dành một sư ưu tiên trong việc giải thích hợp đồng theo mẫu,theo đó trường hợp bên soạn thảo đưa vào nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích
Trang 13hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia và khi hợp đồng theo mẫu có điều khoảnkhông rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản
đó
1.3.3 Bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng
- Là hợp đồng cho vay tài sản theo Bộ luật dân sự 2015; là sự thỏa thuận giữa các bên, theo
đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bêncho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏathuận hoặc pháp luật có quy định
- Bên cho vay là tổ chức tín dụng
Chương II: Pháp luật về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng
2.1 Nguyên tắc cho vay
Nguyên tắc cho vay, vay vốn của tổ chức tín dụng được quy định tại Điều 4 Thông tư39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngânhàng nước ngoài đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành như sau:
1 Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được thực hiện theo thỏathuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, phù hợp với quy định tại Thông tư này và cácquy định của pháp luật có liên quan bao gồm cả pháp luật về bảo vệ môi trường
Trang 142 Khách hàng vay vốn tổ chức tín dụng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích,hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn đã thỏa thuận với tổ chức tín dụng.
2.2 Điều kiện cho vay vốn
Khi cho vay, ngân hàng ngoài yêu cầu khách hàng vay vốn phải đảm bảo các nguyên tắcthì ngân hàng còn phải xem xét cho vay ki khách hàng thỏa mãn một số điều kiện vay nhấtđịnh Theo đó, căn cứ Điều 7 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN thì tổ chức tín dụng xem xét,quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:
- Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật.Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quyđịnh pháp luật hoặc từ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất năng lực hành vi dân sựtheo quy định của pháp luật
+ Đối với khách hàng là tổ chức, thì tổ chức này phải có tư cách pháp nhân, pháp nhân nàybao gồm pháp nhân được thành lập và hoạt động tại VN và pháp nhân được thành lập ởnước ngoài và hoạt động hợp pháp tại VN Vì vậy, với những tổ chức kinh doanh không có
tư cách pháp nhân như doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể, hộ gia đình hoặc tổhợp tác nếu cần vay để phục vụ cho hoạt dộng kinh doanh của mình thì người chủ sở hữu
sẽ là khách hàng đi vay vốn và vay với tư cách cá nhân
+ Đối với khách hàng là cá nhân (bao gồm cá nhân có quốc tịch VN và cá nhân có quốctịch nước ngoài) điều kiện được đặt ra là các cá nhân này phải đủ từ 18 tuổi trở lên có nănglực hành vi dân sự đầy đủ có nghĩa là những cá nhân này không bị rơi vào các trường hợp
bị tòa tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức
và làm chủ hành vi của mình hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Bên cạnh đó,thông tư này mở rộng thêm đối tượng khách hàng là cá nhân từ đủ 15 đến dưới 18 tuổiđược vay tại Ngân hàng thương mại
- Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp