1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC CỦA HIỆP HỘI CÔNG TÁC XÃ HỘI (CTXH) HOA KỲ (NASW)

31 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bộ Quy Tắc Đạo Đức Của Hiệp Hội Công Tác Xã Hội (CTXH) Hoa Kỳ (NASW)
Tác giả Doãn Thi Ngọc
Trường học Đại Học Mở TPHCM
Chuyên ngành Công Tác Xã Hội
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2017
Thành phố TPHCM
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 777,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ qui tắc này tóm tắt các nguyên tắc đạo đức chung, phản ánh các giá trị cốt lõi của ngành và thiết lập một tập hợp các tiêu chuẩn đạo đức cụ thể để hướng dẫn thực hành CTXH.. Bộ qui tắ

Trang 1

BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC CỦA HIỆP HỘI CÔNG TÁC XÃ HỘI (CTXH) HOA KỲ (NASW)

Hội Đồng Thành Viên Hiệp Hội CTXH Hoa Kỳ (NASW) đã phê duyệt Bộ Qui Tắc Đạo Đức này vào năm 1996 và đã sửa đổi vào năm 2008

Phần 3: “Các nguyên tắc đạo đức” trình bày những nguyên tắc đạo đức chung

dựa vào những giá trị cốt lõi trong thực hành CTXH

Phần 4, “Những tiêu chuẩn đạo đức” bao gồm những tiêu chuẩn đạo đức cụ thể

hướng dẫn hành vi thực hành của NVXH và cung cấp một nền tảng cho những quyết định đúng và phù hợp

PHẦN 1: LỜI NÓI ĐẦU

Sứ mệnh chính của ngành CTXH là nâng cao tình trạng an sinh hạnh phúc (well-being) cho mọi người và giúp họ đáp ứng nhu cầu cơ bản, đặc biệt

chú ý đến những nhu cầu và tăng quyền lực cho những nhóm người dễ bị tổn

thương, bị áp bức và sống trong nghèo đói Một tính năng lịch sử và minh định của ngành CTXH là tập trung vào phúc lợi cá nhân trong bối cảnh xã hội và an sinh phúc lợi trong bối cảnh mà cá nhân đang sinh sống Nền tảng cơ bản của ngành CTXH là quan tâm đến những tác động của môi trường mà chúng gây ra những vấn đề trong cuộc sống

NVXH cùng với thân chủ hoặc đại diện cho thân chủ (TC), thúc đẩy công bằng xã hội và thay đổi xã hội "TC" là từ được dùng chung khi đề cập tới các cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức và cộng đồng Đồng thời, NVXH cần phải nhạy cảm

Trang 2

với sự đa dạng về văn hóa và về dân tộc NVXH không ngừng nỗ lực loại bỏ sự phân biệt đối xử, áp bức, đói nghèo, và các hình thức bất công xã hội khác Các hoạt động này có thể thực hành ở chuyên ngành CTXH vi mô hay chuyên ngành

CTXH vĩ mô (tổ chức cộng đồng hay phát triển cộng đồng, giám sát, quản trị, tư

vấn, vận động, hoạt động xã hội và chính trị, phát triển và thực hiện chính sách, giáo dục, nghiên cứu và đánh giá chương trình) NVXH cần tìm cách nâng cao

năng lực cho người dân để họ nói ra những nhu cầu của chính họ NVXH cũng tìm cách thúc đẩy sự hồi đáp kịp thời, nhanh chóng của các tổ chức, các cộng đồng và các thiết chế xã hội khác về các nhu cầu cá nhân và các vấn đề xã hội đã đang và sẽ nảy sinh

Sứ mệnh của ngành CTXH là bắt nguồn từ một tập hợp các giá trị cốt lõi

Xuyên suốt trong quá trình hình thành và phát triển của lịch sử ngành CTXH,

những giá trị cốt lõi này là nền tảng, là quan điểm độc đáo và đã và được NVXH

thừa nhận và thực hành hàng ngày

Các giá trị cốt lõi của ngành CTXH gồm:

• Dịch vụ xã hội

• Công bằng xã hội

• Nhân phẩm và giá trị của con người

• Tầm quan trọng của các mối quan hệ con người

• Tính liêm chính-thành thật

• Năng lực chuyên môn

Tập hợp giá trị cốt lõi trên thể hiện tính độc đáo cùa ngành CTXH Ngoài giá trị cốt lõi còn có các nguyên tắc đạo đức đi kèm và chúng phải hài hòa với bối cảnh xã hội của TC và thể hiện được tính phức tạp của kinh nghiệm con người

PHẦN 2: MỤC ĐÍCH CỦA BỘ QUI TẮC ĐẠO ĐỨC NASW HOA KỲ

Đạo đức nghề là trung tâm, là cốt lõi của ngành CTXH Ngành CTXH

phải có nghĩa vụ làm rõ các giá trị cơ bản, các nguyên tắc đạo đức và các tiêu

chuẩn đạo đức Bộ qui tắc đạo đức của NASW đặt ra các giá trị, nguyên tắc và tiêu

Trang 3

chuẩn này để hướng dẫn hành vi thực hành hàng ngày của NVXH Bộ qui tắc này liên quan đến tất cả các NVXH, bao gồm cả giảng viên, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, các lãnh đạo trong ngành CTXH và sinh viên đang theo học ngành CTXH, không phân biệt chức năng chuyên nghiệp, bối cảnh làm việc, hoặc người dân hay nhóm dân số mà họ phục vụ

BỘ QUI TẮC ĐẠO ĐỨC CỦA NASW CÓ SÁU MỤC ĐÍCH:

1 Bộ qui tắc này đưa ra các giá trị cốt lõi dựa vào sứ mệnh của ngành CTXH

2 Bộ qui tắc này tóm tắt các nguyên tắc đạo đức chung, phản ánh các giá trị cốt lõi của ngành và thiết lập một tập hợp các tiêu chuẩn đạo đức cụ thể để hướng dẫn thực hành CTXH

3 Bộ qui tắc này được thiết kế để giúp NVXH xác định, cân nhắc cẩn thận khi các công việc chuyên nghiệp mâu thuẫn nhau hoặc có những điều băn khoăn, không chắc chắn về đạo đức nảy sinh trong quá trình thực hành

4 Bộ qui tắc này quy định các tiêu chuẩn đạo đức mà NVXH phải có trách nhiệm với TC

5 Bộ qui tắc này giúp những NVXH mới vào nghề thích nghi với sứ mệnh, giá trị, nguyên tắc đạo đức, và các tiêu chuẩn đạo đức của ngành CTXH

6 Bộ qui tắc này giải thích rõ những tiêu chuẩn mà ngành CTXH có thể sử dụng

để đánh giá xem NVXH có hành vi vi phạm đạo đức hay không NASW có những thủ tục chính thức để xét xử việc sai phạm về đạo đức của NVXH hoặc có những qui trình can thiệp hay bênh vực NVXH khi họ bị oan Trong quá trình điều tra hay

tố tụng các vi phạm, NVXH cần phải hợp tác và tuân theo các quyết định của

NASW

Bộ qui tắc đạo đức này cung cấp một tập hợp các giá trị, nguyên tắc và tiêu chuẩn để hướng dẫn các hành vi thực hành và các quyết định khi vấn đề đạo đức xảy ra Tuy nhiên, bộ qui tắc chỉ mang tính chung nhất, chứ không quy định chi tiết NVXH nên hành động ra sao trong mọi tình huống cụ thể Khi áp dụng Bộ qui tắc này, NVXH cần phải xem xét bối cảnh thực tế và những khả năng mâu thuẫn có thể xảy ra giữa các giá trị, các nguyên tắc và các tiêu chuẩn của chính bộ qui tắc

Trang 4

này Trách nhiệm đạo đức bắt nguồn từ các mối quan hệ của con người, từ các cá nhân, gia đình đến xã hội và nghề nghiệp

Hơn nữa, Bộ qui tắc đạo đức NASW không nêu rõ giá trị nào, nguyên tắc nào và tiêu chuẩn nào là quan trọng nhất và quan trọng hơn trong những trường hợp khi chúng mâu thuẫn nhau Sự khác biệt nhất định về quan điểm giữa các NVXH có thể xảy ra và có thể sắp xếp các giá trị, các nguyên tắc đạo đức, và các chuẩn mực đạo đức theo thứ bậc cao thấp khi chúng mâu thuẫn nhau NVXH có quyền quyết định độc lập trong một tình huống đạo đức nhất định nào đó và họ phải xem xét sự việc một cách có hiểu biết, có khoa học, và họ cần phải tham khảo thêm sự thẩm định, đánh giá đạo đức từ các đồng nghiệp của mình

Việc đưa ra các quyết định đạo đức là một quá trình Có rất nhiều trường hợp không có sẵn các câu trả lời để giải quyết tình huống đạo đức phức tạp NVXH nên cân nhắc tất cả các giá trị, nguyên tắc và tiêu chuẩn trong Bộ qui tắc đạo đức cho mọi tình huống để việc quyết định đạo đức được đảm bảo Tuy nhiên, quyết định và hành động của NVXH phải phù hợp với tinh thần chung, cũng như ngữ nghĩa của Bộ qui tắc đạo đức này qui định

Ngoài ra, khi có mâu thuẫn về đạo đức, NVXH cần xem xét thêm các nguồn thông tin về qui tắc đạo đức hữu ích khác như: Các lý thuyết, nguyên tắc đạo đức chung trong xã hội, lý thuyết và các nghiên cứu CTXH, luật pháp, quy định, chính sách cơ quan, và các qui tắc đạo đức liên quan khác mà chúng được thừa nhận

trong số các quy tắc đạo đức Tuy nhiên, NVXH cần phải sử dụng Bộ qui tắc đạo đức của NASW là nguồn chính NVXH cũng cần phải ý thức về các tác động đối

với TC và ý thức về giá trị cá nhân, những giá trị về văn hóa, tín ngưỡng và tập tục khi đưa ra các quyết định đạo đức NVXH cần phải lường trước được những mâu thuẫn giữa các giá trị cá nhân và giá trị nghề nghiệp và giải quyết những mâu thuẫn một cách có trách nhiệm Hơn nữa, NVXH nên tham khảo các tài liệu thích hợp liên quan tới đạo đức nghề nghiệp và đưa ra quyết định đạo đức, đồng thời cần nhờ

tư vấn, giúp đỡ khi gặp khó khăn NVXH có thể tìm sự tư vấn và trợ giúp từ cơ quan, tổ chức nơi đang làm việc hoặc từ Ủy Ban Đạo Đức CTXH hoặc, một cơ quan quản lý, đồng nghiệp có chuyên môn và hiểu biết sâu, giám sát viên, kiểm huấn viên, lãnh đạo hoặc cố vấn pháp lý

Trang 5

Khi có mâu thuẫn về trách nhiệm đạo đức của NVXH với chính sách cơ quan, hoặc mâu thuẫn với các quy định, hay mâu thuẫn với pháp luật thì NVXH cần phải nỗ lực và có trách nhiệm giải quyết mâu thuẫn này một cách phù hợp với các giá trị, nguyên tắc và tiêu chuẩn thể hiện trong Bộ qui tắc đạo đức của NASW.Nếu không đưa ra được một giải pháp thích hợp cho mâu thuẫn này thì NVXH nên nhờ tư vấn trước khi đưa ra quyết định

Những cơ quan, tổ chức cá nhân như: NVXH, cá nhân, cơ quan, tổ chức, hội

đồng/ủy ban/bộ/ban ngành/đoàn thể (như hội đồng quản lý và cấp giấy phép hành

nghề, các nhà cung cấp bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, tòa án, ban giám đốc

cơ quan, các cơ quan chính phủ và các nhóm chuyên nghiệp khác) đều phải áp

dụng Bộ qui tắc đạo đức này của NASW như một khung tham chiếu bắt buộc Trong trường có những sai phạm về các tiêu chuẩn đạo đức trong bộ qui tắc này không có nghĩa là có vi phạm ngay về pháp luật, mà để biết có sai phạm hay không thì phải có qui trình điều tra và tố tụng Trong quá trình điều tra, hành vi có vi phạm đạo đức hay không, cần phải có những thầm định chuyên môn từ đồng

nghiệp nữa Có nghĩa là, qui trình này cho phép ngành CTXH được tư vấn hoặc kỷ luật chính thành viên của mình và sẽ tách qui trình này ra khỏi các qui trình về thủ tục pháp lý và quản trị và tách ra khỏi sự xem xét về pháp lý

Bộ quy tắc đạo đức không đảm bảo giải quyết tất cả hành vi đạo đức vì các hành vi đạo đức và các mâu thuẫn về đạo đức trên thực tế rất phức tạp hoặc khó có thể bóc tách rõ ràng được sự phong phú và đan cài trong việc đưa ra các lựa chọn

về đạo đức Thay vào đó, bộ quy tắc đạo đức chỉ đặt ra các giá trị, nguyên tắc đạo đức, và tiêu chuẩn đạo đức mà các NVXH hướng đến và theo đó mà hành động dựa trên sự phán đoán và nhận xét của họ theo cách chung nhất Hành vi đạo đức

của NVXH cần phải bắt nguồn từ sự cam kết của từng NVXH hay chuyên viên CTXH khi họ làm việc Bộ Qui tắc đạo đức của NASW thể hiện sự cam kết của

tất cả các nhân viên xã hội nhằm duy trì giá trị của ngành và hành động một cách đạo đức Nguyên tắc và tiêu chuẩn đạo đức phải được áp dụng bởi các cá nhân có nhân cách tốt và NVXH cần ý thức rõ những vấn đề đạo đức và tìm cách đưa ra quyết định đạo đức một cách đáng tin cậy và có hiểu biết

Trang 6

PHẦN 3: CÁC NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC

Các nguyên tắc đạo đức chính sau đây được dựa vào các giá trị cốt lõi của ngành CTXH gồm 6 giá trị: cung cấp dịch vụ xã hội, thúc đẩy công lý/bằng xã hội, tôn trọng nhân phẩm và giá trị của con người, thiết lập mối quan hệ giữa con người với con người, thúc đẩy tính liêm chính, và có năng lực chuyên môn Những

nguyên tắc này đặt ra những lý tưởng mà tất cả các NVXH cần hướng tới

Giá trị 1: Cung cấp dịch vụ xã hội

Nguyên tắc đạo đức 1: Mục tiêu chính của NVXH là giúp những người có khó

khăn và giải quyết các vấn đề xã hội

NVXH cần đặt quyền lợi của TC lên hàng đầu, lên trên lợi ích của NVXH khi cung cấp dịch vụ cho TC Khi làm việc, NVXH áp dụng các kiến thức (lý thuyết), giá trị và kỹ năng của mình để giúp người đang gặp khó khăn và giúp họ nêu ra các vấn đề xã hội Ngoài ra, NVXH nên dành thời gian nhất định để tình nguyện vì cộng động và cống hiến một phần việc của họ vì lợi ích chung của cộng đồng

Giá trị 2: Thúc đẩy công bằng/lý xã hội

Nguyên tắc đạo đức 2: NVXH không chấp nhận bất công xã hội

NVXH thúc đẩy sự thay đổi xã hội bẳng việc cùng với và/hoặc đại diện cho các cá nhân và nhóm người dễ bị tổn thương hay bị áp bức Những nỗ lực thay đổi

xã hội của NVXH chủ yếu tập trung vào các vấn đề nghèo đói, thất nghiệp, phân biệt đối xử, và các hình thức bất công xã hội khác Các nỗ lực này đòi hỏi

NVXH cần có kiến thức về xã hội sâu rộng và sự nhạy cảm về sự áp bức và sự đa dạng văn hóa và dân tộc NVXH nỗ lực hết mình để đảm bảo mọi người có quyền tiếp cận những thông tin cần thiết, dịch vụ và nguồn lực -tài nguyên; bình đẳng về

cơ hội; và sự tham gia thực chất vào việc ra quyết định

Giá trị 3: Tôn trọng nhân phẩm và giá trị của con người

Nguyên tắc đạo đức 3: Nhân viên xã hội phải tôn trọng phẩm giá vốn có và giá trị của con người

Trang 7

NVXH cần đối xử với mọi người một cách chu đáo và tôn trọng, lưu tâm đến sự độc đáo và khác biệt của các cá nhân và sự đa dạng về văn hóa và sự đa

dạng về dân tộc NVXH đề cao trách nhiệm tự quyết của TC về trách nhiệm xã

hội NVXH tìm cách nâng cao năng lực và cơ hội cho TC để họ tự thay đổi và để

họ nói ra những nhu cầu của chính họ NVXH cần ý thức rõ về trách nhiệm kép của mình là vừa có trách nhiệm với TC và vừa có trách nhiệm với xã hội NVXH tìm cách giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích của TC và lợi ích của xã hội theo cách

có trách nhiệm và phù hợp với các giá trị, nguyên tắc đạo đức, và tiêu chuẩn đạo đức của ngành CTXH

Giá trị 4: Thiết lập mối quan hệ giữa người với người

Nguyên tắc đạo đức 4: NVXH phải nhận diện được tầm quan trọng của mối quan hệ con người trong xã hội

NVXH phải hiểu rằng mối quan hệ giữa người với người là quan trọng nhất

cho sự thay đổi Mối quan hệ giữa NVXH và TC là mối quan hệ đối tác NVXH

tìm cách tăng cường mối quan hệ giữa mọi người theo một cách có mục đích nhằm thúc đẩy, khôi phục, duy trì và nâng cao phúc lợi của cá nhân, gia đình, nhóm xã hội, các tổ chức và cộng đồng

Giá trị 5: Thúc đẩy tính liêm chính-Thành thật

Nguyên tắc đạo đức 5: NVXH cần phải cư xử một cách đáng tin cậy

NVXH cần phải luôn ý thức về sứ mệnh của ngành CTXH, các giá trị,

nguyên tắc đạo đức, và tiêu chuẩn đạo đức và thực hành một cách phù hợp với những đặc điểm đó NVXH hành động một cách trung thực, có trách nhiệm và thúc đẩy hành động đạo đức đối với các bên liên quan

Giá trị 6: Năng lực chuyên môn

Nguyên tắc đạo đức 6: NVXH nên thực hành trong lĩnh vực có năng lực

chuyên môn, không ngừng phát triển và nâng cao chuyên môn nghiệp vụ trong lãnh vực đó

Trang 8

NVXH không ngừng nỗ lực để nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn

và áp dụng chúng trong thực hành NVXH nên khao khát được đóng góp sức lực

và kiến thức cơ bản cho ngành CTXH

PHẦN 4: TIÊU CHUẨN ĐẠO ĐỨC

Những tiêu chuẩn đạo đức dưới đây có liên quan đến hoạt động chuyên môn của tất cả NVXH Những tiêu chuẩn này gồm:

(1) Trách nhiệm đạo đức của NVXH đối với thân chủ,

(2) Trách nhiệm đạo đức của NVXH đối với đồng nghiệp,

(3) Trách nhiệm đạo đức của NVXH đối với nơi làm việc,

(4) Trách nhiệm đạo đức của NVXH là người chuyên nghiệp,

(5 ) Trách nhiệm đạo đức của NVXH đối với ngành CTXH, và

(6) Trách nhiệm đạo đức của NVXH đối với xã hội

Một số các tiêu chuẩn đạo đức dưới đây là những hướng dẫn mang tính bắt buộc đối với hành vi chuyên nghiệp và một số tiêu chuẩn đạo đức dưới đây mang tính lý tưởng Khi có sai phạm về đạo đức, những người có thẩm quyền sẽ đưa ra những nhận xét chuyên môn để xem xét những mức độ bắt buộc của từng tiêu chuẩn đạo đức

1 TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC CỦA NVXH ĐỐI VỚI TC

1.01 Cam kết đối với TC

Trách nhiệm chính của NVXH là thúc đẩy phúc lợi của TC Có nghĩa là quyền lợi của TC là quan trọng nhất và đặt lên hàng đầu Tuy nhiên, NVXH còn có trách nhiệm đối với xã hội hoặc trách nhiệm pháp luật cụ thể, có nghĩa là NVXH

có trách nhiệm giới hạn với TC và NVXH cần phải thông báo điều này cho TC biết

trước khi và trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ (Ví dụ: khi luật pháp yêu cầu

NVXH cần phải báo cáo về TC vì có thể họ đã từng lạm dụng trẻ em hay đe dọa người khác hay tự làm hại chính mình)

Trang 9

1.02 Tự quyết

NVXH phải tôn trọng và thúc đẩy quyền tự quyết của TC và hỗ trợ họ tự

nỗ lực xác định và tự làm rõ mục tiêu của họ Theo nhận xét chuyên môn,

NVXH có thể hạn chế quyền tự quyết của TC khi hành động của TC hoặc hành động tiềm năng của TC có thể gây ra rủi ro nghiêm trọng, có thể dự đoán được, và

có thể sắp xảy ra cho chính TC hoặc cho người khác

1.03 Đồng thuận có hiểu biết

(A) NVXH cần cung cấp dịch vụ cho TC trong môi trường chuyên nghiệp và cần

thiết lập mối quan hệ chuyên nghiệp; đồng thời, cần dựa vào sự đồng thuận hợp lệ

và có hiểu biết của TC NVXH nên sử dụng ngôn ngữ rõ ràng và dễ hiểu để thông báo cho TC về mục đích của các dịch vụ, rủi ro liên quan đến các dịch vụ, giới hạn của các dịch vụ vì các lý do của bên thanh toán thứ ba, các chi phí có liên quan, hay lựa chọn khác hợp lý TC có quyền từ chối hoặc rút lại việc đồng thuận và thời gian đã được đồng thuận bất kỳ lúc nào mà họ mong muốn NVXH sẽ tạo mọi cơ hội và điều kiện để cho TC hỏi và NVXH cần trả lời tất cả các câu hỏi của TC (B) Trong trường hợp khi TC không biết chữ hoặc gặp khó khăn trong việc hiểu ngôn ngữ sử dụng tại cơ quan tổ chức cung cấp dịch vụ thì NVXH nên thực hiện các bước cần thiết để đảm bảo sự hiểu biết của TC Việc thực hiện này có thể bao gồm việc sử dụng thông dịch viên hay giải thích một cách chi tiết bằng những ngôn

từ phù hợp với trình độ của họ

(C) Trong trường hợp khi TC không có khả năng quyết định sự đồng thuận thì NVXH cần phải bảo vệ quyền lợi của TC bằng cách tìm kiếm người đại diện hay bên thứ ba cho họ NVXH cần thông báo cho TC bằng ngôn ngữ phù hợp với trình

độ hiểu biết của TC Trong những trường hợp như vậy, nhân viên xã hội nên tìm cách đảm bảo rằng những hành động của bên thứ ba phải phù hợp với mong muốn

và lợi ích của TC NVXH nên thực hiện các bước hợp lý để tăng cường khả năng thực thi việc đồng thuận của TC

(D) Trong trường hợp khi TC nhận dịch vụ không tự nguyện, NVXH nên cung cấp thông tin về bản chất và mức độ dịch vụ và về phạm vi quyền hạn của TC đối với việc từ chối dịch vụ

Trang 10

(E) NVXH cung cấp dịch vụ bằng phương tiện điện tử hay trực tuyến (chẳng hạn như Internet, điện thoại, đài phát thanh, truyền hình) nên thông báo cho TC những hạn chế và rủi ro liên quan với các dịch vụ này

(F) NVXH cần có sự đồng thuận của TC trước khi thâu băng hoặc quay phim

TC hoặc xin phép TC cho quan sát các dịch vụ cung cấp cho TC bởi bên thứ

ba

1.04 Năng lực chuyên môn

(A) NVXH nên cung cấp dịch vụ và giới thiệu đúng năng lực chuyên môn của mình trong phạm vi đã được đào tạo, được cấp giấy phép, giấy chứng nhận, tư vấn

và những kinh nghiệm chuyên môn khác có liên quan

(B) NVXH nên cung cấp những dịch vụ trong các lĩnh vực có chuyên môn và quyền hạn hoặc chỉ cung cấp các bước can thiệp mới sau khi đã được kiểm chứng, được đào tạo, tư vấn, giám sát phù hợp từ những người có năng lực chuyên môn về nhưng phương pháp can thiệp và kỹ thuật này

(C) Trong các lãnh vực mới nổi nhưng chưa có các tiêu chuẩn được công nhận, NVXH cần có sự đánh giá cẩn thận và có trách nhiệm thực hiện các bước (cần tham gia vào các khóa đào tạo, nghiên cứu, được tư vấn và giám sát phù hợp bởi những người có chuyên môn) để đảm bảo năng lực công việc và để bảo vệ TC khỏi nguy hiểm

1,05 Năng lực đa văn hóa và về xã hội đa dạng

(A) NVXH cần có năng lực về văn hóa và chức năng của văn hóa trong hành vi con người và xã hội, nhận ra những điểm mạnh tồn tại trong tất cả các nền văn hóa (B) NVXH cần có một kiến thức cơ bản về nền văn hóa của TC và có thể chứng minh năng lực văn hóa trong việc cung cấp các dịch vụ nhạy cảm với nền văn hóa của TC và sự khác biệt giữa con người và các nhóm văn hóa

(C) NVXH cần có kiến thức và tìm cách hiểu được bản chất của sự đa dạng xã hội

và áp bức liên quan tới chủng tộc, dân tộc, nguồn gốc quốc gia, màu da, giới tính, khuynh hướng tính dục, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, niềm tin chính trị, tôn giáo, tình trạng nhập cư, và khuyết tật tâm thần hoặc thể chất

Trang 11

1.06 Xung đột lợi ích

(A) NVXH cần được cảnh báo để tránh xung đột lợi ích, mà nó gây trở ngại cho việc thực hiện các quyết định chuyên nghiệp và sự nhận xét công bằng NVXH nên thông báo ngay cho TC biết khi có sự xung đột lợi ích thực sự hay có khả năng xảy

ra xung đột lợi ích NVXH thực hiện các bước hợp lý để giải quyết vấn đề theo cách đặt quyền lợi chính đáng của TC nên hàng đầu và bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ ở mức độ cao nhất có thể Trong một số trường hợp, bảo vệ quyền lợi của TC có thể bao gồm việc yêu cầu chấm dứt mối quan hệ chuyên nghiệp và nên chuyển tuyến một cách thích hợp

(B) NVXH không được dùng bất kỳ lợi thế không công bằng nào của mối quan hệ chuyên nghiệp hay lợi dụng hay khai thác người khác vì lợi ích tôn giáo, chính trị, kinh doanh, và cá nhân mình

(C) NVXH không nên dính líu vào các mối quan hệ kép hay quan hệ đa chiều, hay quan hệ tình cảm với TC hoặc TC cũ, trong đó mối quan hệ này có nguy cơ

dẫn đến việc khai thác hoặc có khả năng gây nguy hiểm cho TC Trong trường hợp khi các mối quan kép hoặc phức tạp không thể tránh khỏi, NVXH nên thực hiện

các bước để bảo vệ TC và chịu trách nhiệm cho việc thiết lập ranh giới chuyên nghiệp rõ ràng, phù hợp và nhạy cảm về văn hóa (Mối quan hệ kép hoặc phức

tạp, tình cảm xảy ra, có nghĩa là, khi NVXH và TC có nhiều hơn một mối quan hệ, cho dù là mối quan hệ chuyên nghiệp, xã hội, hay kinh doanh Mối quan hệ kép hoặc phức tạp có thể xảy ra cùng một lúc hoặc liên tục.)

(D) Khi NVXH cung cấp dịch vụ cho hai hoặc nhiều người có mối quan hệ với nhau (ví dụ, các cặp vợ chồng, các thành viên trong gia đình), NVXH nên làm rõ

với tất cả các bên là cá nhân nào sẽ đƣợc coi là TC và bản chất của vai trò và trách

nhiệm chuyên nghiệp của NVXH đối với các cá nhân khác nhau khi họ đang nhận các dịch vụ NVXH là người dự đoán xung đột lợi ích giữa các cá nhân nhận dịch

vụ hoặc là người dự đoán trong vai trò xung đột tiềm ẩn có thể xảy ra (ví dụ, khi một NVXH được yêu cầu để làm chứng trong một vụ tranh chấp quyền nuôi con hoặc thủ tục ly hôn liên quan đến TC); Vì vậy, NVXH nên làm rõ vai trò của từng người liên quan với TC và có hành động thích hợp để giảm thiểu bất kỳ xung đột lợi ích tiềm ẩn có thể xảy ra

Trang 12

(D) NVXH nên thông báo cho TC việc tiết lộ thông tin bảo mật ở mức độ có thể và những hậu quả tiềm ẩn về việc tiết lộ này khi có thể và nên thông báo trước khi tiết

lộ Điều này được áp dụng khi NVXH tiết lộ thông tin bảo mật khi có yêu cầu của pháp luật hoặc có sự đồng thuận của TC

(E) NVXH nên thảo luận với TC và các bên liên quan về bản chất của tính bảo mật

và giới hạn của TC đối với quyền bảo mật NVXH nên kiểm tra những trường hợp

mà những thông tin bảo mật có thể bị yêu cầu tiết lộ và sự tiết lộ về thông tin bảo mật này có thể từ phía pháp luật Cuộc thảo luận này nên diễn ra càng sớm càng tốt trong mối quan hệ giữa TC và NVXH và cần thiết trong suốt quá trình của mối quan hệ chuyên nghiệp

(F) Khi NVXH cung cấp dịch vụ tham vấn hay trị liệu cho các gia đình, các cặp vợ chồng hoặc các nhóm thì NVXH nên tìm kiếm thỏa thuận giữa các bên liên quan theo quyền của mỗi cá nhân đối với tính bảo mật và nghĩa vụ bảo vệ thông tin bảo mật được chia sẻ bởi những người khác NVXH nên thông báo cho người tham gia trong gia đình, các cặp vợ chồng, hoặc nhóm tham vấn rằng NVXH không thể đảm bảo rằng tất cả người tham gia sẽ tôn trọng thỏa thuận như vậy

Trang 13

(G) NVXH nên thông báo cho TC và những người liên quan trong gia đình về người lãnh đạo của tổ chức cung cấp dịch vụ, chính sách của tổ chức liên quan đến việc tiết lộ các thông tin bảo mật giữa các bên tham gia việc tham vấn

(H) NVXH không nên tiết lộ thông tin bảo mật cho bên thứ ba, trừ khi TC đã ủy quyền về tiết lộ thông tin

(I) NVXH không nên thảo luận những thông tin bảo mật trong bất kỳ bối cảnh nào, trừ khi đảm bảo được tính riêng tư NVXH không nên thảo luận về thông tin bảo mật ở nơi công cộng hoặc bán công cộng như hành lang, phòng chờ, thang máy, và nhà hàng

(J) NVXH nên bảo vệ tính bảo mật của TC trong quá trình tố tụng trong phạm vi pháp luật cho phép Khi tòa án hoặc một tổ chức ủy quyền hợp pháp khác ra lệnh cho NVXH tiết lộ thông tin bảo mật hoặc đặc quyền mà không có sự đồng thuận của TC, mà việc tiết lộ thông tin như vậy có thể gây ra thiệt hại cho TC thì NVXH nên xin tòa rút lệnh hoặc hạn chế lệnh hoặc giữ các hồ sơ niêm phong và không được tiếp cận thông tin này

(K) NVXH cần phải bảo vệ tính bảo mật của TC khi trả lời những câu hỏi từ giới truyền thông

(L) NVXH cần phải bảo vệ tính bảo mật của TC khi lưu hồ sơ bằng văn bản hay bằng thư điện tử hay bằng các thông tin nhạy cảm khác NVXH nên thực hiện các bước hợp lý để đảm bảo rằng hồ sơ của TC được lưu trữ ở một nơi an toàn và hồ

sơ này không để người khác xem nếu không được pháp luật cho phép

(M) NVXH nên phòng xa để đảm bảo và duy trì tính bảo mật của thông tin khi truyền cho các bên khác thông qua việc sử dụng máy vi tính, thư điện tử, máy fax, điện thoại và máy điện thoại có ghi tin nhắn hoặc công nghệ điện tử khác Bất cứ khi nào có thể nên tránh tiết lộ thông tin nhận dạng

(N) NVXH nên chuyển hoặc xử lý hồ sơ một cách an toàn để bảo vệ thông tin bảo mật của TC và phù hợp với quy chế quản lý hồ sơ của nhà nước và giấy phép hoạt động của ngành CTXH

(O) NVXH nên thực hiện biện pháp phòng ngừa hợp lý để bảo vệ tính bảo mật của

TC trong trường hợp chấm dứt công việc, mất sức, hoặc tử vong

Trang 14

(P) NVXH không nên tiết lộ thông tin nhận dạng khi thảo luận về TC trong giảng dạy hoặc các mục đích đào tạo, trừ khi TC đã đồng ý công bố thông tin bảo mật (q) NVXH không nên tiết lộ thông tin nhận dạng khi thảo luận với các chuyên gia

tư vấn về TC, trừ khi TC đã đồng ý công bố thông tin bảo mật hoặc có nhu cầu bắt buộc tiết lộ thông tin đó

(R) NVXH nên bảo vệ tính bảo mật của TC quá cố liên quan đến các tiêu chuẩn trước đó

1,08 Tiếp cận hồ sơ lưu trữ

(A) NVXH nên cung cấp cho TC thông tin về việc tiếp cận các hồ sơ liên quan NVXH cần lưu ý việc TC truy cập vào hồ sơ của họ có thể gây ra sự hiểu lầm nghiêm trọng hoặc gây tổn hại cho TC Nên giải thích và tư vấn cho TC về hồ sơ của họ NVXH chỉ nên hạn chế TC truy cập vào hồ sơ của họ, hoặc một phần hồ sơ của họ, trong trường hợp đặc biệt khi có bằng chứng thuyết phục rằng việc tiếp cận như vậy sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho TC Việc yêu cầu của TC và lý do từ chối truy cập một số hoặc tất cả các hồ sơ cần phải được ghi lại trong hồ sơ của

TC

(B) Khi cung cấp cho TC truy cập vào hồ sơ của họ, NVXH nên thực hiện các bước bảo vệ tính bảo mật của các cá nhân khác đã được nhận diện hoặc thảo luận trong hồ sơ đó

gần gũi với họ vì khi có hoạt động hay mối quan hệ tình dục với họ có thể có nguy

cơ khai thác hoặc có khả năng gây tổn hại tiềm ẩn đối với TC và có thể gây khó

khăn cho NVXH và TC trong việc duy trì ranh giới chuyên môn phù hợp

NVXH phải thiết lập ranh giới rõ ràng, phù hợp và nhạy cảm về văn hóa, không

Trang 15

chỉ với TC, người thân của họ, hoặc cá nhân khác mà TC có mối quan hệ liên quan

(C) NVXH không được tham gia vào hoạt động tình dục hoặc quan hệ tình dục với TC cũ vì khả năng gây hại cho TC Nếu NVXH tham gia vào các hành vi

trái với lệnh cấm này hoặc cho rằng có một ngoại lệ đối với lệnh cấm này vì lý do đặc biệt thì NVXH cần có trách nhiệm chứng minh rằng TC trước đây không bị khai thác, không bị ép buộc, hoặc không bị điều khiển một cách cố ý hoặc vô ý

(D) NVXH không được cung cấp các dịch vụ cho các cá nhân mà họ đã có một mối quan hệ tình dục trước đây Cung cấp dịch vụ lâm sàng cho một đối tác tình

dục trước đây có khả năng gây hại cho họ và có khả năng gây khó khăn cho

NVXH và cho TC trong việc duy trì ranh giới chuyên nghiệp

1.10 Tiếp xúc thân thể

NVXH không được tiếp xúc thân thể của TC vì có khả năng gây tổn hại về tâm

lý cho TC do kết quả của sự tiếp xúc (như bồng hay vuốt ve TC) NVXH phải có những tiếp xúc thân thể phù hợp với TC và có trách nhiệm thiết lập ranh giới

rõ ràng, phù hợp và nhạy cảm văn hóa với việc tiếp xúc thân thể

1.11 Quấy rối tình dục

NVXH không được quấy rối tình dục TC Quấy rối tình dục bao gồm những

hành vi sờ mó, gạ gẫm, yêu cầu quan hệ tình dục, và những lời nói hoặc thể chất khác có tính chất hay mang ý nghĩa tình dục

1.12 Ngôn ngữ xúc phạm

NVXH không được sử dụng ngôn ngữ xúc phạm trong giao tiếp bằng văn bản hoặc bằng lời nói với/hoặc về TC NVXH nên sử dụng ngôn ngữ chính xác và tôn trọng trong mọi tình huống giao tiếp với/và về TC

1.13 Chi trả dịch vụ

(A) Khi thiết lập chi phí, lệ phí, NVXH phải đảm bảo rằng những lệ phí này công bằng, hợp lý và phù hợp với các dịch vụ cung cấp NVXH cần xem xét đến khả năng chi trả của TC

Ngày đăng: 15/05/2022, 03:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w