12 – 17 - Hạn chế: sự hợp tác kinh tế trong khu vực còn thấp buôn bán nội khối chỉ chiếm 25%; các cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ, cuộc khủng hoảng chính trị ở Campuchia, Indonesia
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
BÀI TÓM TẮT VÀ NHẬN XÉT
CHUYÊN ĐỀ: ASEAN TRONG XU THẾ KHU VỰC HÓA
VÀ TOÀN CẦU HÓA
ĐỀ TÀI: TÓM TẮT, NHẬN XÉT 5 TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN TOÀN CẦU HÓA,
KHU VỰC HÓA VÀ ASEAN
CBGV: PGS TS Nguyễn Ngọc Dung HVCH: Quách Võ Hoàng Quyên
MÃ SỐ HV: 176022031520
Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 30 tháng 4 năm 2018
Trang 21 Nguyễn Phương Bình (2000), Vai trò của ASEAN đối với các nước thành viên và đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương : nhân kỷ niệm 5 năm ngày Việt Nam gia nhập ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 2/2000,
tr 12 – 17 3
2 Mạnh Ngọc Hùng (2005), Toàn cầu hóa và vấn đề an ninh khu vực, trong
Kỷ yếu hội thảo khoa học cộng đồng ASEAN: từ ý tưởng đến hiện thực, Thành phố Hồ chí Minh, tr 83 – 87 6
3 Nguyễn Quốc Hùng (1999), Thế giới sau chiến tranh lạnh : một số đặc điểm
và xu thế, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 28/1999, tr 10 – 17 .11
4 Trần Khánh (chủ biên – 2002), Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu
hóa, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 14
5 Quan Minh Nhựt (2006), Hội nhập kinh tế quốc tế: Tác động việc gia nhập ASEAN và thực hiện hiệp định thương mại Việt – Mỹ đối với xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học, số 6/2006, tr 196 – 202 (File PDF) 29
Trang 3VAI TRÒ CỦA ASEAN ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN VÀ ĐỐI
VỚI KHU VỰC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG
Nguyễn Phương Bình
I Tóm tắt nội dung tài liệu
Về lai lịch: Nguyễn Phương Bình (2000), Vai trò của ASEAN đối với các
nước thành viên và đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương : nhân kỷ niệm
5 năm ngày Việt Nam gia nhập ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 2/2000, tr 12 – 17
- Hạn chế: sự hợp tác kinh tế trong khu vực còn thấp (buôn bán nội khối chỉ chiếm 25%); các cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ, cuộc khủng hoảng chính trị ở Campuchia, Indonesia (1998), ĐôngTiMo (1999)… đã cho thấy khả năng hạn chế của ASEAN trong việc giúp đỡ các nước thành viên găp khó khăn và trong hợp tác chung để đối phó với khủng hoảng và với những vấn đề kinh tế có tính chất toàn cầu Điều này xuất phát chủ yếu là do một số nguyên tắc cơ bản của ASEAN, cụ thể là nguyên tắc “không can thiệp” cần phải được xem xét lại Tuy nhiên, chính sách chung của ASEAN trong tương lai vẫn nằm trong phạm vi “không can thiệp” nhưng sẽ có thêm những hình thức mới tăng cường trao đổi và tư vấn giữa các thành viên về những vấn đề chung
Trang 4* Nền tảng cho việc củng cố vị trí và vai trò của ASEAN: là sự lớn mạnh về kinh tế và cố kết về chính trị trong ASEAN
* Thách thức và lợi thế của ASEAN mở rộng (10 thành viên):
- Thách thức: gia tăng sự phức tạp trong vấn đề nội bộ khu vực; nhiều quốc
gia sẽ khó đi đến “sự đồng thuần”; khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế (nhất là khoảng cách về tri thức) giữa các thành viên và so với bên ngoài, về thời gian hội nhập giữa các nước thành viên, những quan điểm khác biệt trên một số vấn đề chính trị, an ninh…
+ Thách thức về sự phát triển các thể chế hoặc cơ chế khu vực để giải quyết các vấn đề an ninh: khả năng của ASEAN trong ARF sẽ quyết định đến vai trò của ASEAN trong các vấn đề an ninh khu vực Tuy nhiên nó cũng đang là thách thức lớn đối với khả năng của ASEAN
+ Thách thức chủ yếu trong tương lai của ASEAN mang tính toàn diện, bao gồm từ những lĩnh vực khoa học công nghệ cao đến các vấn đề an ninh vượt ra ngoài tư duy an ninh truyền thống
- Lợi thế:
+ Dân đông (500 triệu người), bao trùm Đông Nam Á => có tiếng nói và thế mặc cả lớn hơn với các lực lượng ngoài khu vực, củng cố thêm vai trò người cầm lái ASEAN trong ARF => tăng thêm vị thế cho từng quốc gia thành viên trong quan hệ đối ngoại của họ với bên ngoài
+ Bao quát toàn khu vực => Làm cho an ninh, hòa bình khu vực được đảm bảo hơn Đối với bên ngoài, ASEAN đã tạo dựng được các cơ chế đối thoại chính thức và không chính thức, song phương và đa phương, từ mức độ cao với đông đảo các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới – những
cơ chế đã và đang góp phần duy trì, củng cố an ninh quốc gia, hòa bình khu vực + Quyết tâm mở rộng thương mại trong nội bộ Hiệp hội và sự tăng cường phối hợp các biện pháp đối phó với khủng hoảng hiện nay => tạo điều kiện để tổ chức tiến tới một nhóm kinh tế vững mạnh trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
và là tiếng nói có trọng lượng trong APEC
Trang 5* Sự xuất hiện của các nhân tố mới thúc đẩy vai trò của ASEAN: các nền
kinh tế ASEAN dần hồi phục, trở nên thích ứng và linh hoạt hơn với các điều kiện của quá trình toàn cầu hóa; dù tranh chấp nhưng các thành viên vẫn tiếp tục
đề cao hợp tác về kinh tế, chính trị và an ninh, cho thấy đoàn kết nội bộ vẫn được duy trì; đề cao hợp tác chung ASEAN và với các khu vực khác (Đông Bắc Á, Nam Á và Nam Mỹ) → quyết tâm củng cố và tăng cường hợp tác khu vực của ASEAN và cho thấy sự năng động, sức bật mới và khả năng xây dựng vị thế của ASEAN…
* Vị trí và vai trò của ASEAN đối với khu vực nói riêng và Châu Á – Thái Bình Dương nói chung: phụ thuộc vào sự hồi phục kinh tế một cách bền vững,
khả năng ASEAN xử lý và vượt qua những thách thức trên; khả năng cạnh tranh của ASEAN ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương cả về chính trị, kinh tế, thương mại và công nghệ
=> Do đó, chỉ những nỗ lực hợp tác chung cùng những đóng góp tích cực của mỗi nước thành viên mới giúp ASEAN giải quyết được những vấn đề của chính
họ và những thác thức đặt ra cho vị trí và vai trò lớn hơn của tổ chức trong tương lai Đặc biệt, cần đẩy mạnh vào phát triển công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và phát triển nguồn nhân lực
II Bình luận nội dung
Bài viết đã trình bày vai trò của ASEAN đối các thành viên trong khu vực
và đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương thông qua sự đánh giá, chỉ ra những những thách thức, lợi thế của tổ chức ASEAN thống nhất Đồng thời dự báo về điều kiện để nâng cao vai trò của ASEAN đối với mỗi nước ASEAN và
với cả khu vực châu Á – Thái Bình Dương
Tuy nhiên, kết cấu của bài viết trình bày về vai trò của ASEAN chưa hợp lý, chưa nêu bật được trọng tâm Chúng ta nghiên cứu bài viết sẽ thấy được vai trò của ASEAN nhưng mang tính chất chung, không có nhiều luận điểm chi tiết về vai trò và sự phân tích vai trò đó
Trang 6TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ AN NINH KHU VỰC
Mạnh Ngọc Hùng
I Tóm tắt nội dung tài liệu
Về lai lịch: Mạnh Ngọc Hùng (2005), Toàn cầu hóa và vấn đề an ninh khu
vực, trong Kỷ yếu hội thảo khoa học cộng đồng ASEAN: từ ý tưởng đến
3 An ninh kinh tế và ảnh hưởng của an ninh kinh tế đối với an ninh khu vực
4 Văn hóa truyền thống và bản sắc dân tộc
5 Vấn đề môi trường sinh thái
6 Vấn đề an ninh con người
7 Sự ổn định trật tự xã hội và cuộc sống bình yên
8 Cơ hội và thách thức
Về nội dung:
1 An ninh quân sự, an ninh kinh điển trong thời đại công nghệ cao
Cuộc cách mạng công nghệ mới lấy công nghệ cao làm trung tâm đã làm thay đổi an ninh quân sự truyền thống: Sức mạnh tổng hợp của các nước lớn được tăng cường không chỉ ở việc “đánh, chiếm” lãnh thổ và cạnh tranh kinh tế thông thường nữa mà đã hòa trộn trong trong nhiều lĩnh vực lấy công nghệ cao và đồng thời cũng làm cho các lĩnh vực, kinh tế, quân sự đan xen nhau, tiến hành cạnh tranh mang tính chiến lược toàn cầu
Trong đó, Công nghệ thông tin là nồng cốt của nhóm công nghệ cao và xu thế toàn cầu hóa của cuộc cách mạng thông tin đang đưa loài người tiến đến xã hội thông tin hóa => làm cỗ máy cho quân sự phát triển gấp bội
Sự phát triển của khoa học công nghệ cao và tiến bộ của công nghệ quân sự trực tiếp làm nổ ra các cuộc cách mạng quân sự mới rộng lớn, với mức độ chưa
Trang 7từng có → phát triển hệ thống vũ khí có bước nhảy vọt vượt thời đại; làm cho cục diện quân sự thế giới “vừa đơn cực vừa đa cực”, hình thành an ninh quân sự kiểu mới “vừa hiệp đồng hợp tác, vừa cạnh tranh đối kháng, trong đó lấy hợp tác là chủ yếu”; làm cho cảnh tượng sắp tới của hòa bình và chiến tranh lẫn lộn với nhau, dẫn đến tình hình tổng thể của an ninh khu vực và thế giới trong thế kỷ XXI
sẽ càng phức tạp và biến hóa đa dạng
2 An ninh thị trường
Quá trình toàn cầu hóa có xu hướng thống nhất các thị trường quốc gia thành thị trường khu vực và toàn cầu, làm cho sự phân công lao động quốc tế trở nên sâu rộng => Tăng tính tùy thuộc giữa các quốc gia cao hơn: Khó có sự phát triển bền vững về an ninh cho một số hoặc một quốc gia trên sự thất bại về kinh tế
Sự thay đổi tư duy về an ninh quốc gia: một số nước chấp nhận từ bỏ một số quyền lực thuộc chủ quyền quốc gia để trao cho một cơ quan cộng đồng => coi vấn đề độc lập, chủ quyền không còn là nguyên tắc duy nhất trong các nội dung
cơ bản của an ninh quốc gia
3 An ninh kinh tế và ảnh hưởng của an ninh kinh tế đối với an ninh khu vực
Xu thế toàn cầu hóa và tri thức hóa kinh tế càng mạnh mẽ => mối đe dọa chính là sự tụt hậu về sự phát triển, nghèo đói và kém khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, chứ không phải là về quân sự
Nước nào có nền kinh tế phát triển bền vững, làm chủ được khoa học công nghệ, có năng lực cạnh tranh quốc tế cao, hội nhập tốt với nền kinh tế thế giới và khu vực về cơ bản sẽ đạt mức độ an ninh cao => vấn đề an ninh kinh tế là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của chiến lược an ninh quốc gia
Vấn đề an ninh kinh tế đang thay đổi cục diện chiến lược quốc tế, hình thái đối kháng quốc tế như các thủ đoạn cấm vận kinh tế và thường dễ đi đến kết cục
là thỏa hiệp
Vấn đề an ninh kinh tế đã thay đổi phương thức và mục tiêu hành động: xuất hiện phương thức chiến tranh mới “chiến tranh tình báo kinh tế” với 2 loại:
Trang 8- “Chiến tranh tình báo vĩ mô”: nắm rõ hành động và chính sách lớn liên quan đến phát triển kỹ thuật và công nghệ toàn cầu và khu vực của quốc gia
- “Chiến tranh tình báo vi mô”: tập trung thu thập tình báo kinh tế, khoa học công nghệ để phục vụ cho xí nghiệp nước mình
4 Văn hóa truyền thống và bản sắc dân tộc
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế => tăng giao lưu quốc tế
và tính đồng nhất trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội: Những nước lớn, có nền kinh
tế mạnh được thừa nhận và trở thành những giá trị gần như chung của các xã hội khác nhau Nhiều giá trị riêng của dân tộc bị xón mòn và mất dần ảnh hưởng
=> Quá trình các nước đào thải những phong tục tập quán lạc hậu không còn phù hợp với đời sống hiện tại và tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại Những giá trị chung của con người với khuynh hướng đồng nhất ở góc độ nào đó hay có thể lai tạp nhiều giá trị của các nền văn hóa khác nhau đã và đang diễn ra ngày càng rõ
5 Vấn đề môi trường sinh thái
Sự phát triển toàn cầu hóa đã và đang tác động đến môi trường sinh thái, nhất là các nước đang phát triển: công nghiệp hóa làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, rừng bị tàn phá, không khí, nguồn nước bị ô nhiễm… => Thiên tai, sa mạc hóa… đe dọa đến con người và ảnh hưởng xấu đến các hoạt động kinh
tế - xã hội An ninh sinh thái là loại an ninh có tính tập thể, mang tính toàn cầu
=> Cần hợp tác quốc tế hơn là xung đột, đối kháng
Mối quan hệ chủ yếu của vấn đề môi trường sinh thái với an ninh: Môi trường suy thoái, sức chịu đựng của hệ thống sinh thái xuống cấp có thể dẫn đến
sự thiếu hụt tài nguyên mang tính khu vực => sự tranh giành tài nguyên sẽ nảy sinh ra những xung đột quân sự và hình thành những thách thức đối với an ninh quốc gia
6 Vấn đề an ninh con người
Sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa + quá trình tự do hóa và phát triển kinh
tế thị trường => Tăng sự giao lưu giữa công dân các nước với nhau; tăng nhận
Trang 9thức của mỗi cá nhân về thế giới và xã hội, đặc biệt về vấn đề dân chủ và quyền con người
Quan điểm nhấn mạnh an ninh con người là nhấn mạnh dựa trên sự tôn trọng
cá nhân, thành tố quan trọng nhất của xã hội
7 Sự ổn định trật tự xã hội và cuộc sống bình yên
Sự phát triển của toàn cầu hóa và hội nhập tạo điều kiện cho sự phát triển và lan truyền của nhiều tệ nạn, như mại dâm, buôn bán và sử dụng ma túy, tội phạm quốc tế, khủng bổ quốc tế, làm tăng mối đe dạo tới sự ổn định và trật tự xã hội và cuộc sống yên bình, an toàn của con người
8 Cơ hội và thách thức
* Cơ hội:
- Toàn cầu hóa làm ra đời và củng cố mạng lưới dày đặc các thiết chế quốc
tế, đặc biệt là các tổ chức quốc tế trong mọi lĩnh vực:
+ Vai trò ngày càng tăng của các tổ chức quốc tế góp phần hạn chế và giúp giải quyết xung đột giữa các nước, duy trì và củng cố hòa bình, an ninh quốc tế + Thông qua các thiết chế và tổ chức quốc tế này các nước, đặc biệt là các nước vừa và nhỏ có khả năng bảo vệ tốt hơn lợi ích quốc gia cũng như an ninh của mình và có vị thế ít bất lợi hơn trong quan hệ với các nước lớn
- Xu thế toàn cầu hóa cũng tạo ra những cơ hội quan trọng như thị trường, vốn, công nghệ, cạnh tranh nâng cao hiệu quả kinh tế… mà các nước có thể tận dụng để phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ sở để đảm bảo an ninh quốc gia
có thể dẫn đến những hậu quả tai hại, thậm chí cả những đổ vỡ về kinh tế, xã hội
Trang 10- Về chính trị: Tính độc lập của mỗi quốc gia sẽ bị thách thức bởi sự gia tăng tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia Sự hạn chế thẩm quyền và khả năng hành
xử theo ý chí của riêng mỗi quốc gia Sự ổn định của hệ thống chính trị và các thiết chế xã hội sẽ luôn luôn chịu áp lực của những đòi hỏi mới để phù hợp với quá trình tự do hóa thương mại và mở cửa Sự lợi dụng, can thiệp của thế lực bên ngoài vào các nước luôn luôn là vấn đề có thể xảy ra
II Bình luận nội dung
Bài viết đã phân tích tác động (tích cực và tiêu cực) của toàn cầu hóa đối với
an ninh khu vực trên nhiều khía cạnh: quân sự, kinh tế, xã hội, con người, môi trường, văn hóa… Do đó, giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về ảnh hưởng của toàn cầu hóa đối với các quốc gia, đặc biệt là với khu vực, với việc hình thành chủ nghĩa khu vực Hay nói cách khác, chính những khía cạnh này sẽ trở thành nền tảng và cơ chế thúc đẩy cho sự liên kết khu vực
- Tác động tích cực của toàn cầu hóa trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: tăng đầu tư và phát triển công nghệ; trao đổi thương mại; tự do hóa thương mại và đầu tư; làm giảm chi phí đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh; làm giảm thu nhập cục bộ trước mắt nhưng không đáng kể với lợi ích tổng thể…
- Tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đến an ninh quốc gia và khu vực: an ninh quốc gia; sự phân hóa xã hội; bản sắc văn hóa dân tộc; vấn đề việc làm…
Đây chính là những vấn đề tồn tại ở hầu hết các quốc gia hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa Tác giả đã giúp chúng ta hệ thống nó trên cơ sở an ninh khu vực nhưng nếu đứng ở góc nhìn quốc gia thì đó cũng chính là những vấn đề của an ninh quốc gia; và nếu đứng ở góc độ toàn cầu thì nó cũng chính là những vấn đề toàn cầu Từ một góc nhìn, mà tác giả đã bao quát được toàn bộ khía cạnh và từ
đó, mà các nhà nghiên cứu khác có thể thông qua đó để dự đoán được xu thế quan
hệ quốc tế, tình hình liên kết khu vực, bước đi của các quốc gia, đặc biệt là các nước lớn trong tương lai…
Trang 11THẾ GIỚI SAU CHIẾN TRANH LẠNH : MỘT SỐ ĐẬC ĐIỂM VÀ XU
THẾ
Nguyễn Quốc Hùng
I Tóm tắt nội dung tài liệu
Về lai lịch: Nguyễn Quốc Hùng (1999), Thế giới sau Chiến tranh lạnh:
một số đặc điểm và xu thế, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 28/1999, Hà
Nội, tr 10 – 17
Về bố cục: Bài viết gồm 2 phần chính:
- Mở đầu với đặc điểm thế giới sau Chiến tranh lạnh
- Bốn tiểu mục về xu thế chủ yếu của thế giới sau Chiến tranh lạnh
- Tổng kết
Về nội dung:
* Đặc điểm thế giới sau chiến tranh lạnh:
- Thế giới đa cực nhưng trong thời kì “quá độ” với “một siêu cường, nhiều
cường quốc”
- Mỹ đang có thế mạnh tạm thời “cực duy nhất” và ra sức cản trở “thế giới đa
cực”, tăng cường cạnh tranh và xây dựng Trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo
- Hòa bình thế giới được củng cố nhưng hòa bình khu vực với sự xung đột, mâu thuẫn sắc tộc, tranh chấp lãnh thổ, khủng bố… Đặc biệt là xung đột dân tộc
và tôn giáo diễn ra ngày càng gay gắt, đe dọa đến an ninh, hòa bình nhân loại
* 4 xu thế phát triển:
- Xu thế lấy kinh tế trọng điểm: Sau chiến tranh lạnh, các quốc gia điểu
chỉnh chiến lược và tập trung vào phát triển kinh tế Kinh tế trở thành công cụ cạnh tranh giữa các quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang
- Xu thế hòa dịu trên quy mô thế giới, hòa bình thế giới được củng cố:
sự nổi dậy của chủ nghĩa dân tộc (do sự rạn nứt dân tộc và khác biệt về tôn giáo)
→ hòa bình khu vực bị đe dọa nhưng mà khó có các cuộc chiến tranh thế giới với quy mô toàn cầu diễn ra
Trang 12- Các nước lớn điều chỉnh quan hệ với nhau theo chiều hướng xây dựng quan hệ bạn bè chiến lược ổn định và cân bằng hướng về lâu dài: đặc điểm
này có tính hai mặt với sự tích cực trong việc tạo môi trường quốc tế thuận lợi,
mở rộng hệ thống an ninh quốc gia, hợp tác, phát triển dựa trên đối thoại, thỏa hiệp và tránh xung đột; với sự thách thức được biểu hiện thông qua sự khác nhau
về ý thức hệ và sự khác nhau về nền tảng kinh tế sẽ dẫn đến sự mất cân bằng mới + Sự tác động của 5 cường quốc, khu vực là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản
và EEC sẽ chi phối quan hệ quốc tế và nền chính trị thế giới trong việc hình thành
“Trật tự thế giới mới”
- Xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa và các tổ chức liên minh quốc tế:
+ Sự phát triển nhanh chóng của nền thương mại thế giới: được thúc đẩy bởi ngoại thương và sự phát triển như vũ bảo của khoa hoạc kĩ thuật, đặc biệt là viễn thông
+ Tính quốc tế hóa cao của nền kinh tế thế giới với vai trò chủ đạo của các Công ty xuyên quốc gia và quá trình hội nhập của nền kinh tế tài chính thế giới Trong đó, các nước đang phát triển không có lợi trong sự cạnh tranh quốc tế và
có nguy cơ trở thành “con mồi” của các công ty xuyên quốc gia siêu lớn “thực dân” về kinh tế trong thế kỷ XXI
+ Quá trình khu vực hóa nền kinh tế thế giới với sự ra đời của nhiều tổ chức khu vực như EU; NAFTA; SELA; ASEAN; SAARC; APEC, ASEAM… + Xu thế mở cửa hợp tác và xu thế bảo hộ mậu dịch
+ Sự ra đời của nhiều tổ chức quốc tế: WTO, IMF, WB, Liên Hợp Quốc,…
=> Xu thế lực lượng quốc tế mạnh lên và chủ quyền quốc gia, dân tộc yếu hơn,
có thể làm xói mòn chủ nghĩa quốc gia
II Bình luận nội dung
Bài viết đã trình bày rõ ràng, ngắn gọn về đặc điểm và xu thế phát triển của thế giới sau chiến tranh lạnh Đưa ra được các luận điểm chi tiết và phân tích sự tác động của nó đến tất cả các quốc gia, đặc biệt là sự hình thành chủ nghĩa khu vực và chủ nghĩa quốc gia dân tộc có nguy cơ bị xón mòn
Trang 13Tuy nhiên, bài viết được nghiên cứu từ năm 1999 (cách hiện tại gần 20 năm) nên những đặc điểm và xu thế mà tác giả đưa ra đã có sự thay đổi Cụ thể:
- Xu thế đa cực nhưng chịu sự chi phối tạm thời của “một cực Mỹ” đã bắt đầu dịch chuyển và có thêm một thế lực mới cạnh tranh gay gắt với Mỹ là Trung Quốc Bàn cờ chính trị thế giới bị chi phối bởi “hai cực Mỹ - Trung” thay thế cho cán cân “hai cực Mỹ - Xô” nhưng diễn biến phức tạp hơn, mang tính chất “đối đầu ngầm” chứ không công khai như trước đây
- Xu thế lấy Kinh tế làm trọng điểm được đẩy mạnh nhưng có thêm sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ 4 làm gia tăng khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển lên gấp nhiều lần Do đó,
sự liên kết khu vực cũng trở thành xu thế nhưng cũng là thách thức lớn đối với từng nước và đối với sự lớn mạnh của khu vực mình trong sự cạnh tranh với các nước lớn và các khu vực phát triển khác
Trang 14LIÊN KẾT ASEAN TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
Trần Khánh III Tóm tắt nội dung tài liệu
Về lai lịch: Trần Khánh (chủ biên – 2002), Liên kết ASEAN trong bối cảnh
toàn cầu hóa, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội
Về bố cục: Cuốn sách gồm 4 chương chính với gần hơn 240 trang
- Chương I: Sự hình thành và các giai đoạn tiến triển của ASEAN
- Chương II: Tác động của toàn cầu hóa đến liên kết ASEAN
- Chương III: Thích ứng của ASEAN trước toàn cầu hóa
- Chương IV: Triển vọng liên kết ASEAN bước vào thế kỷ XXI
Ngoài ra còn có Lời nói đầu, Kết Luận, Phụ Lục, Tài Liệu Tham Khảo
Về nội dung:
Chương I: Khái quát về lịch sử hình thành ASEAN và các giai đoạn phát
triển của nó Cụ thể:
1 Sự ra đời của ASEAN
* Các tiền đề hình thành nên ASEAN
- Địa - văn hóa - lịch sử: khu vực nhiệt đới gió mùa; chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập và sau đó là phương Tây trên nền cốt lõi của văn hóa bản địa; các nước có sự tác động lẫn nhau bởi chịu sự chi phối của quy luật vận động lịch sử “xung đột với hợp tác” hay “chiến tranh với hòa bình”
- Sự thắng thế của chủ nghĩa yêu nước và tác động của các tổ chức tiến bộ trên thế giới (đặc biệt là Phong trào không liên kết ở châu Phi) sau chiến tranh thế giới II nên sau khi giành được độc lập, các nước này đều có mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng với nhau với ý thức khu vực, tự cường độc lập dân tộc là chính
- Sự gia tăng đối đầu giữa Liên Xô và Mỹ trong chiến tranh lạnh cũng là nhân tố thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức mang tính khu vực
Trang 15=> Việc thành lập ASEAN chứng tỏ sự thay đổi về chất của quá trình chuyển đổi của các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, phụ thuộc, từ chỗ là mục tiêu, đối tượng phân biệt của chủ nghĩa đế quốc trở thành chủ thể của các mối quan hệ quốc tế Đồng thời, Sự ra đời của ASEAN đã đặt nền móng thể chế - pháp lý cho
sự hình thành và triển khai các cơ chế hợp tác cũng như mở rộng kết nạp các thành viên mới sau này;
* Thái độ của các nước lớn đối với ASEAN: sự quyết tâm khẳng định mình như thực thể độc lập trong quan hệ quốc tế và sự mập mờ về thái độ chính trị của ASEAN đã khiến cho các cực quyền quốc tế lúc đó e ngại hay dè dặt trong quan
hệ với tổ chức này:
- Mỹ và đồng minh của Mỹ chưa mặn mà trong quan hệ với ASEAN, chưa công nhận Hiệp hội này như là một tổ chức khu vực cho đến sau chiến tranh Đông Dương lần 2
- Các nước xã hội chủ nghĩa lúc đầu cùng hoài nghi, coi ASEAN là 1 tổ
chức trá hình, công cụ mới của chủ nghĩa đế quốc
2 Các giai đoạn phát triển hợp tác và liên kết ASEAN: với 3 giai đoạn 2.1 Thời kì xây dựng lòng tin và học cách hòa giải (1967 – 1976)
* Bối cảnh mới trong việc làm tăng mối liên kết khu vực:
- Các xung đột nội bộ giữa các nước được hòa giải thông qua ASEAN đã đặt nền móng ban đầu tạo nên tập quán, thông lệ ứng xử của ASEAN
- Thái độ “bỏ rơi” của chủ nghĩa thực dân đối với các nước Đông Nam Á (nguy cơ Mỹ, Anh rút khỏi Đông Dương và Đông Nam Á sẽ tạo nên “khoảng trống” quyền lực mà các nước lớn khác có thể lợi dụng để can thiệp vào khu vực)
→ Các nước phải đoàn kết hơn nữa, vượt qua những bất đồng bên trong để đối phó với bên ngoài
- Mối quan hệ Mỹ - Trung “ấm lên” đã tạo cơ hội cho sự tác động của Trung Quốc đến khu vực Đông Nam Á Quan hệ Trung – Xô căng thẳng, Việt – Trung xấu đi => Các nước Đông Nam Á có sự điều chỉnh đường lối chiến lược khu vực
Trang 16bằng việc thiết lập khu vực hòa bình, tự do và trung lập được thể hiện trong Tuyên
bố ZOPFAN) năm 1971
- Mỹ thất bại trong chiến tranh Đông Dương lần II vào năm 1975 đã làm ASEAN điểu chỉnh chiến lược, chủ động cải thiện quan hệ với 3 nước Đông Dương với Hiệp ước thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á: “sẽ mở cửa đón nhận
bổ sung các quốc gia ở Đông Nam Á”
* Các vấn đề hợp tác chính trị -an ninh được đưa lên hàng đầu, là chất
kết dính đoàn kết ASEAN trở thành một khối với tư cách là một thực thể trong
hệ thống quan hệ quốc tế; còn hợp tác kinh tế trở thành thứ yếu trong hợp tác
ASEAN: khung pháp lý về hợp tác chính trị và duy trì hòa bình và ổn định khu vực (ZOPFAN), Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác; Tuyên bố Hòa Hợp ASEAN
2.2 Giai đoạn hành động để khẳng định mình (từ 1977 – cuối những năm 80)
Những phối hợp hành động trên mặt trận ngoại giao, chính trị về các vấn đề
an ninh của khu vực và quốc tế trong những thập niên 70 – 80 đã tạo nên sự gắn kết của tổ chức này với nền kinh tế các nước tư bản phát triển và công nghiệp mới; tạo dựng tiền đề ban đầu để biến ASEAN trở thành “một trung tâm quyền lực mới” trong hệ thống quan hệ quốc tế
2.3 Giai đoạn của những sáng kiến và thích ứng với toàn cầu hóa (từ đầu những năm 90 đến nay)
- Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, mối đe dọa trực tiếp từ bên ngoài đối với nền an ninh của các nước ASEAN giảm đi: hợp tác kinh tế được đẩy mạnh, trở thành yếu tố chủ đạo trong việc liên kết và thúc đấy sự phát triển của khu vực với sự hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA);
- Sự hợp tác đa phương về an ninh khu vực do ASEAN sáng lập nhưng có
sự tham gia của các nước ngoài ASEAN: Diễn đàn khu vực (ARF) => Đánh dấu thay đổi về khái niệm an ninh của ASEAN và sự phát triển của “chủ nghĩa khu vực mở”, chủ nghĩa đa phương và an ninh tập thể của ASEAN