Theo tổ chức World Population Review, năm 2018 Hà Lan được xếp hạng thứ 10 về chất lượng giáo dục trên phạm vi toàn thế giới.1 Theo bảng xếp hạng sức mạnh hệ thống giáo dục bậc cao của t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HÀ LAN, SO SÁNH, BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
I TỔNG QUAN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HÀ LAN 1
1.1 Mô hình giáo dục đại học Hà Lan 1
1.1.1 Giáo dục đại học hướng ứng dụng 3
1.1.2 Giáo dục đại học hướng nghiên cứu 4
1.2 Các thành tựu nổi bật của hệ thống giáo dục đại học Hà Lan 4
1.3 Hạn chế của hệ thống giáo dục đại học Hà Lan 6
II SO SÁNH VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM 7
2.1 Giống nhau 7
2.2 Khác nhau 7
III.NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ 9
III BÀI HỌC KINH NGHIỆM, KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 9
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
ĐÁNH GIÁ ĐIỂM CHO TỪNG THÀNH VIÊN
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Giáo dục đại học có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế Xây dựng mô hình đào tạo đại học hiện đại, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa giáo dục các nước đã và đang trở thành nhu cầu cấp thiết hiện nay của giáo dục đại học Trên bản đồ giáo dục thế giới, Hà Lan là một trong những quốc gia được đánh giá cao về mặt chất lượng và mô hình phát triển giáo dục hiện đại Theo tổ chức World Population Review, năm 2018 Hà Lan được xếp hạng thứ 10 về chất lượng giáo dục trên phạm vi toàn thế giới.1 Theo bảng xếp hạng sức mạnh
hệ thống giáo dục bậc cao của tổ chức QS-TopUniversities, Hà Lan được xếp hạng thứ 7 vào năm 2018.2 Bên cạnh xây dựng được môi trường giáo dục và đào tạo đại học chất lượng, hệ thống giáo dục và đào tạo có phân luồng hướng ứng dụng và hướng nghiên cứu
là một trong những điểm nổi bật trong hệ thống giáo dục Hà Lan
Nghiên cứu, đánh giá và học hỏi các mô hình giáo dục và đào tạo hiện đại trên thế giới là một nhu cầu cấp thiết hiện nay của giáo dục Việt Nam Với chất lượng giáo dục được xếp hạng cao trên thế giới và đặc biệt là hệ thống giáo dục có phân luồng rõ ràng, hệ thống giáo dục của Hà Lan là một lựa chọn phù hợp để tham khảo cho giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng Trong phạm vi báo cáo này, Nhóm thực hiện sẽ giới thiệu về hệ thống giáo dục đại học của đất nước Hà Lan với nghiên cứu có tiêu đề “Thành tựu và hạn chế của giáo dục đại học Hà Lan, so sánh và bài học kinh nghiệm cho giáo dục đại học Việt Nam”
I TỔNG QUAN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HÀ LAN 1.1 Mô hình giáo dục đại học Hà Lan
Có hai loại tổ chức giáo dục đại học được công nhận ở Hà Lan3:
- Các trường đại học và các tổ chức HBO do chính phủ tài trợ, được liệt kê trong Đạo luật Nghiên cứu và Giáo dục Đại học (WHW) Bao gồm giáo dục hướng ứng dụng gồm các đại học về khoa học ứng dụng (applied science) và giáo dục hướng nghiên cứu gồm các đại học nghiên cứu (research science) Tương tự, ở cấp
độ giáo dục sau đại học, các trường đại học và bằng cấp cũng được xây dựng dựa trên hai luồng chính này.
- Các tổ chức khu vực tư nhân không nhận được tài trợ của chính phủ Các khóa học của họ và các chứng chỉ mà họ trao cho sinh viên tốt nghiệp được công nhận về mặt pháp lý sau khi được phê duyệt bởi Thanh tra Giáo dục và Tổ chức Chứng nhận Hà Lan-Flanders (NVAO).4
Hình 1 thể hiện mô hình giáo dục của Hà Lan với sự phân cấp thành 4 bậc rõ rệt: giáo dục cơ bản bắt buộc (primary education) kéo dài 8 năm, giáo dục dự bị đại học
1 Education Ranking by Country, World Population Review, 2018
Truy cập tại: http://worldpopulationreview.com/countries/education-rankings-by-country, truy cập ngày 08/01/2020
2 QS Higher Education System Strength Ranking, QS-TopUniversities, 2018
Truy cập tại: https://www.topuniversities.com/system-strength-rankings/2018, truy cập ngày 08/01/2020
3 https://eacea.ec.europa.eu/national-policies/eurydice/content/higher-education-53_en, truy cập ngày 08/01/2020
4 https://eacea.ec.europa.eu/national-policies/eurydice/content/higher-education-53_en, truy cập ngày 08/01/2020
Trang 4(gồm VWO, HAVO, VMBO ) kéo dài từ 4 đến 8 năm, giáo dục bậc đại học (undergraduate) kéo dài từ 2 đến 4 năm, và cuối cùng là giáo dục sau đại học (post-graduate) kéo dài từ 2 đến 7 năm Đặc biệt, tính phân luồng và đa dạng lựa chọn trong
hệ thống giáo dục Hà Lan được thể hiện rõ ở cấp giáo dục đại học và sau đại học Hình 1: Hệ thống giáo dục của Hà Lan5
Việc xây dựng hệ thống giáo dục bậc cao (gồm đại học và sau đại học) có phân luồng là động lực cho phép Hà Lan phát triển một hệ thống giáo dục có đa dạng sự chọn lựa cho người học Sự đa dạng này thể hiện ở khả năng chuyển đổi qua lại giữa các trường trong hệ thống giáo dục đại học và khả năng chọn lựa nhiều trường đại học sau khi hoàn thành các lớp dự bị đại học Ví dụ, sau khi hoàn thành bậc cao đẳng (associate degree) về khoa học ứng dụng, sinh viên được phép chuyển tiếp sang các trường đại học khoa học ứng dụng và nghiên cứu Hệ thống giáo dục Hà Lan cũng cho phép người học đã hoàn thành khóa dự bị đại học VWO được dự tuyển vào tất cả các trường thuộc cấp bậc đào tạo đại học Bên cạnh đó, việc phân luồng từ giai đoạn giáo dục trước đại học và việc phân hệ thống giáo dục đại học thành hai hướng giáo dục đại học nghiên cứu và đại học về khoa học ứng dụng còn góp phần cho sự phân công lao động xã hội đạt hiệu quả cũng như mang đến cho xã hội một đội ngũ lao động có chất lượng, có khả năng đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp
Theo đó, nhóm tác giả trình bày cụ thể về sự phân luồng giáo dục đặc trưng ở Hà Lan, gồm: (i) giáo dục đại học hướng ứng dụng; (ii) giáo dục đại học hướng nghiên cứu;
(iii) các thành tựu nổi bật của hệ thống giáo dục đại học; và (iv) các hạn chế của hệ thống giáo dục đại học.
5 The Education System of the Netherlands, Nuffic, 2nd Edition, January 2011 | Version 6, July 2019
Trang 51.1.1. Giáo dục đại học hướng ứng dụng
Giáo dục đại học hướng ứng dụng của Hà Lan được gọi là HBO (Hoger beroepsonderwijs, có thể dịch là Giáo dục nghề nghiệp bậc cao) Các trường đại học ứng dụng (Hogescholen) chịu trách nhiệm triển khai các chương trình đào tạo nghề nghiệp chuyên sâu để chuẩn bị kiến thức và kỹ năng cho sinh viên trong những ngành nghề cụ thể.6 Các chương trình này do đó mang tính thực tiễn cao hơn chương trình đào tạo của các đại học nghiên cứu.
Điều kiện tối thiểu để nhập học các trường đại học ứng dụng là học sinh phải có bằng VWO (giáo dục dự bị khoa học, mục tiêu để vào các trường đại học nghiên cứu), bằng HAVO (giáo dục phổ thông), hoặc bằng MBO (giáo dục nghề trung cấp) bậc cao nhất.7 Học sinh có bằng VWO có thể được xét rút ngắn
1 năm chương trình học Trong tổng số sinh viên nhập học năm học 2018-2019 tại các trường đại học ứng dụng thì 43,1% có bằng HAVO, 31,9% có bằng MBO, 6,8% có bằng VWO, và các trường hợp khác chiếm 18,2%.8
Theo thống kê năm 2019 thì trong tổng số sinh viên đang học tại Hà Lan thì có 61% là đang theo học các trường Đại Học ứng dụng (gồm 456.633 sinh viên) so với 39% là đang theo học các trường Đại Học nghiên cứu Hà Lan có 36 trường đại học hướng ứng dụng nằm trong Hiệp Hội Các Trường Đại Học Ứng Dụng (Vereniging Hogescholen) với 7 nhóm ngành đào tạo (sectors): Nông nghiệp & Thực phẩm, Kỹ thuật, Kinh tế, Dịch vụ y tế, Nghệ thuật, Giáo dục, và Xã hội & Nhân văn Trong đó thì
20 trường là đào tạo đa nhóm ngành và 16 trường đào tạo đơn nhóm ngành Tính đến năm học 2018-2019, có 86,9% sinh viên chính quy (chương trình toàn thời gian), 10,8% theo học các chương trình bán thời gian, và 2,3% theo các chương trình kết hợp toàn thời gian - bán thời gian Kinh tế là nhóm ngành có số lượng sinh viên theo học đông nhất (với 38,2% tổng số sinh viên), theo sau là nhóm ngành Kỹ thuật (20,8%) Trong tổng số sinh viên năm 1 năm học 2018-2019 thì 8,8% là sinh viên quốc
tế (đã tăng 4,3% so với năm học trước).9 Trong năm học 2017-2018 đã có 76.405 sinh viên đại học ứng dụng được cấp bằng tốt nghiệp (tăng 3,2% so với năm 2016-2017)
Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp sau 5 năm theo học là 49,8%, sau 8 năm theo học là 67,5% Trong các nhóm ngành Nghệ thuật và Dịch vụ y tế thì sinh viên thường tốt nghiệp sau
5 năm theo học, 15,7% số sinh viên chính quy nhập học trong năm học 2017-2018 đã
bỏ học và 17,8% thì thay đổi ngành học sau 1 năm theo học.10
Một số thống kê nổi bật về cơ hội việc làm của các sinh viên đại học hướng ứng dụng của Hà Lan có thể được liệt kê như sau: năm 2018, 90% tân cử nhân (95% đối với
6 Higher education system in the Netherlands, Nuffic, 2019
https://www.nuffic.nl/documents/360/higher-education-system-in-the-netherlands.pdf, truy cập ngày 08/01/2020
7 Higher education system in the Netherlands, Nuffic, 2019
https://www.nuffic.nl/documents/360/higher-education-system-in-the-netherlands.pdf, truy cập ngày 08/01/2020
8 Kerncijfers HBO 2019, Vereniging Hogescholen, 2019
https://www.vereniginghogescholen.nl/kennisbank/feiten-en-cijfers, truy cập ngày 08/01/2020
9 Kerncijfers HBO 2019, Vereniging Hogescholen, 2019
https://www.vereniginghogescholen.nl/kennisbank/feiten-en-cijfers, truy cập ngày 08/01/2020
10 Kerncijfers HBO 2019, Vereniging Hogescholen, 2019
https://www.vereniginghogescholen.nl/kennisbank/feiten-en-cijfers, truy cập ngày 08/01/2020
Trang 6các chương trình đào tạo giáo viên) đã tìm được việc làm trong vòng 3 tháng sau khi tốt nghiệp, trong đó 81% tìm được việc làm đúng chuyên ngành đào tạo (87% trong năm 2017) và đúng trình độ được đào tạo; 76% các cử nhân cảm thấy hài lòng về sự kết nối giữa giáo dục đào tạo và công việc; sau khi đi làm 1,5 năm thì 56% trở thành nhân viên cơ hữu của các công ty (kí được hợp đồng không có thời hạn) Con số thất nghiệp của cử nhân chương trình toàn thời gian là 4%.11
1.1.2. Giáo dục đại học hướng nghiên cứu
Giáo dục đại học hướng nghiên cứu của Hà Lan được gọi là WO (Wetenschappelijk onderwijs, có thể dịch là Giáo dục khoa học) Các trường Đại học tổng hợp, các trường đại học chuyên về kỹ thuật và nông nghiệp và Đại học Mở chịu trách nhiệm triển khai các chương trình cung cấp các chương trình định hướng nghiên cứu.12 Các chương trình tại các trường đại học này tập trung vào các khía cạnh lý thuyết và chủ yếu chịu trách nhiệm cung cấp các chương trình giáo dục nghiên cứu theo định hướng học thuật Do đó, các chương trình đào tạo này mang tính thực tiễn thấp hơn so với chương trình đào tạo của các trường Đại học ứng dụng
Điều kiện tối thiểu để nhập học các trường Đại học nghiên cứu là học sinh phải có bằng VWO (giáo dục dự bị khoa học, mục tiêu để vào các trường Đại học nghiên cứu), bằng HAVO (giáo dục trung học phổ thông), hoặc đã hoàn thành năm thứ nhất của chương trình cử nhân tại một trường Đại học ứng dụng.13
Theo thống kê năm 2019 thì trong tổng số sinh viên đang học tại Hà Lan thì có 39%
là đang theo học các trường đại học nghiên cứu (gồm 291.945 sinh viên) so với 61% là đang theo học các trường đại học ứng dụng Hà Lan có 14 trường đại học hướng nghiên cứu với 7 nhóm ngành đào tạo (sectors): Kinh tế, Y tế, Khoa học, Luật, Kỹ thuật và Công nghệ, Ngôn ngữ và Văn hóa, Xã hội & Nhân văn.14 Trong số 14 trường đại học hướng nghiên cứu có 03 trường giảng dạy chuyên ngành kỹ thuật và công nghệ (trong đó một trường đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật, một trường đào tạo về nông nghiệp và một trường đại học tổng hợp) Các trường đại học còn lại đào tạo đa nhóm ngành Các trường này chủ yếu đào tạo sinh viên trong lĩnh vực khoa học và ứng dụng khoa học, mặc dù nhiều chương trình học có một phần chuyên ngành và đa số sinh viên ra trường tìm được việc làm khác với lĩnh vực mà họ học tập và nghiên cứu Chỉ tiêu tuyển sinh của các trường đại học nghiên cứu thường dao động trong khoảng từ 6.000 đến 30.000 sinh viên/trường Tuy nhiên, tổng số sinh viên của tất cả các trường cộng lại lên tới
185.000 sinh viên.
1.2 Các thành tựu nổi bật của hệ thống giáo dục đại học Hà Lan
Thứ nhất, giáo dục đại học ở Hà Lan chuyên biệt hóa, định hướng người học theo những mục tiêu cụ thể.
Ở góc độ người học, sinh viên sẽ sớm nhận ra mình phải lựa chọn ngành học nào và
có lộ trình thích hợp để rèn luyện và phát triển bản thân Đối với chương trình WO,
11 Kerncijfers HBO 2019, Vereniging Hogescholen, 2019
https://www.vereniginghogescholen.nl/kennisbank/feiten-en-cijfers, truy cập ngày 08/01/2020
12 https://www.nuffic.nl/en/subjects/education-in-the-netherlands/, truy cập ngày 08/01/2020
13 Higher education system in the Netherlands, Nuffic, 2019
https://www.nuffic.nl/documents/360/higher-education-system-in-the-netherlands.pdf, truy cập ngày 08/01/2020
14 https://www.euroeducation.net/prof/netherco.htm, truy cập ngày 08/01/2020
Trang 7cung cấp cho sinh viên các khái niệm, lý thuyết, các phương pháp nghiên cứu, kỹ năng nghiên cứu theo từng ngành học, lĩnh vực cụ thể Qua đó, sinh viên được trang bị những kiến thức cơ bản để có thể nghiên cứu độc lập trong ngành học, lĩnh vực của mình Đối với
chương trình HBO, cung cấp cho sinh viên các kiến thức, kỹ năng thực tiễn theo từng
ngành học, chú trọng vào việc thực hành, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp Qua đó, sinh viên được trang bị các kiến thức, kỹ năng cần thiết để có thể vận dụng vào trong thực tiễn,
cụ thể là ngành nghề mà mình đang theo học, tạo nên lực lượng lao động có khả năng đáp ứng được yêu cầu của xã hội, đặc biệt là yêu cầu của nền kinh tế
Ở góc độ nhà tuyển dụng và nhu cầu xã hội, các nhà tuyển dụng sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cao, do được đào tạo định hướng chuyên biệt trong nhiều năm liền Qua đó, giáo dục đại học giải quyết nhu cầu việc làm của xã hội, đáp ứng nhu cầu cung ứng nhân sự chất lượng cao, chuyên nghiệp hóa cho các doanh nghiệp
Thứ hai, Nhà nước cung cấp nhiều chính sách hỗ trợ cho sinh viên.
Dễ thấy nhất các chương trình học bổng có giá trị lên đến 75% đến 100% giá trị khóa học.15 Theo đó, sinh viên cần đáp ứng một số tiêu chí nhất định để được cấp học bổng Điều kiện này có thể khác nhau tại các chương trình Nhìn chung, các tiêu chí này thường bao gồm: phải là công dân Hà Lan; dưới 30 tuổi tại thời điểm nộp đơn; thu nhập thấp hơn 13.000 Euro/năm; có thành tích học tập ở bậc học phổ thông tốt
Ngoài ra, một hình thức khác cũng khá phổ biến là Chính phủ trợ cấp cho sinh viên Hà Lan một khoản học phí Sau khi hoàn thành chương trình học, sinh viên không cần phải hoàn lại số tiền này Đây được xem là một “phần quà” mà Chính phủ hỗ trợ nhằm tạo động lực đế sinh viên học tốt và hoàn thành khóa học.16Các chương trình hỗ trợ của Chính phủ, các tổ chức xã hội dành cho sinh viên ở bậc
đại học khá đa dạng: Chính phủ cho vay tiền thanh toán học phí (Dutch
government tuition fee loan), hỗ trợ tiền thuê (Rent support), hỗ trợ bảo hiểm, y tế,
chăm sóc sức khỏe (Support for your health insurance/care insurance).17
Với sự hỗ trợ tích cực từ Chính phủ, thông qua các chính sách, cùng với
đó là các nguồn lực xã hội đã tạo điều kiện tối đa để sinh viên có thể theo học bậc học Đại học Điều đó, cũng giúp sinh viên có động lực, tập trung vào việc học tập và góp phần vào kết quả tích cực của toàn nền giáo dục.
Thứ ba, quốc tế hóa chương trình giáo dục đại học.
Hà Lan là một trong các quốc gia thu hút rất nhiều du học sinh từ khắp nơi trên thế giới Theo thống kê của Tổ chức quốc tế hóa giáo dục (NUFFIC) thì trong năm 2018
-2019, có đến 85.955 sinh viên nước ngoài đến từ 170 quốc gia đang theo học tại các trường Đại học tại Hà Lan.18 Sở dĩ giáo dục Đại học tại Hà Lan là lựa chọn hàng đầu
15 Government Supports for Studying in The Netherlands,
https://www.scholarshipportal.com/article/government-supports-for-studying-in-the-netherlands, truy cập ngày 08/1/2020
16 Government Supports for Studying in The Netherlands,
https://www.scholarshipportal.com/article/government-supports-for-studying-in-the-netherlands, truy cập ngày 08/1/2020
17 Government Supports for Studying in The Netherlands,
https://www.scholarshipportal.com/article/government-supports-for-studying-in-the-netherlands, truy cập ngày 08/1/2020
18 Facts and Figure, https://www.nuffic.nl/en/subjects/facts-and-figures/, truy cập ngày 17/1/2020
Trang 8của nhiều du học sinh là nền giáo dục đã được quốc tế hóa, thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:
Một là, hầu hết các chương trình giảng dạy tại các trường đại học tại Hà Lan đều bằng tiếng Anh – một ngôn ngữ quốc tế phổ biến.
Hai là, bằng cấp của Hà Lan được công nhận rộng rãi tại nhiều quốc gia
trên thế giới, đặc biệt trong khối Liên minh Châu Âu (EU).
Ba là, chương trình học có sự tham gia của sinh viên đến từ các quốc gia
khác nhau, có nền văn hóa khác nhau.
Ngoài ra, các yếu tố trên cùng với điều kiện môi trường sống, cơ hội việc làm, thăng tiến cùng với các chương trình học bổng dành cho sinh viên quốc tế đã tạo thành
sức hút đối với các du học sinh khi lựa chọn quốc gia mà mình sẽ
theo học 1.3 Hạn chế của hệ thống giáo dục đại học Hà Lan
Mặc dù Hà Lan có nhiều thành tựu đáng kể trong giáo dục đại học, là nền giáo dục hàng đầu ở châu Âu, hay ở trong OECD (Organization for Economic Cooperation and Development), nhưng hệ thống giáo dục chất lượng cao này vẫn phải đương đầu với một số thách thức không nhỏ.
Thứ nhất, thách thức trong việc thúc đẩy động lực học tập của một bộ phận
sinh viên Hà Lan vẫn không cải thiện nhiều dù chính phủ đã áp dụng nhiều chính sách mới nhằm cải thiện động lực và hiệu suất học tập của những sinh viên tài năng nhất của đất nước Bởi vì điều đặc biệt là động lực thấp và thiếu sự phấn đấu trong học tập lại tồn tại trong những sinh viên có thành tích cao trong học tập Bảng xếp hạng PISA 2012 cho thấy tỷ lệ học sinh trung học ở Hà Lan có hứng thú với toán học, dành thời gian đọc sách, có động lực học tập đều thấp hơn rất nhiều với nhiều nước trong OECD và động lực học tập của nhóm học sinh có thành tích cao nhất lại rất thấp so với các nhóm này ở các nước khác thuộc OECD.19 Đây là một trong những vấn đề lớn mà giáo dục đại học Hà Lan cần khắc phục khi các học sinh thiếu động lực học tập bước vào giảng đường đại học.
Thứ hai, số lượng sinh viên quốc tế ngày càng tăng phải đạt đến cực đoan.
Một đánh giá của Interministerial Policy Review (IBO) gần đây cảnh báo rằng quốc
tế hóa có thể đe dọa đến tài trợ, chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục của Hà Lan Đồng thời, nghiên cứu còn cho thấy rằng sự tăng trưởng liên tục về số lượng sinh viên quốc tế và các khóa học được dạy bằng tiếng Anh có thể làm suy yếu khả năng thành thạo tiếng Hà Lan Để khôi phục cân bằng, chính phủ muốn đưa ra các quy tắc chặt chẽ hơn về ngôn ngữ giảng dạy, tăng học phí cho sinh viên ngoài the European Economic Area (EEA) và có thể hạn chế tiếp thu các khóa học được dạy bằng ngôn ngữ khác ngoài tiếng Hà Lan.20
Ngoài ra, còn nhiều hạn chế đặt ra thách thức đối với nền giáo dục Đại học ở Hà Lan
trong quá trình quốc tế hóa Chẳng hạn như các quy tắc cư xử quốc tế cần được tuân thủ nghiêm ngặt, đây là vấn đề liên quan không chỉ đến văn hóa mà có khả năng ảnh
19 Reviews of National Policies for Education Netherlands 2016
http://www.harryganzeboom.nl/ISOL/ISOL2016c3-OECD-Netherlands%202016.%20Reviews%20of
%20National%20Policies%20for%20Education.pdf, truy cập ngày 7/01/2020
20 https://www.government.nl/latest/news/2019/09/06/more-balanced-internationalisation-in-higher-education, truy cập ngày 7/01/2020
6
Trang 9hưởng đến chính trị của cả quốc gia Học phí sinh viên không phải thuộc liên minh châu
Âu (EU) cao hơn rất nhiều so với sinh viên bản địa, do sinh viên ngoài liên minh không nhận được sự hỗ trợ học phí từ chính phủ Một số trường đại học đặt giới hạn số lượng sinh viên quốc tế đã gây hiểu lầm rằng đó là một chính sách phân biệt đối xử.21
II SO SÁNH VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM 2.1 Giống nhau
Giáo dục đại học Hà Lan tồn tại một số nét tương đồng với giáo dục đại Việt Nam
Cụ thể như sau:
Về cấp bậc đào tạo, giáo dục đại học Hà Lan đào tạo trình độ đại học, đào tạo thạc sĩ và trình độ tiến sĩ, tương tự trong giáo dục đại học Việt Nam được quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 Theo đó, có 3 chu trình trong giáo dục đại học: Sinh viên học Đại học nghiên cứu hoặc đại học khoa học ứng dụng được cấp bằng cử nhân (chu trình 1), sau đó sinh viên có thể tiếp tục học thạc sĩ (chu trình 2), sau khi hoàn thành chương trình thạc sĩ, sinh viên có thể học lên tiến sĩ (chu trình 3).
Về hình thức đào tạo để cấp văn bằng các trình độ đào tạo của giáo dục đại học Hà Lan bao gồm toàn thời gian, bán thời gian và học từ xa Các hình thức này giống với 3 hình thức: chính quy, vừa làm vừa học và đào tạo từ xa của giáo dục đại học Việt Nam, được quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 Sinh viên học từ xa dựa trên việc cung cấp hướng dẫn và hoàn thành công việc khóa học từ các địa điểm từ xa, cho phép người thầy và sinh viên tương tác mà không cần
ở cùng một nơi Đó là vận dụng tốt kinh nghiệm quốc tế phản ánh ở tiêu chuẩn quốc tế về phân tầng giáo dục (International Standard Classification of Education
Về chương trình đào tạo, loại hình đào tạo Đại học tại Hà Lan có cơ sở giáo dục định hướng nghiên cứu (Research Universities) với các chương trình đào tạo nặng hướng hàn lâm để đào tạo chủ yếu là các chuyên gia trong các lĩnh vực khoa học và nghiên cứu, đào tạo; loại hình thứ hai là các trường đại học định hướng ứng dụng nghề nghiệp (Uni of Applied Sciences) với các chương trình đào tạo nặng về hướng thực hành công nghệ và nghề nghiệp theo các chuyên ngành.22 Điều này tương tự theo pháp luật giáo dục Việt Nam, theo đó, các cơ sở giáo dục Việt Nam được Chính phủ công nhận một loại là cơ sở giáo dục theo định hướng nghiên cứu, một loại khác là cơ sở giáo dục theo định hướng ứng dụng.23 Tuy nhiên, giáo dục đại học Việt Nam chưa thực hiện được một cách có hiệu quả mục tiêu đề ra của pháp luật đối với nội dung này
2.2 Khác nhau
Cơ cấu hệ thống giáo dục của Việt Nam tuy có một số nét tương đồng như đề cập
ở mục 2.1 của bài, nhưng vẫn có một số điểm khác biệt rõ rệt khi so sánh với nền Giáo dục của Hà Lan, cụ thể:
Một là, về cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.
21 https://www.nuffic.nl/actueel/nuffic-over-verengelsing-verdringing-en-verdienmodel/, truy cập ngày 9/01/2020
22 Trần Khánh Đức (2010), Giáo trình Giáo dục Đại học Việt Nam và thế giới (Dùng cho các khóa bồi dưỡng giảng viên cao đẳng/đại học về nghiệp vụ Sư phạm đại học theo chương trình của Bộ GD&ĐT),
Hà Nội, trang 29
23 Khoản 4 Điều 7 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018
7
Trang 10Dựa trên Quyết định số 1981/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân vào tháng 10/201624, nền giáo dục đại học Việt Nam cơ bản đã có những bước chuyển hướng rõ rệt trong việc phân luồng học sinh trong cấp Giáo dục phổ thông, điển hình tập trung phân luồng ở trình độ trung học phổ thông (3 năm) theo 3 luồng chính là định hướng chung (tính hàn lâm/ khoa học như hiện tại), định hướng kỹ thuật/ công nghệ hay định hướng năng khiếu (nghệ thuật, thể thao) Ngoài ra, đối với hệ thống giáo dục Việt Nam, học sinh có nhiều lựa chọn loại hình giáo dục phù hợp với đặc điểm kinh tế gia đình, định hướng và nhu cầu cá nhân của mình Sau khi hoàn thành bậc giáo dục cơ bản (9 năm), học sinh sẽ có những lựa chọn khá đa dạng để tiếp sự nghiệp giáo dục của mình như tiếp tục phân luồng đối với bậc Trung học phổ thông (và sau đó là Giáo dục bậc cao), Giáo dục nghề nghiệp hay Giáo dục thường xuyên – Học tập suốt đời Điều này cũng phù hợp đối với thực trạng chất lượng giáo dục của Việt Nam ở các khu vực không đồng đều nhau còn chênh lệch nhiều về mặt kinh tế - xã hội, dẫn đến tình trạng giáo dục không đồng đều
Hai là, giáo dục Việt Nam chưa thật sự định hướng người học trong việc đáp ứng đúng nhu cầu, kỹ năng cần của nhà tuyển dụng, doanh nghiệp và xã hội.
Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (2014) đã chỉ ra những bất cập trong việc trang bị cho sinh viên những kỹ năng cần thiết đối với người sử dụng lao động tại Việt Nam, tập trung vào kỹ năng mềm, kỹ năng giao tiếp Tiếng Anh và kiến thức thực tế trong công việc.25 Vào ngày 09/12/2011, trong buổi toạ đàm “Giải pháp gắn kết giữa đào tạo với thị trường lao động ở Việt Nam” của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả Thanh
Hà cũng đã chỉ ra nghiên cứu về con số tình hình việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên, được chia sẻ trong bài viết “Nhiều sinh viên ra trường không tìm được việc làm:
Vì sao và tại ai?”, như sau: trên 3,000 sinh viên được nghiên cứu thì có 27% sinh viên không xin được việc do ngành học không phù hợp nhu cầu tuyển dụng, và có khoảng 73% sinh viên đã tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp Đáng chú ý hơn, trong số những sinh viên đã tìm được việc thì có đến 58.2% sinh viên không biết xin việc ở đâu
và 42% không đáp ứng được yêu cầu năng lực của nhà tuyển dụng.26
Ba là, chất lượng chuẩn giáo dục của Việt Nam còn thấp so với nền giáo
dục của Hà Lan, còn tồn đọng nhiều bất cập trong việc quốc tế hoá hệ thống
giáo dục đại học.
Hệ thống giáo dục đại học hiện đại ở Việt Nam có lịch sử tồn tại từ nhiều năm nay, nhưng vấn đề kiểm định và đảm bảo chất lượng đào tạo cũng mới chỉ được nhắc đến trong vài năm gần đây Hiện nay, cả nước đã có hơn ba trăm trường đại học, song dường
24Quyết định Phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống Giáo dục quốc dân
https://moet.gov.vn/van-ban/vbdh/Pages/chi-tiet-van-ban.aspx?ItemID=2079, truy cập ngày 9/01/2020
25 TƯƠNG LAI VIỆC LÀM VIỆT NAM: Khai thác xu hướng lớn cho sự phát triển thịnh vượng hơn http://documents.worldbank.org/curated/en/120181533920184192/pdf/129380-VIETNAMESE-v2-WB-Future-Jobs-Tieng-Viet-25-6-2018.pdf, truy cập ngày 9/01/2020
26 Thanh Hà, (2011), Nhiều sinh viên ra trường không tìm được việc làm: Vì sao và tại ai?,
Tọa đàm “Giải pháp gắn kết giữa đào tạo với thị trường lao động ở Việt Nam”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội