1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự cần thiết phải bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả lịch sử hình thành và phát triển các quy định về quyền liên quan đến quyền tác giả

20 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 75,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật SHTT, quyền liên quan đến quyền tác giả gọi tắt là quyền liên quan là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình

Trang 1

-A NỘI DUNG THẢO LUẬN TẠI LỚP VỚI GIẢNG VIÊN:

1/ Sự cần thiết phải bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về quyền liên quan đến quyền tác giả.

Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật SHTT, quyền liên quan đến

quyền tác giả (gọi tắt là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc

biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa Như vậy, quyền liên quan là tổng hợp các quy phạm quy định và

bảo vệ quyền của người biểu diễn hoặc tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu của cuộc biểu diễn; nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và các tổ chức phát sóng khi thực hiện các chương trình có sử dụng các tác phẩm gốc của chủ sở hữu quyền tác giả

Quyền liên quan được xem là một quyền tồn tại song song với quyền tác giả và được trao cho các cá nhân, tổ chức có đóng góp trong việc giúp tác giả truyền tải tác phẩm đến với công chúng Với vai trò là trung gian giữa tác giả và công chúng, việc pháp luật bảo hộ quyền liên quan của các chủ thể nêu trên là vô cùng cần thiết Tuy các chủ thể như người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát thanh truyền hình là những người sử dụng tác phẩm của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nhưng họ chính là những người sử dụng đặc biệt Các sản phẩm họ làm ra như tiếng hát hay làn sóng cũng có thể bị sao chép làm lậu1 Đặc biệt trong thời kỳ các loại hình thiết bị công nghệ, kỹ thuật ngày càng phát triển, việc thu hình, lưu giữ và truyền

đi các sản phẩm của các chủ thể quyền liên quan ngày càng phổ biến Từ đó, có thể nhận thấy rằng, sự bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả là vô cùng quan trọng Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng cần phải có các quy định về loại quyền này Xét ở một khía cạnh rộng hơn, cùng với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng, việc nâng cao hệ thống pháp luật trong nước về bảo hộ quyền liên quan phù hợp với các chế định về thương mại, kinh tế trên thế giới là điều vô cùng quan trọng vì tình trạng

vi phạm quyền liên quan sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát triển kinh tế của quốc gia

đó, cụ thể là không có môi trường cạnh tranh lành mạnh dành cho các doanh nghiệp

* Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về quyền liên quan đến quyền tác giả

1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2017, Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ (Tái bản có bổ sung), Nxb Hồng Đức, tr.62.

Trang 2

-Kể từ thế kỷ thứ 17, các hoạt động sáng tạo đã được chú ý và có các quy định pháp luật bảo vệ Cuối thế kỷ thứ 18, trong hệ thống pháp luật châu Âu, vấn đề bảo hộ quyền nhân thân của tác giả đã được ghi nhận và cho đến cuối thế kỷ thứ 19, sự ra đời của Công ước Paris 1883 và Công ước Berne 1886 đã đánh dấu cho sự phát triển về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Liên quan đến quyền liên quan đến quyền tác giả, loại quyền này được ghi nhận riêng biệt lần đầu trong Công ước Rome 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng Có thể nói, quyền liên quan ra đời dựa trên sự phát triển của khoa học công nghệ Việc bảo hộ loại quyền này lần đầu được quan tâm đến từ ngành công nghiệp ghi âm, cụ thể là các chủ thể trong lĩnh vực công nghiệp này mong nhận được sự bảo hộ theo luật bản quyền để chống lại tình trạng sao chép các bản ghi âm một cách trái phép Bên cạnh Công ước Rome, quyền liên quan đến quyền tác giả còn được ghi nhận trong Công ước Geneva 1971 về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được bản ghi âm của họ

và Công ước Brussels 1974 về việc phân phối tín hiệu mạng chương trình truyền qua

vệ tinh Ngoài ra, quyền liên quan còn được công nhận trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) tại Điều 14 nhằm bảo hộ những người biểu diễn, người sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát thanh, truyền hình Có thể nhận thấy rằng, việc bảo hộ quyền liên quan trên phạm vi quốc tế chỉ có được sau các nỗ lực đàm phán và xây dựng các công ước giữa các quốc gia trong khuôn khổ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)

Tại Việt Nam, bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ 20, các quy định liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đã được quan tâm Tư tưởng bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam được khẳng định trong các Hiến pháp từ năm 1946 đến 1992 Điều 60 Hiến pháp

1992 quy định: “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền

sở hữu công nghiệp” Văn bản pháp lý đầu tiên quy định cụ thể về vấn đề quyền tác giả là Nghị định 142/CP ngày 14/11/1986 Đến khi nghị định này không còn phù hợp với định hướng phát triển của đất nước, năm 1990, Bộ Văn hóa thông tin đã được giao soạn thảo Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả để thay thế Năm 1994, Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả được thông qua, gồm 7 chương 47 điều quy định chi tiết về quyền tác giả Sau đó, BLDS 1995 được ban hành, các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan được tập trung tại phần VI “Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao

Trang 3

-công nghệ” Quyền và nghĩa vụ của người biểu diễn, của tổ chức sản xuất bằng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình, tổ chức phát thanh, truyền hình được quy định tại mục 4 của phần VI và BLDS 2005 vẫn tiếp tục ghi nhận các quy định về quyền liên quan đến quyền tác giả tại Mục 2 Chương XXXIV Phần thứ sáu

Với nhu cầu cần phải có khung pháp lý dành cho lĩnh vực sở hữu trí tuệ để hội nhập với thế giới, tại kỳ họp Quốc hội khóa X, Luật SHTT 2005 đã được thông qua nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ Đến năm 2009, Luật SHTT 2005 đã được sửa đổi, bổ sung để tạo điều kiện hoạt động cho các chủ thể liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là các quyền liên quan

Ở khía cạnh quốc tế, Việt Nam đã gia nhập hầu hết các điều ước quốc tế bảo hộ quyền liên quan như Công ước Rome (Việt Nam trở thành thành viên vào ngày 01/3/2007), Công ước Geneva (có hiệu lực tại Việt Nam ngày 6/7/2005), Công ước Brussel (Việt Nam trở thành thành viên vào ngày 12/01/2006) và Hiệp định TRIPS

2/ Hãy tìm ít nhất hai ví dụ trên thực tế (các tranh chấp trong thực tiễn, khuyến khích sinh viên tìm được bản án của vụ việc) về hành vi xâm phạm quyền liên quan đến quyền tác giả.

Trên thực tế, hành vi xâm phạm quyền liên quan đến quyền tác giả diễn ra phổ biến và rộng rãi, đặc biệt là trên các trang mạng xã hội như Facebook, Youtube,… Cụ thể có một số ví dụ như sau:

Ví dụ 1: Phát sóng lén “Giải bóng đá U23 Việt Nam tranh cúp ASIAD 2018” mới đây của kênh VOV/VTC

Ngày 21/8, VOV đã mua bản quyền tất cả các sự kiện trong khuôn khổ ASIAD

2018 Từ ngày 22/8, khán giả được theo dõi trực tiếp các trận đấu của ASIAD 2018 trên kênh VTC3 của truyền hình kỹ thuật số VTC hoặc nghe tường thuật trực tiếp các

sự kiện trên làn sóng phát thanh của Đài TNVN Người dân cũng có thể xem trực tiếp trên điện thoại di động, tivi thông minh thông qua ứng dụng VTC Now, báo điện tử VTC.VN và VOV.VN

Tuy nhiên, khán giả vẫn có thể truy cập với những từ khóa đơn giản liên quan đến trận đấu trên các kênh lớn như Facebook hoặc Youtube để theo dõi Theo báo

Trang 4

-cáo Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC, trong những ngày qua xuất hiện nhiều trang thông tin điện tử truyền thông ASIAD 2018 Cơ quan quản lý rà soát và thấy rằng có nhiều website có tên miền quốc tế, máy chủ đặt ở nước ngoài đã truyền trực tuyến trận đấu bóng đá nam giữa đội Bahrain ngày 23/8, có logo kênh VTC3 của VTC Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử đã đề nghị cơ quan chức năng của Bộ Công An xác minh đầu mối tại Việt Nam thu tín hiệu trái phép trận đấu này để cung cấp cho các trang này

Trong ví dụ nêu trên, buổi phát sóng chương trình trực tiếp giải ASIAD 2018 của đài truyền hình VTC được xem là đối tượng bảo hộ của quyền liên quan Hành vi truyền trực tuyến trận đấu ASIAD nói trên của các trang mạng là hành vi xâm phạm đến quyền liên quan của quyền tác giả

Ví dụ 2: Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV) kiện Nokia vì đã sử dụng các bài hát do Hiệp hội sản xuất mà không xin phép.

Trong sự việc này, vào ngày 27/10/2008, tại TP.HCM, Hiệp hội Công nghiệp ghi

âm Việt Nam (RIAV) đã tổ chức họp báo công bố vụ kiện lớn nhất của hiệp hội này đối với nhãn hàng điện thoại di động Nokia vì đã sử dụng hàng chục ngàn ca khúc do các thành viên hiệp hội sản xuất với mục đích kinh doanh nhưng không xin phép Phía RIAV nêu ra là hãng điện thoại Nokia đã sử dụng 10.446 ca khúc của các thành viên trong hiệp hội vào mục đích kinh doanh, trục lợi (tặng thẻ mật mã để download miễn phí cho những khách hàng mua điện thoại Nokia dòng sản phẩm 5320 Express music) Các thành viên hiệp hội khẳng định, với một kho ca khúc (của hầu hết các nhà sản xuất băng đĩa nhạc VN hiện nay) tương đối lớn như vậy nhưng Nokia không có bất kỳ lời xin phép hay động thái thực hiện nghĩa vụ trả tiền tác quyền cho chủ sở hữu tác phẩm là các trung tâm sản xuất băng đĩa nhạc, trước khi đưa vào sử dụng

Trang 5

-Bên phía RIAV cho rằng, hành vi trên của Nokia đã vi phạm đến quyền liên quan đến quyền tác giả (các bản nhạc do RIAV mua bản quyền của ca sĩ và sản xuất) Trong vụ kiện này, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam đã đưa ra mức yêu cầu bồi thường

là 50 tỷ đồng

3/ Nghiên cứu tình huống và trả lời các câu hỏi:

Năm 1966, ông Bảo là phóng viên làm việc tại Thông tấn xã Việt Nam đã chụp tấm ảnh người phi công Mỹ bị bắt tại Hà Bắc và đặt tên bức ảnh là “Từ thần sấm lộn

cổ xuống xe trâu” Năm 2006, ông Bảo phát hiện NXB Văn hóa dân tộc xuất bản sách

“Việt Nam cuộc chiến 1858-1975”, trong đó có đăng bức ảnh trên mà không được sự đồng ý của ông Bảo cũng như Thông tấn xã Việt Nam Đồng thời, trong cuốn sách cũng không ghi tên ông Bảo là tác giả và khi đăng đã cắt xén một phần bức ảnh này.

Do đó, ông Bảo đã khởi kiện NXB Văn hóa dân tộc tại Tòa án cùng với yêu cầu đăng cải chính, xin lỗi trên các phương tiện thông tin đại chúng và bồi thường tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng do bức ảnh bị cắt xén gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của ông Yêu cầu thanh toán tiền nhuận bút 1.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông Cần – tác giả của cuốn sách “Việt Nam cuộc chiến 1858-1975” trình bày: Bức ảnh người phi công Mỹ bị bắt mà ông sử dụng trong sách của mình được lấy từ cuốn sách “Chỉ có một Việt Nam” của tác giả người Hungary Gyorgymatto xuất bản năm 1972 chứ không phải từ nguyên gốc bức ảnh của ông Bảo Trong cuốn sách này, tác giả Hungary không ghi tên ông Bảo là tác giả đồng thời cũng đã cắt xén bức ảnh trên.

Xem xét các chứng cứ, Tòa án nhận thấy bức ảnh sử dụng trong sách của ông Cần và tác giả Hungary là giống nhau, bên cạnh đó đều không ghi tên tác giả là ông Bảo.

Câu hỏi:

a) Căn cứ xác lập quyền tác giả? Trong vụ việc trên, chủ thể nào có quyền tác giả đối với bức ảnh chụp người phi công Mỹ?

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 6 Luâ ^t SHTT, quyền tác giả được bảo hộ theo cơ

chế tự động có nghĩa là quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, mà không phân biệt nội dung,

Trang 6

-chất lượng, hình thức…, không phụ thuộc vào việc tác giả đã công bố hay chưa công

bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký

Trong vụ viê „c, dựa trên các căn cứ xác lâ „p quyền tác giả như đãnêu ở trên thì ông Bảo chính là người có quyền tác giả đối với bức ảnh chụp người phi công Mỹ ngay sau khi bức ảnh được chụp và lưu vào phim

b) Hành vi của ông Cần có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với bức ảnh trên không, vì sao?

Theo khoản 1 Điều 3, đối tượng của quyền tác giả thuộc quyền sở hữu trí tuệ là tác phẩm nghệ thuật, bao gồm tác phẩm nhiếp ảnh của ông Bảo (điểm h Điều 14 Luật SHTT 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009) Điều 6 LSHTT chỉ ra căn cứ phát

sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ rằng “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố,

đã đăng ký hay chưa đăng ký.” Như vậy có căn cứ để tác phẩm của ông Bảo được bảo

hộ theo phạm vi của Luật SHTT

Hành vi của ông Cần đã xâm phạm tới quyền tác giả của ông Bảo, cụ thể là quyền

nhân thân được quy định tại khoản 4 Điều 19 và quyền tài sản được quy định tại điểm

c, điểm đ của Điều 20 LSHTT, đó là các quyền được bảo vệ sự toàn vẹn của tác

phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả, quyền sao chép tác phẩm và truyền đạt tác phẩm trước công chúng Hành vi xâm phạm quyền tác giả nêu

trên được ghi nhận tại khoản 3, khoản 5 và khoản 6 của Điều 28 do phân phối tác

phẩm không xin phép tác giả, sửa chữa cắt xén gây phương hại đến danh dự tác giả và

có hành vi sao chép lần 2 mà không được phép của tác giả mà không thuộc trường hợp loại trừ tại điều 25

c) Các yêu cầu của ông Bảo có được chấp nhận không? Nêu cơ sở pháp lý.

Những yêu cầu của ông Bảo: “ông Bảo đã khởi kiện NXB Văn hóa dân tộc tại Tòa án cùng với yêu cầu đăng cải chính, xin lỗi trên các phương tiện thông tin đại chúng và bồi thường tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng do bức ảnh bị cắt xén gây

Trang 7

-ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của ông Yêu cầu thanh toán tiền nhuận bút 1.000.000 đồng, ”

Những yêu cầu nêu trên của ông Bảo sẽ được chấp nhận

Cơ sở pháp lý: Điều 202 Luật SHTT 2009, Điều 20, Điều 21, Điều 43, Điều

44 Nghị định 22/2018/NĐ-CP

Điều 202 Các biện pháp dân sự

Toà án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:

2 Buộc xin lỗi, cải chính công khai;

5 Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

Nghị định 22/2018/NĐ-CP

Điều 20 Quyền nhân thân

1 Quyền đặt tên cho tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ Quyền này không áp dụng đối với tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.

2 Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao hợp lý để đáp ứng nhu cầu của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm, do tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu

download by : skknchat@gmail.com

Trang 8

-quyền tác giả Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.

3 Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính trừ trường hợp có thoả thuận của tác giả.

Điều 21 Quyền tài sản

3 Quyền phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm.

Điều 43 Biểu mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất

1 Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan xây dựng Biểu mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất quy định tại khoản 3 Điều 20, khoản 4 Điều 29 của Luật sở hữu trí tuệ và quyền lợi vật chất quy định tại khoản 2 Điều 30, khoản 2 Điều 31 của Luật sở hữu trí tuệ.

2 Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng theo quy định tại khoản 1 Điều 26, khoản 1 và khoản 2 Điều 33 của Luật sở hữu trí tuệ có nghĩa vụ liên lạc trực tiếp với chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan về việc khai thác, sử dụng Trường hợp không liên lạc trực tiếp được với chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thì tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm, bản ghi âm ghi hình, chương trình phát sóng phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

3 Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền

Trang 9

-liên quan có trách nhiệm thoả thuận về mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất và phương thức thanh toán.

4 Nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất được xác định theo các nguyên tắc sau:

a) Việc trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất phải bảo đảm lợi ích của người sáng tạo, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng và công chúng hưởng thụ, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.

b) Mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất được xác định căn cứ vào thể loại, hình thức, chất lượng, số lượng hoặc tần suất khai thác, sử dụng.

c) Các đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận về tỷ lệ phân chia tiền nhuận bút, thù lao theo mức độ sáng tạo, phù hợp với hình thức khai thác, sử dụng.

d) Mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất được xác định trong hợp đồng bằng văn bản theo quy định pháp luật.

Điều 44 Thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất

1 Việc thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất thực hiện theo quy định tại Điều lệ hoạt động của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan và văn bản ủy quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thỏa thuận về mức hoặc tỷ lệ phần trăm, phương thức và thời gian phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất.

2 Việc thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được khai thác, sử dụng theo quy định của pháp luật.

3 Trong trường hợp tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều tổ chức đại diện tập thể được ủy quyền đại diện cho một quyền, nhóm quyền cụ thể, các tổ chức có thể thỏa thuận để một tổ chức thay mặt đàm phán cấp phép sử dụng, thu và phân chia tiền theo Điều lệ và văn bản ủy quyền.

Trang 10

-4 Việc thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất từ các tổ chức tương ứng của nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế thực hiện theo quy định về quản lý ngoại hối.

d) Theo quy định của Luật SHTT hiện hành, có những biện pháp nào để xử

lý hành vi xâm phạm quyền tác giả? Trong tranh chấp trên, biện pháp nào đã được áp dụng?

Theo Khoản 1 Điều 199 Luật SHTT 2005 thì các hành vi vi phạm quyền tác

giả tùy theo tính chất sẽ bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự Ngoài ra còn có các biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử phạt hành chính và biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu cùng các biện pháp khác tại khoản 2 của điều này

Cụ thể, các biện pháp dân sự được quy định tại Điều 202 Luật SHTT 2005:

“Điều 202 Các biện pháp dân sự

Toà án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:

2 Buộc xin lỗi, cải chính công khai;

5 Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.”

Ngoài ra, các biện pháp khác cũng được quy định tại: Điều 207 Luật SHTT

2005 về các biện pháp khẩn cấp tạm thời; Điều 211 Luật SHTT 2005 về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt hành chính; Điều 212 Luật SHTT 2005 về hành

vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử lý hình sự; và Điều 214 Luật SHTT 2005 sửa

đổi, bổ sung 2009 về các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả

Trong tranh chấp trên, các biện pháp xử lý nêu ra rằng “yêu cầu đăng cải

chính, xin lỗi trên các phương tiện thông tin đại chúng và bồi thường tổn thất tinh

Ngày đăng: 14/05/2022, 14:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

cáo Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC, trong những ngày qua xuất hiện nhiều trang thông tin điện tử truyền thông ASIAD 2018 - Sự cần thiết phải bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả  lịch sử hình thành và phát triển các quy định về quyền liên quan đến quyền tác giả
c áo Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC, trong những ngày qua xuất hiện nhiều trang thông tin điện tử truyền thông ASIAD 2018 (Trang 4)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w