Trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký cùng một sáng chế hoặc đăng ký các kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể với nhau hoặc đăng ký các nhãn
Trang 1-A Phần Câu hỏi sinh viên tự làm và CÓ thảo luận trên lớp với Giảng
viên:
1 Phân tích và nêu ý nghĩa nguyên tắc nộp đơn đầu tiên Nguyên tắc này được áp dụng cho những đối tượng nào?
Căn cứ theo Điều 90 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sau đây gọi tắt là LSHTT
2005) quy định về Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên thì:
“1 Trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký cùng một sáng chế hoặc đăng ký các kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể với nhau hoặc đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau hoặc tương tự với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ có thể được cấp cho đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.
2 Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo
hộ chỉ có thể được cấp cho một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo sự thoả thuận của tất
cả những người nộp đơn; nếu không thoả thuận được thì tất cả các đơn đều bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.”
Như vậy, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên được hiểu là trong trường hợp có nhiều người nộp đơn đăng kí bảo hộ một sản phẩm nào đó, mà sản phẩm đó trùng hoặc không khác biệt đáng kể với nhau, vào những thời điểm khác nhau, nếu các sản phẩm này đáp ứng được điều kiện bảo hộ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cấp văn bằng bảo hộ cho đơn hợp lệ có ngày nộp sớm nhất trong các đơn đã nộp
Nếu trong trường hợp cùng ngày ưu tiên hoặc cùng ngày nộp đơn sớm nhất, có nhiều đơn đăng kí cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho 01 đơn duy nhất theo sự thỏa thuận của tất cả những người nộp đơn Những người nộp đơn phải tiến hành bàn bạc với nhau để cùng thống nhất quyết định chọn một trong số các đơn đó cho cơ quan có thẩm quyền xem xét Nếu không thể thỏa thuận được giữa các bên thì tất cả các đơn đều bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ
Trang 2-Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên có thể làm căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người nộp đơn đầu tiên nếu như có tranh chấp xảy ra Trong trường hợp đó,
cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét xem ngày đầu tiên của sản phẩm được bảo hộ là do
ai đăng kí, từ đó có những quyết định hợp lý và ưu tiên theo nguyên tắc này
Nguyên tắc trên được áp dụng khi người đăng kí muốn đăng kí để bảo hộ kiểu
dáng công nghiệp, sáng chế, nhãn hiệu Riêng đối với đăng kí bảo hộ nhãn hiệu thì
ngoài việc áp dụng theo LSHTT của Việt Nam, chủ thể đăng kí cũng có thể viện dẫn
quyền ưu tiên theo công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Công ước Paris
Chính vì có sự ưu tiên trong việc cấp văn bằng bảo hộ như vậy, mà việc đăng
kí bảo hộ đối với các sản phẩm của cá nhân, tổ chức phải hết sức nhanh chóng và
không được quyền chậm trễ trong việc nộp đơn Nguyên tắc trên có thể được coi là
một công cụ tạo nên sự thúc đẩy việc nộp đơn diễn ra nhanh chóng và hiệu quả; đẩy
mạnh các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo trong lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng; bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người đăng kí đầu tiên
2 So sánh cơ chế bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp.
nghiệp
Khái Quyền tác giả là quyền Quyền sở hữu công
niệm của tổ chức, cá nhân đối với nghiệp là quyền của tổ chức, cá
tác phẩm do mình sáng tạo ra nhân đối với sáng chế, kiểu hoặc sở hữu dáng công nghiệp, thiết kế bố
(Khoản 2 Điều 4 Luật trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn SHTT 2005) hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn
địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu
và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh (Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT 2005)
Trang 3-tượng bảo hộ liên quan công nghiệp, nhãn hiệu, tên
thương mại, chỉ dẫn địa lý, mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh
Đối Điều 15 Luật SHTT Điều 59, điều 64, điều
Điều ● Phát sinh kể từ khi tác · Sáng chế: có tính
kiện bảo hộ phẩm được sáng tạo và mới, tính sáng tạo, khả năng áp
được thể hiện dưới một dụng công nghiệp
hình thức vật chất nhất
định, không phân biệt nghiệp: có tính mới, tính sáng nội dung, chất lượng, tạo, khả năng áp dụng công hình thức, phương tiện, nghiệp
ngôn ngữ, đã công bố
hay chưa công bố, đã
hiệu nhìn thấy được, có tính đăng ký hay chưa đăng
ký (khoản 1 Điều 6 phân biệt (Điều 72)
Có khả năng phân biệt giữa các chủ thể kinh doanh (Điều 76)
· Chỉ dẫn địa lý: Điều 79
· Mạch tích hợp bán dẫn: có tính nguyên gốc, tính
thương mại (Điều 68)
doanh: Điều 84
xác lập quyền được sáng tạo và định dáng công nghiệp, thiết kế bố
Trang 4download by : skknchat@gmail.com
-hình dưới một -hình thức vật chất nhất định
bằng bảo hộ ký quyền tác giả, giấy chứng
nhận đăng ký quyền liên quan
(Được cấp bởi Cục bản quyền tác giả thuộc Bộ văn hóa thể thao và du lịch)
trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý: Xác lập trên cơ sở được cơ quan
có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ hoặc công nhận đăng ký quốc tế
Sử dụng hợp pháp
doanh: Có được một cách hợp pháp và thực hiện bảo mật
tiếng: Trên cơ sở sử dụng
● Bằng độc quyền sáng chế
● Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp
● Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn
(Được cấp bởi Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ khoa học
và công nghệ)
Thời hạn Điều 27 Luật SHTT Điều 93 Luật SHTT
● Quyền nhân thân quy định tại khoản 1, 2,4 Điều 19 được bảo hộ
vô thời hạn
Trang 5-● Quyền nhân thân tại khoản 3, quyền tài sản bảo hộ có thời hạn
Phạm vi Trên lãnh thổ Việt Trên lãnh thổ Việt Nam
Nội dung Quyền nhân thân, Quyền tài sản, trường
bảo hộ quyền tài sản hợp sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí được bảo
hộ cả quyền của tác giả
2005
quyền được
bảo hộ
3 Ông A là chuyên viên thiết kế làm việc cho công ty M kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất thiết bị nhà bếp Giữa ông và công ty có ký hợp đồng lao động thỏa thuận về phạm vi công việc, mức lương và các nội dung khác Trong thời gian làm việc tại công ty, ông A có thiết kế một số kiểu dáng công nghiệp theo yêu cầu của công ty và được công ty M tiến hành thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Câu hỏi:
a/ Công ty M có quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp đối với các sản phẩm của ông A thiết kế không? Nêu cơ sở pháp lý.
Công ty M có quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp đối với các sản phẩm của ông A thiết kế, vì công ty M đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho ông A dưới hình thức hợp đồng lao động để thiết kế kiểu dáng công nghiệp đối với các sản phẩm
download by : skknchat@gmail.com
Trang 6-theo yêu cầu của công ty (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác và thỏa thuận đó không trái với quy định tại khoản 2 Điều 86 LSHTT.)
CSPL: Điểm b) Khoản 1 Điều 86 LHSTT
Điều 86 Quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
1 Tổ chức, cá nhân sau đây có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:
b) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác và thỏa thuận đó không trái với quy định tại khoản 2 Điều này
2 Chính phủ quy định quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra do sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh phí từ ngân sách nhà nước
b/ Nếu kiểu dáng công nghiệp được cấp văn bằng bảo hộ thì ông A và công
ty M có những quyền gì đối với các thiết kế này?
Trong trường hợp này, với điều kiện không có thỏa thuận nào khác, công ty M
là chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp và ông A là tác giả của kiếu dáng công nghiệp đối với các sản phẩm được thiết kế
Với vai trò là chủ sở hữu, căn cứ theo Điều 123 Luật SHTT hiện hành, công ty
A có các quyền như sau:
- Quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng kiểu dáng công nghiệp mà công
ty đang sở hữu theo Khoản 2 Điều 124 và Chương X của Luật SHTT hiện hành
- Quyền ngăn cấm người khác sử dụng kiểu dáng công nghiệp theo Điều 125 Luật SHTT hiện hành do công ty A đã được pháp luật cho phép độc quyền sử dụng kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ
- Quyền định đoạt kiểu dáng công nghiệp theo Chương X của Luật SHTT hiện hành, chẳng hạn như chuyển giao quyền sở hữu kiểu dáng công nghiệp cho người khác
Với vai trò là tác giả, ông A có các quyền như sau:
- Quyền nhân thân (Khoản 2 Điều 122 Luật SHTT hiện hành): Được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và được nêu tên là tác giả trong các tài liệu công bố, giới thiệu về kiểu dáng công nghiệp
Trang 7Quyền tài sản (Khoản 3 Điều 122 Luật SHTT hiện hành): được nhận thù lao theo quy định tại Điều 135 Luật SHTT hiện hành
- Quyền khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại
4. Nghiên cứu Bản án số 96/2010/KDTM-PT ngày 03/6/2010 về việc Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ của Tòa án nhân dân tối cao và trả lời câu hỏi:
a Sáng chế và kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” do ai tạo ra? Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp này đã được đăng ký bảo hộ chưa?
Căn cứ theo Bản án số 96/2010/KDTM-PT ngày 03/6/2010 về việc Tranh chấp
quyền sở hữu trí tuệ của Tòa án nhân dân tối cao thì “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” do
ông Đỗ Thành Đồng sáng chế với những tính năng và kiểu dáng riêng biệt Ngay sau
đó, Công ty Thành Đồng của ông Đỗ Thành Đồng đã đăng kí bảo hộ sáng chế và kiểu dáng công nghiệp tại Cục sở hữu trí tuệ vào ngày 01/07/2014 Ngày 29-7-2004, đơn yêu cầu của Công ty được đăng công khai trên báo Sở hữu công nghiệp số 148 tập A, tháng 9-2004
Ngày 29-9-2005, Cục sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp
số 8595 đối với kiểu dáng “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” cho Công ty Thành Đồng, đăng trên báo sở hữu công nghiệp số 212 tập B (11-2005)
Ngày 09-5-2006, Cục sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền sáng chế số 5633 đối với sáng chế “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” cho Công ty Thành Đồng, đăng trên công báo sở hữu công nghiệp số 21 tập B (6-2006)
Sáng chế và kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” của Công ty Thành Đồng được bảo hộ độc quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam
Như vậy, sáng chế và kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm trên đã được đăng
kí và bảo hộ theo đúng quy định của LSHTT 2005
b Việc Công ty Thành Đồng đã đăng ký bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đối với “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” thì Cơ sở Ngọc Thanh có biết hay không? Đoạn nào trong bản án thể hiện điều này?
Viê zc Công ty Thành Đồng đã đăng ký bảo hô z sáng chế, kiểu dáng công nghiê
zp đối với
“Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” thì Cơ sở Ngọc Thanh có biết Điều này thể hiê
zn ở đoạn …“Hội đồng xét xử nhận thấy: sản phẩm “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn”
đang có tranh chấp đã được Cục sở hữu trí tuệ - Bộ khoa học và công nghệ cấp
Trang 8-Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp số 8595 ngày 29/9/2005 và -Bằng độc quyền sáng chế số 5633 ngày 09/5/2006 cho Công ty Thành Đồng, sản phẩm này được bảo
hộ độc quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam Việc thẩm định và cấp bằng độc quyền, Cục sở hữu trí tuệ đã tiến hành đúng và đầy đủ các trình tự theo quy định của pháp luật, chính cơ sở Ngọc Thành có biết nhưng không khiếu nại gì Tuy nhiên cơ sở Ngọc Thanh vẫn sản xuất và lưu hành trên thị trường loại bạt chắn nắng mưa tự cuốn trong thời hạn có hiệu lực của Bằng độc quyền sáng chế công nghiệp và Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp mà không được sự đồng ý của Công ty Thành Đồng và khi có tranh chấp không xuất trình được bất kỳ loại giấy tờ nào thể hiện việc sản xuất kinh doanh loại sản phẩm này là hợp pháp…” trong phần Xét thấy của bản án.
Ngoài ra trong phần Nhâ zn thấy của bản án Luâ zt sư của Cơ sở NgọcThanh cũng
đã tuyên bố viê zc vào năm 2007 Cơ sở Ngọc Thành đã có đơn gửi Cục sở hữu trí tuệ đề nghị xem xét hủy bỏ hai bằng bảo hô z đã cấp cho Công ty Thành Đồng Điều này cũng thể hiê zn r{ viê zc cơ sở Ngọc Thanh có biết về viê zc Công ty Thành Đồng đã đăng ký
bảo hô z sáng chế, kiểu dáng công nghiê zp đối với “ Bạt chắn ngắ mưa tự cuốn”.
c Cơ sở Ngọc Thanh khi sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” có được Công ty Thành Đồng đồng ý hay không? Đoạn nào của bản án thể hiện điều này?
Cơ sở Ngọc Thanh khi sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” không được Công ty Thành Đồng đồng ý
Trong phần Xét thấy, đoạn: “Tuy nhiên cơ sở Ngọc Thanh vẫn sản xuất và lưu
hành trên thị trường loại bạt chắn nắng mưa tự cuốn trong thời hạn có hiệu lực của Bằng độc quyền sáng chế công nghiệp và Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp mà không được sự đồng ý của Công ty Thành Đồng và khi có tranh chấp không xuất trình được bất kỳ loại giấy tờ nào thể hiện việc sản xuất kinh doanh loại sản phẩm này là hợp pháp Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết cơ sở sản xuất Ngọc Thanh sản xuất và lưu hành sản phẩm bạt chắn nắng mưa tự cuốn rộng rãi trên thị trường là
vi phạm Bằng độc quyền sáng chế công nghiệp và Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp về sản phẩm bạt chắn nắng mưa tự cuốn của Công ty Thành Đồng là có căn
cứ đúng pháp luật Chính ông Ninh Đức Thanh và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Cơ sở Ngọc Thanh cũng thừa nhận đã có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của Công ty Thành Đồng.”
Trang 9-d Cơ sở Ngọc Thanh sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” có thỏa mãn các điều kiện của quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay không?
Người có quyền sử dụng trước sáng chế, kiểu dáng công nghiệp phải thỏa mãn các điều kiện:
- Không được phép chuyển giao quyền đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển giao quyền đó kèm theo việc chuyển giao cơ sở sản xuất, kinh doanh nơi sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp
- Không được mở rộng phạm vi, khối lượng sử dụng nếu không được chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp cho phép
Như vậy, xem xét trường hợp của cơ sở Ngọc Thanh sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” đã vi phạm điều kiện quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp Cụ thể, cơ sở Ngọc Thanh vẫn sản xuất, mở rộng phạm vi cũng như khối lượng sử dụng khi không được sự đồng ý của
Công ty Thành Đồng Trong phần Xét thấy của Bản án có đoạn:“ HĐXX nhận thấy:
Sản phẩm “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” đang có tranh chấp đã được cục SHTT-Bộ Khoa học và Công nghệ cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp số 8595 ngày 29/9/2005 và Bằng độc quyền sáng chế 5633 ngày 09/5/2006 cho Công ty Thành Đồng, sản phẩm này được bảo hộ độc quyền trên lãnh thổ Việt Nam Việc thẩm định
và cấp bằng độc quyền, Cục SHTT đã tiến hành đúng và đầy đủ các trình tự theo quy định của pháp luật, chính cơ sở Ngọc Thanh có biết nhưng không khiếu nại gì Tuy nhiên, cơ sở Ngọc Thanh vẫn sản xuất và lưu hành trên thị trường loại bạt chắn nắng mưa tự cuốn trong thời hạn có hiệu lực của Bằng độc quyền sáng chế công nghiệp và Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp mà không được sự đồng ý của Công ty Thành Đồng và khi có tranh chấp không xuất trình được bất kỳ loại giấy tờ nào loại sản xuất kinh doanh sản phẩm này là hợp pháp ”
e Phân tích tính mới của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp.
Tính mới của sáng chế và kiểu dáng công nghiệp được quy định tại Điều 58,
60, 63, 65 Luật SHTT Đây là một trong những điều kiện tiên quyết để sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp được bảo hộ
Tính mới của sáng chế:
1 Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức
sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc
Trang 10-ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên
2 Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó
3 Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:
a) Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này;
b) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
c) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức
Tính mới của kiểu dáng công nghỉệp:
1 Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính mới nếu kiểu dáng công nghiệp đó khác biệt đáng kể với những kiểu dáng công nghiệp đã bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được hưởng quyền ưu tiên
2 Hai kiểu dáng công nghiệp không được coi là khác biệt đáng kể với nhau nếu chỉ khác biệt về những đặc điểm tạo dáng không dễ dàng nhận biết, ghi nhớ và không thể dùng để phân biệt tổng thể hai kiểu dáng công nghiệp đó
3 Kiểu dáng công nghiệp được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về kiểu dáng công nghiệp đó
4 Kiểu dáng công nghiệp không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:
a) Kiểu dáng công nghiệp bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này;