1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích luận điểm của HCM “nước độc lập, mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” làm rõ ý nghĩa của luận điểm đối với việt nam hiện nay

16 137 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 54,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ---???---BÀI TẬP LỚN MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Đề bài: Phân tích luận điểm của HCM: “Nước độc lập, mà người dân không được hưởng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-🙠🙠🙠 -BÀI TẬP LỚN

MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Đề bài: Phân tích luận điểm của HCM: “Nước độc lập, mà người dân không

được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” Làm rõ ý nghĩa của luận điểm đối với Việt Nam hiện nay.

Sinh viên thực hiện: Trịnh Hải Triều

Mã sinh viên: 11195470 Lớp học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh 04 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Hồng Sơn

Hà Nội – 2021

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

PHẦN II: NỘI DUNG 3

I Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội 3

1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc 3

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội 4

3 Mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội 5

II Hạnh phúc, tự do – thước đo giá trị của độc lập dân tộc 7

III Làm rõ ý nghĩa luận điểm đối với Việt Nam hiện nay 8

PHẦN III: KẾT LUẬN 11

PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ đáng kính, người cộng sản vĩ đại, danh nhân văn hóa kiệt xuất trên thế giới và là một nhà lý luận, nhà tư tưởng lớn của cách mạng Việt Nam Tư tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của người được cả thế giới công nhận và vinh danh, là ngọn đèn soi sáng con đường cho cách mạng Việt Nam đi đến thành công và cũng là kim chỉ nam cho phong trào cách mạng của các dân tộc thuộc địa trên thế giới Bác đã cống hiến và đấu tranh cả cuộc đời mình cho độc lập,

tự do của dân tộc; hạnh phúc, ấm no của nhân dân Đối với Bác, giành được độc lập,

tự do cho dân tộc chính là mong mỏi từng ngày; tuy nhiên chắc chắn không phải là mục đích cuối cùng của Người

Từ trước khi Việt Nam giành được độc lập, chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm tới đời sống nhân dân, đảm bảo các quyền cơ bản của con người cho từng đồng bào Sở dĩ vì Người cho rằng, tự do và hạnh phúc cho nhân dân mới là mục đích cuối cùng và quan trọng nhất Nếu Tổ quốc được giải phóng, đất nước được thống nhất, dân tộc thoát khỏi ách kìm kẹp của bè lũ ngoại bang nhưng đồng bào vẫn lầm than, đói khổ thì những sự độc lập, tự do đó là vô nghĩa Có thể thấy, Bác Hồ đã nhiều lần kêu gọi toàn dân “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập” Tuy nhiên, Người vẫn nhận thức rất rõ nền độc lập

ấy phải là độc lập thực chất và hoàn toàn, độc lập gắn liền với tự do hạnh phúc cho nhân dân Điều này đã được Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý sâu sắc: “Nước độc lập, mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”

Theo Bác, một khi dân tộc được độc lập, tự do thì người dân mới cảm nhận được giá trị của ba từ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” và độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bởi độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự phát triển của đất nước và sẽ chỉ được đảm bảo một cách chắc chắn khi gắn liền với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa độc lập dân tộc với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh, em sẽ phân tích

Trang 4

luận điểm : “Nước độc lập, mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” cũng như liên hệ làm rõ ý nghĩa của luận điểm này đối với Việt Nam hiện nay

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG

I Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội

1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc

1.1 Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi chủ trì Hội nghị trung ương 8 (5/1941) và chỉ rõ:

“trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy” Khi thời cơ khởi nghĩa chín muồi, Người khẳng định quyết tâm: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn này cũng phải giành cho được độc lập” Mượn những lời bất hủ trong hai bản tuyên ngôn của hai đế quốc sừng sỏ, hai dân tộc lớn mạnh nhất bấy giờ là Mỹ và Pháp, Chủ tịch

Hồ Chí Minh mở đầu Tuyên ngôn độc lập: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Bác cũng tuyên bố với thế giới một tuyên bố pháp lý, chính trị: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập.” cũng như thể hiện quyết tâm gìn giữ nền độc lập “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” Những

tư tưởng đó đã tạo nên chân lý có giá trị lớn trong mọi thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

1.2 Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất Tổ Quốc, toàn vẹn lãnh thổ là

tư tưởng xuyên suốt trong cuộc đời cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh Người luôn băn khoăn, day dứt khi sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước chưa được hoàn thành, Bắc – Nam chưa thu về một mối Niềm day dứt ấy được thể hiện qua nhiều lời nói của Bác, mà nổi bật nhất là: “Mỗi ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu nhiều gian khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên” Cho dù Người ra đi chưa kịp chứng kiến ngày toàn thắng của dân tộc, khi miền Nam ruột thịt vẫn còn khói lửa chiến tranh nhưng Bác vẫn thể hiện niềm tin không gì lay chuyển trong di chúc của Người: “Dù khó khăn, gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta Tổ quốc ta nhất định

sẽ thống nhất Đồng bào Nam-Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”

1.3 Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để trên tất cả các lĩnh vực; phải có quyền tự chủ, tự quyết về mọi mặt như chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh, …Người nhiều lần nhấn mạnh chúng ta đấu tranh để giành được nền độc lập thật sự, chứ không phải thứ

"độc lập giả hiệu", "độc lập nửa vời", "độc lập hình thức" – độc lập nhưng vẫn chịu sự

Trang 6

tác động, thao túng, chi phối thậm chí ép buộc của nước ngoài Tổ quốc có độc lập mà không có quyền quyết định những vấn đề của chính dân tộc mình thì nền độc lập đó cũng không có ý nghĩa

1.4 Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của đồng bào

Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải gắn với tự do, hạnh phúc của nhân dân Trong toàn bộ tư tưởng của mình, Người đã kế thừa và phát triển nhiều nội dung

tư tưởng của Tôn Trung Sơn, đó là học thuyết “Tam dân” về độc lập và tự do: dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc Mặc dù đánh giá cao và đã từng khẳng định: “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có cái hay là phù hợp với nước chúng ta", song Người không sao chép, không phỏng theo Chủ nghĩa Tam dân mà thận trọng lọc ra, bảo tồn và phát triển hạt nhân dân chủ cách mạng trong cương lĩnh chính trị và ruộng đất của Tôn Trung Sơn nhào nặn với thực tiễn Việt Nam, dưới ánh sáng tư tưởng Chủ nghĩa Mác- Lênin, hình thành tư tưởng của Người mang bản chất dân tộc, phản ánh quy luật phát triển của lịch sử

Có thể thấy rằng, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, người luôn coi độc lập gắn liền với tự do, hạnh phúc cho nhân dân, như Bác từng bộc bạch: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.Bác luôn đau đáu đấu tranh vì độc lập, tự do cho đồng bào vì Người biết rằng, nếu dân tộc mãi chịu gọng kìm xâm lược thì quyền lợi của giai cấp, quyền lợi của con người có ngàn năm cũng không đòi lại được Có tự do cho dân tộc thì mới có tự do cho mỗi người Dân tộc độc lập, dân quyền tự do dân sinh hạnh phúc là niềm mong mỏi khôn nguôi của Người

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

2.1 Quan niệm Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

Khái niệm “chủ nghĩa xã hội” dù không được Bác để lại một định nghĩa cụ thể, Người đã tiếp cận khái niệm này trên nhiều góc độ khác nhau bằng cách chỉ ra những đặc trưng quan trọng nhất ở một lĩnh vực cụ thể nào đó, như qua góc độ “khát vọng của dân tộc khi đất nước còn là thuộc địa”, Người khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội

và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức

Quan niệm của Hồ Chủ tịch về chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu tiên, giai đoạn thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa trước khi tiến lên giai đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản Sở dĩ là giai đoạn đầu vì chủ nghĩa xã hội mặc dù sức sản xuất đã phát triển cao, nền tảng kinh tế là tư liệu sản xuất đã trở thành của chung, không còn giai cấp áp bức, bóc lột tuy nhiên vẫn còn tồn tại những vết tích của xã hội cũ

Trang 7

2.2 Tiến lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan

Hồ Chí Minh khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức” Điều này càng được làm rõ khi trong lịch sử, nhiều khuynh hướng cứu nước đã được vận dụng và thử nghiệm nhưng đều không đem lại kết quả dân tộc khao khát đạt được

Kế thừa tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Leenin vận dụng vào bối cảnh xã hội Việt Nam, Bác nhận thấy: Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là nguồn gốc của

tự do, bình đẳng, bác ái, xóa bỏ những bức tường dài ngăn cản con người đoàn kết, yêu thương nhau Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân loại nói chung, của Việt Nam nói riêng vừa là một tất yếu của lịch sử, vừa đáp ứng được khát vọng của những lực lượng tiến bộ xã hội trong quá trình đấu tranh tự giải phóng dân tộc

2.3 Đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa

Xã hội xã hội chủ nghĩa có bản chất khác hẳn so với các xã hội đã tồn tại trong lịch sử Hồ Chí Minh đã tiếp cận từ những khía cạnh, lĩnh vực khác nhau của xã hội

và chỉ ra nhiều đặc trưng cơ bản:

Thứ nhất, về chính trị: Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội có chế độ dân chủ.

Chế độ dân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa thể hiện trước hết là xã hội do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản trên nền tảng liên minh công-nông Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nhân dân có địa vị cao nhất, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân

Thứ hai, về kinh tế: Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội có nền kinh tế phát triển

cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu Theo Hồ Chủ tịch, chủ nghĩa xã hội là xã hội tiên tiến hơn chủ nghĩa tư bản nên phải có nền kinh tế phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản Nền kinh tế tiên tiến đó dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiên tiến

Thứ ba, về văn hóa, đạo đức và các quan hệ xã hội: Xã hội xã hội chủ nghĩa có

trình độ phát triển cao về văn hóa và đạo đức, bảo đảm sự công bằng, hợp lý trong các quan hệ xã hội Sở dĩ, trình độ văn hóa và đạo đức của xã hội nằm trong biểu hiện của các quan hệ xã hội Xã hội xã hội chủ nghĩa không còn hiện tượng bóc lột, con người được đối xử công bằng, bình đẳng Chủ nghĩa xã hội là tiền đề, cơ sở tiến tới chế độ

xã hội bình đẳng, bác ái, không còn phân biệt chủng tộc, không còn gì ngăn cản những người lao động hiểu nhau và thương yêu nhau

Thứ tư, về chủ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội: Chủ nghĩa xã hội là công trình

tập thể của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nhân dân chính là lực lượng xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như quyết định tốc độ xây dựng và sự vững mạnh của chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên Bác cũng khẳng định: Cần có sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, biết vận dụng

Trang 8

sáng tạo chủ nghĩa Mác – Leenin vào điều kiện cụ thể của nước mình và đưa cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công

3 Mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

3.1 Độc lập dân tộc là cơ sở, tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội

Lịch sử phát triển loài người chứng tỏ, độc lập dân tộc là khát vọng mang tính phổ biến Với dân tộc Việt Nam, đó còn là một giá trị thiêng liêng, được bảo vệ và giữ gìn bởi máu xương, sức lực của biết bao thế hệ người Việt Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao gồm cả nội dung dân tộc và dân chủ; độc lập phải gắn liền với thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và hơn nữa độc lập dân tộc cũng phải gắn liền với tự do, cơm no, áo ấm, hạnh phúc cho nhân dân Vậy nên khi nhấn mạnh mục tiêu độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh không coi đó là mục tiêu cuối cùng của cách mạng, mà là tiền đề cho một cuộc cách mạng tiếp theo – cách mạng xã hội chủ nghĩa

Vì vậy, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân càng sâu sắc, triệt để thì càng tạo ra những tiền đề thuận lợi, sức mạnh to lớn để tiến lên chủ nghĩa xã hội Hơn nữa, cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đã được Bác khẳng định là con đường cách mạng

vô sản, vì vậy bản thân cuộc cách mạng này ngay từ đầu đã mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa Độc lập dân tộc vì vậy không những là tiền đề mà còn là nguồn sức mạnh to lớn cho cách mạng xã hội chủ nghĩa Tư tưởng trên của Người đúng đắn và sáng tạo vì không chỉ đáp ứng được yêu cầu khách quan, cụ thể của cách mạng Việt Nam mà còn phù hợp với quy luật phát triển của thời đại

3.2 Chủ nghĩa xã hội là con đường củng cố vững chắc độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc một cách hoàn toàn triệt để

Để đảm bảo vững chắc độc lập dân tộc, để không rơi vào lệ thuộc, đói nghèo lạc hậu, chặng đường tiếp theo, theo Bác chỉ có thể là đi lên chủ nghĩa xã hội Do những đặc trưng nội tại của mình, chủ nghĩa xã hội sẽ củng cố những thành quả đã giành được trong cách mạng dân tộc dân chủ, tạo điều kiện để bảo đảm cho độc lập và phát triển dân tộc.Tư tưởng độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh mang một nội dung sâu sắc, triệt để: độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc Chủ nghĩa xã hội không chỉ củng cố những giá trị nêu trên, mà còn làm phong phú thêm về mặt nội dung, xác lập các điều kiện để hiện thực hoá các nội dung đó

Chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một xã hội tốt đẹp, xoá bỏ mọi

áp bức, bóc lột; công bằng hợp lý - làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng; bảo đảm phúc lợi cho người già, trẻ mồ côi; một xã hội có nền sản xuất phát triển gắn liền với sự phát triển khoa học - kỹ thuật và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động Đó là một xã hội có kỷ cương, đạo đức, văn minh trong đó người với người là bạn bè, đồng chí, anh em, mọi người được phát triển hết khả năng của mình; hòa bình hữu nghị, làm bạn với các nước

Trang 9

Hơn nữa, chế độ dân chủ cũng sẽ được thể hiện trong tất cả mọi mặt của đời sống xã hội và được thể chế hóa bằng pháp luật, được hoàn thiện, nâng cao trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao dân trí Đây là điều kiện quan trọng nhất để đảm bảo nền độc lập dân tộc, tạo ra nền tảng ý thức xã hội bảo vệ chủ quyền dân tộc, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu thôn tính, đe dọa nền độc lập, tự do của dân tộc Thực hiện xây dựng một xã hội như vậy thì độc lập dân tộc sẽ được củng cố,

sự nghiệp giải phóng dân tộc mới có thể thắng lợi một cách hoàn toàn và triệt để

II Hạnh phúc, tự do – thước đo giá trị của độc lập dân tộc

Đối với chủ tịch Hồ Chí Minh, nền độc lập dân tộc phải gắn với tự do, hạnh phúc cho mọi đồng bào Có thể coi đây là tiêu chí căn cốt, là thước đo giá trị của độc lập dân tộc, tác động trở lại việc củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc Trong điều kiện thuộc địa, Người dẫn dắt chúng ta đấu tranh giành độc lập Còn sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, Bác lại lãnh đạo nhân dân kiến tạo chính thể dân chủ cộng hòa, xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam, để mưu cầu tự

do và hạnh phúc cho nhân dân Ba từ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc phải luôn gắn liền với nhau trong mọi hoàn cảnh, không thể tách rời Trong bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Người nói: “Chúng ta tranh được

tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” Có thể thấy Bác hiểu rất rõ giá trị thật sự của độc lập dân tộc, và liên tục truyền tải những tư tưởng, bài học đó cho cán bộ, chiến sĩ; từ đó đưa ra những chính sách phù hợp cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào

Muốn có hạnh phúc, tự do thì độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xãhội Người nhấn mạnh chỉ trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống, phát huy tính cách và sở trường riêng của mình, có điều kiện phát triển toàn diện Hạnh phúc, tự do theo quan điểm Hồ Chí Minh là người dân phải được hưởng đầy đủ đời sống vật chất và tinh thần do chủ nghĩa xã hội đem lại Đời sống vật chất phải được xây dựng dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Nhân dân từ phấn đấu mục tiêu đủ ăn, đủ mặc tới mục tiêu ăn no, mặc đẹp Đất nước từ một nền kinh tế quốc dân lạc hậu biến thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, giàu mạnh,

vị thế ngang hàng với các quốc gia khác trên thế giới

Tuy vậy, ngoài việc tăng trưởng kinh tế, thu nhập cao, ăn ngon, mặc đẹp, đảm bảo đời sống vật chất thì chủ nghĩa xã hội còn phải gắn với việc không ngừng nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản về mặt giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột đem lại cho con người hạnh phúc, tự do Vì vậy, Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống Con người có hạnh phúc trong chế độ xã hội chủ nghĩa

Trang 10

phải là những con người được giáo dục và có đạo đức Chế độ xã hội chủ nghĩa mang lại hạnh phúc cho con người phải là chế độ đối nghịch với chủ nghĩa cá nhân, với những gì phản văn hóa và đạo đức Bác cho rằng, đời sống văn hóa tinh thần chính là

lẽ sinh tồn và mục đích cuộc sống của chúng ta Trong kháng chiến ác liệt, Bác cũng nhấn mạnh “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”

Quyền sống, quyền tự do, bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc đã được chủ tịch Hồ Chí Minh cụ thể hóa bằng những quyền cơ bản như: mỗi người dân đều “có quyền làm việc, có quyền nghỉ ngơi, có quyền tự do thân thể, có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình, có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo nào, có quyền bầu cử, ứng cử, Công dân đều bình đẳng trước pháp luật Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nhà nước chú trọng đặc biệt việc giáo dục thanh niên về đức dục, trí dục và thể dục”

Nhìn chung, độc lập chính là nền tảng của tự do, hạnh phúc, con người có độc lập, tự do thì mới có hạnh phúc; ngược lại, quyền mưu cầu hạnh phúc gắn chặtvới quyền tự do, độc lập của mỗi người; con người có hạnh phúc, tự do thì mới thấu hiểu giá trị của độc lập mà đấu tranh gìn giữ Hạnh phúc chính là một hành trình tự do phát triển bản thân; được sống và phát triển trong một môi trường đầy đủ, với một tinh thần thoải mái Khi chế độ xã hội chủ nghĩa đủ khả năng tạo lập một môi trường như vậy,

nỗ lực đấu tranh để gìn giữ nền độc lập là cần thiết và xứng đáng

III Làm rõ ý nghĩa luận điểm đối với Việt Nam hiện nay

Sau Cuộc tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, Việt Nam đã thống nhất hai miền Nam – Bắc, nhân dân cả nước chính thức được hưởng không khí hòa bình Thời điểm sau chiến tranh, nước ta khó khăn về mọi mặt: nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, cơ

sở vật chất bị tàn phá, đất đai bỏ hoang, sản xuất đình trệ và mất cân đối, tệ nạn xã hội

và hàng triệu người dân thất nghiệp,… Tuy khó khăn là vậy, mỗi người dân Việt Nam đều hăng hái tiến hành khôi phục, phát triển kinh tế, thực hiện công cuộc đổi mới và

đi lên chủ nghĩa xã hội, mở ra kỷ nguyên mới: “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” Với

sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, nhân dân lại càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị của độc lập; từ đó thấy được trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ, đóng góp công sức vào sự nghiệp chung – xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Hơn 90 năm sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, 75 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập, sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và 35 năm kiên trì thực hiện đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam của năm 2021 vẫn luôn cố gắng tạo dựng một diện mạo mới, một vị thế vững chắc trên

Ngày đăng: 13/05/2022, 14:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w