1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRÌNH BÀY NỘI DUNG CAO TRÀO CÁCH MẠNG 1930-1931. PHÂN TÍCH THÀNH QUẢ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CAO TRÀO ĐÓ

16 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 401,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

0 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN ĐỀ TÀI VAI TRÒ CỦA TÍCH LŨY TƯ BẢN VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM Họ và tên Thành phố Hồ Chí Minh 2020 2021 1 MỤC LỤC MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG I Cơ sở lí luận tích lũy tư bản 3 1 Lí luận về tích lũy tư bả.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC –

LÊNIN

ĐỀ TÀI VAI TRÒ CỦA TÍCH LŨY TƯ BẢN VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT

NAM

Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Quỳnh

- Mã số SV: 2054010201

- Mã nhóm HP 010100510605

Giảng viên hướng dẫn: ThS Trần Thị Sen

Thành phố Hồ Chí Minh 2020 - 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC Trang

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG I Cơ sở lí luận tích lũy tư bản 3

1 Lí luận về tích lũy tư bản

1.1 Bản chất của tích lũy tư bản 3

1.2 Động cơ của tích lũy tư bản 5

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô của tích lũy tư bản

a Trình độ bóc lột sức lao động 6

b trình độ năng suất lao động xã hội 7

c Sự chênh lệch ngày càng tăng của tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng 7

d Quy mô của tư bản ứng trước 8

2 Các quy luật chung của tích lũy tư bản

2.1 Quá trình tích lũy tư bản là quá trình cấu tạo hữu cơ của tích lũy tư bản 8

2.2 Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tích tụ và tập trung tơ bàn 9

2.3 Quá trình tích lũy tư bản là quá trình bần cùng hóa giai cấp vô sản 10

II Vận dụng tích lũy tư bản vào xây dựng nền kinh tế Việt nam hiện nay

1 Vấn đề về tình hình tích lũy vốn ở Việt Nam hiện nay 11

2 Giải pháp cho vấn đề tích lũy tư bản trong xây dựng kinh tế ở Việt Nam 13

KẾT LUẬN 14

Danh mục tài liệu tham khảo 15

Trang 3

MỞ ĐẦU

Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng để phát triển kinh tế, ngoài việc lựa chọn đường lối phát triển còn phải có các yếu tố vật chất để thực hiện được đường lối đó Đối với các nước đã phát triển mạnh mẽ như Mỹ, Anh, Pháp, chúng

ta đều thấy rằng, họ có một tiềm lực kinh tế (đặc biệt là tiềm lực về vốn) rất mạnh Còn đối với những nước đang phát triển như nước ta, với điểm khởi đầu rất thấp, nguồn vốn

tự có rất ít, mà một trong những đặc trưng của các nước đang phát triển là tỷ lệ tích luỹ thấp, chỉ dưới 10% thu nhập, mà tích luỹ thấp sẽ dẫn đến trình độ kĩ thuật và năng suất lao động thấp Do đó đòi hỏi các nước đang phát triển phải tìm biện pháp để phá vỡ vòng luẩn quẩn này Muốn vậy, phải lựa chọn mô hình phát triển kinh tế phù hợp Song, trong các mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại, các nhà kinh tế đặc biệt nhấn mạnh vai trò của vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế Samuelson cho rằng, một trong những đặc trưng quan trọng của kinh tế hiện đại là "Kĩ thuật công nghiệp tiên tiến, hiện đại dựa vào việc

sử dụng vốn lớn" Do đó, vốn là cơ sở để phát huy tác dụng của các yếu tố khác Vốn là

cơ sở để tạo ra việc làm, để có công nghệ tiên tiến, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của cả nền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất theo chiều sâu và cuối cùng, cơ cấu sử dụng vốn sẽ là điều quan trọng tác động vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước Với Việt Nam, các chuyên gia kinh tế đều có nhận xét chung là: chúng ta đã có bước khởi đầu tốt đẹp trong giai đoạn phát triển mới Nhưng để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và liên tục trong thời gian tới còn nhiều khó khăn Mà một trong những khó khăn đó là thiếu vốn Trên đây chúng ta đã thấy vốn quan trọng như thế nào đối với việc phát triển kinh tế Vì vậy, điều chúng ta cần giải quyết là làm sao để tăng nguồn vốn của mình bằng cách tích luỹ, huy động vốn từ trong và ngoài nước Song trong những cách để có được nguồn vốn, thì tích luỹ và huy động vốn từ trong nước là quan trọng nhất Và có như thế chúng ta mới không bị phụ thuộc vào bên ngoài, vì sự phát triển từ nội lực bao giờ cũng là sự phát triển bền vững nhất Nhận thức được vai trò

của việc tích luỹ vốn mà em lựa chọn làm đề tài “Vai trò của tích lũy tư bản và sự vận

Trang 4

dụng trong phát triển kinh tế ở Việt Nam” Trong bài viết em sẽ trình bày những lý luận

chung về tích luỹ tư bản và ứng dụng những lý luận đó vào thực tiễn Việt Nam

NỘI DUNG

I Cơ sở lí luận tích lũy tư bản

1 Những vấn đề chung về tích lũy tư bản

1 Lí luận về tích lũy tư bản

1.1 Bản chất của tích lũy tư bản

Chủ nghĩa tư bản đã trải qua hai hình thức tích lũy: tích lũy nguyên thủy và tích lũy

tư bản chủ nghĩa Nếu như tích lũy nguyên thủy tách người nông dân ra khỏi ruộng đất của họ, tước đoạt tư liệu sản xuất chủ yếu của họ là đất đai hoặc thông qua con đường xâm chiếm thuộc địa, cướp bóc…thì tích lũy tư bản chủ nghĩa là một hình thái mới với bước phát triển cao hơn về chất lượng so với tích lũy nguyên thủy

Muốn tái sản xuất mở rộng, nhà tư bản không thể sử dụng hết giá trị thặng dư cho tiêu dùng cá nhân, mà phải dùng một phần giá trị thặng dư để tăng quy mô đầu tư so với năm trước Chính phần giá trị thặng dư đó được gọi là tư bản phụ thêm Xét một cách cụ thể, tích luỹ tư bản nhằm tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng

Sở dĩ giá trị thặng dư có thể chuyển hoá thành tư bản được là vì tư bản thặng dư đã mang sẵn những yếu tố vật chất của một tư bản mới Tích luỹ tư bản là biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm (tư bản mới) để mở rộng sản xuất

Muốn mở rộng sản xuất tư bản không thể tiêu dùng hết giá trị thặng dư mà chia thành

2 phần: một phần tích luỹ để mở rộng sản xuất, một phần để tiêu dùng cá nhân và gia đình nhà tư bản Tích luỹ tư bản là tất yếu khách quan do quy luật kinh tế cơ bản, quy luật giá trị và cạnh tranh của phương thức sản xuất TBCN quy định Trong quá trình sản xuất, lãi cứ đập vào vốn, vốn càng lớn thì lãi càng lớn, do đó lao động của công nhân trong quá khứ lại trở thành phương tiện mạnh mẽ để bóc lột chính người công nhân Quá trình tích luỹ đã làm cho quyền sở hữu trong nền sản xuất hàng hoá biến thành quyền chiếm đoạt TBCN Khác với nền sản xuất hàng hoá giản đơn, trong nền

Trang 5

sản xuất TBCN sự trao đổi giữa người lao động và nhà tư bản dẫn đến kết quả là nhà tư bản chẳng những chiếm không một phần lao động của công nhân mà còn là người sở hữu hợp pháp lao động không công đó Sự thay đổi căn bản trong quan hệ sở hữu hoàn toàn không vi phạm quy luật giá trị Động cơ thúc đẩy tích luỹ và tái sản xuất mở rộng TBCN là một quy luật kinh tế cơ bản của CNTB

Mục đích của nền sản xuất TBCN là sự lớn lên không ngừng của giá trị Để thực hiện mục đích đó, các nhà tư bản không ngừng tích luỹ và tái sản xuất mở rộng, xem đó là phương tiện căn bản để tăng cường bóc lột công nhân Mặt khác, do tính cạnh tranh quyết liệt, nên các nhà tư bản buộc phải không ngừng làm cho tư bản của mình tăng lên Điều đó chỉ có thể thực hiện bằng cách tăng nhanh tư bản tích luỹ Nói như vậy, hình như có sự mâu thuẫn giữa phần tiêu dùng của nhà tư bản và phần tích luỹ

Thực ra trong buổi đầu của sản xuất TBCN, sự ham muốn làm giàu của các nhà tư bản thường chi phối tuyệt đối nhưng đến một trình độ phát triển nhất định, sự tiêu dùng

xa phí của các nhà tư bản ngày càng tăng lên theo sự tích luỹ tư bản

Nhưng điều kiện của sản xuất đồng thời cũng là những điều kiện của tái sản xuất Không một xã hội nào có thể sản xuất không ngừng tức là tái sản xuất, mà lại không liên tục chuyển hoá lại một phần sản phẩm nhất định của nó thành tư liệu sản xuất hay thành những yếu tố của quá trình sản xuất mới Nếu sản xuất mang hình thái TBCN thì tái sản xuất cũng mang hình thái đó Qúa trình lao động trong phương thức sản xuất TBCN chỉ là một phương tiện cho quá trình tăng thêm giá trị thì tái sản xuất cũng vậy, nó cũng chỉ là một phương tiện để tái sản xuất ra giá trị ứng trước với tư cách là tư bản, tức là với cách là giá trị tự tăng thêm giá trị Một người nào đó sở dĩ mang cái mặt lạ kinh tế đặc trưng của nhà tư bản thì đó chỉ là vì tiền của anh ta không ngừng hoạt động với tư cách là tư bản Và giá trị thặng dư anh ta thu được mang hình thức một thu nhập

do tư bản đẻ ra Nếu như thu nhập đó chỉ được dùng làm quỹ tiêu dùng cho nhà tư bản, hay nếu như nó cũng được tiêu dùng theo từng chu kì giống như người ta đã kiếm được nó thì trong những điều kiện khác không thay đổi, sẽ chỉ diễn ra có tái sản xuất giản đơn thôi Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại không ngừng với qui mô

Trang 6

năm sau lớn hơn năm trước Muốn tái sản xuất mở rộng nhà tư bản phải mua thêm tư liệu sản xuất, thuê thêm công nhân, do đó giá trị thặng dư tích luỹ được phải chia làm hai phần: Một phần để thuê thêm công nhân, một phần để mua thêm tư liệu sản xuất Thực chất của tích luỹ tư bản là tư bản hoá giá trị thặng dư Xét một cách cụ thể, tích luỹ tư bản là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng Ở đây chúng ta không xét giá trị thặng dư và tương ứng với nó là sản phẩm thặng dư chỉ với một cách

là quỹ tiêu dùng cá nhân của nhà tư bản, mà chúng ta xét nó với tư cách là quỹ tích luỹ Thật ra, giá trị thặng dư không phải chỉ là quỹ tiêu dùng và cũng không phải chỉ là quỹ tích luỹ, mà là cả hai Một phần giá trị thặng dư được nhà tư bản tiêu dùng với tư cách

là thu nhập, còn phần khác thì được nhà tư bản dùng làm tư bản hay được tích luỹ lại Muốn tích luỹ, cần phải biến một phần sản phẩm thặng dư thành tư bản Nhưng nếu không phải là có phép lạ thì người ta chỉ có thể biến thành tư bản những vật nào dùng được vào quá trình lao động, tức là những tư liệu sản xuất, và sau đó là những vật phẩm có thể nuôi sống công nhân, tức là những tư liệu sinh hoạt Do đó, một phần lao động thặng dư hàng năm phải dùng để sản xuất thêm một số tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt ngoài số cần thiết để hoàn lại tư bản đã ứng ra Nói tóm lại sở dĩ giá trị thặng

dư có thể biến thành tư bản là chỉ vì sản phẩm thặng dư - mà giá trị của nó là giá trị thặng dư - đã bao gồm các yếu tố vật thể của một tư bản mới rồi

1.2 Động cơ của tích luỹ tư bản

Tích luỹ tư bản là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản: Với một khối lượng

giá trị thặng dư nhất định, một trong hai phần (tích luỹ, tiêu dùng ) đó càng lớn thì phần kia càng nhỏ Nếu những điều kiện khác không thay đổi thì tỉ lệ phân chia đó quyết định đại lượng tích luỹ Nhưng kẻ thực hiện sự phân chia đó là người sở hữu giá trị thặng dư, tức là nhà tư bản Như vậy, nó là một hành vi phụ thuộc vào ý chí của nhà

tư bản Về cái phần của món cống vật đó do nhà tư bản thu được và được đem tích tuỹ, thì người ta nói rằng nhà tư bản đã tiết kiệm phần đó, bởi vì anh ta không ăn tiêu nó đi, nghĩa là anh ta làm cái chức năng của anh ta là nhà tư bản, cụ thể là chức năng làm giàu

Trang 7

Chỉ chừng nào nhà tư bản là tư bản nhân cách hoá, thì nhà tư bản mới có một giá trị lịch sử và mới có cái quyền lịch sử được tồn tại và chỉ trong chừng mực ấy, tính tất yếu nhất thời của bản thân hắn mới được bao hàm trong tính yếu nhất thời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Nhưng trong chừng mực ấy thì động cơ của nhà tư bản không phải là giá trị sử dụng và hưởng thụ mà là giá trị trao đổi và việc làm tăng thêm giá trị trao đổi Là một kẻ cuồng tín việc làm tăng thêm giá trị, nhà tư bản thẳng tay cưỡng bức người sản xuất để sản xuất, do đó hắn cưỡng bức họ phải phát triển những lực lượng sản xuất xã hội và tạo ra những điều kiện sản xuất vật chất, mà chỉ một mình những điều kiện này mới có thể hình thành cái cơ sở hiện thực của một hình thái xã hội cao hơn, một hình thái xã hội mà nguyên tắc cơ bản là mọi cá nhân đều được phát triển đầy đủ và tự do Nhà tư bản chỉ đáng kính trọng chừng nào hắn còn là sự hiện thân của

tư bản Với tư cách này, hắn chia sẻ sự say mê tuyệt đối muốn làm giàu với kẻ tích luỹ của cải Những cái mà đối với người này chỉ là một thói cá nhân, thì đối với nhà tư bản nó lại là tác động của một bộ máy xã hội, trong đó nhà tư bản chỉ là một chiếc bánh xe Ngoài ra, sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa làm cho sự tăng thêm không ngừng cuả một số tư bản bỏ vào một xí nghiệp, công nghiệp trở thành một sự tất yếu,

và cạnh tranh làm cho những quy luật bên trong của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành những quy luật bên ngoài có tính chất cưỡng chế đối với mỗi nhà tư bản cá biệt Cạnh tranh buộc nhà tư bản không ngừng mở rộng tư bản để giữ được tư bản, và hắn chỉ có thể mở rộng tư bản cuả mình bằng cách tích luỹ ngày càng nhiều hơn mà thôi

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới qui mô của tích luỹ tư bản

Với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, thì quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào tỷ

lệ phân chia giữa tích lũy và tiêu dùng Nếu tỷ lệ đã được xác định thì sẽ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư Có 4 nhân tố ảnh hưởng đến khối lượng giá trị thặng dư:

a.Trình độ bóc lột sức lao động

Nâng cao mức độ bóc lột sức lao động bằng cách cắt xén vào tiền công Khi nghiên cứu sự sản xuất ra giá trị thặng dư C.Mác giả định rằng sự trao đổi giữa công nhân và

Trang 8

nhà tư bản là sự trao đổi ngang giá Nhưng trong thực tế, công nhân bị nhà tư sản chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, bị cắt xén một phần tiền công Việc cắt xén tiền công giữ vai trò quan trọng trong quá trình tích luỹ tư bản Nâng cao mức độ bóc lột bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động Việc tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động rõ ràng làm tăng thêm giá trị thặng dư, do đó làm tăng bộ phận giá trị thặng dư được tư bản hoá tức là làm tăng tích luỹ Ảnh hưởng này còn thể hiện ở chỗ số lượng lao động tăng thêm mà nhà tư bản chiếm không do tăng cường độ lao động

và kéo dài ngày lao động không đòi hỏi phải tăng thêm tư bản một cách tương ứng (không đòi hỏi phải tăng thêm số lượng công nhân, máy móc thiết bị, mà hầu như chỉ cần tăng thêm sự hao phí nguyên liệu)

b.Trình độ năng suất lao động xã hội

Việc nâng cao năng suất lao động làm tăng thêm giá trị thặng dư, do đó tăng thêm bộ phận giá trị thặng dư được tư bản hóa Song vấn đề ở đây là tích luỹ không chỉ được quyết định bởi khối lượng giá trị thặng dư mà còn bởi khối lượng tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng do khối lượng giá trị thặng dư có thể chuyển hoá thành Như vậy năng suất lao động tăng sẽ làm tăng thêm những yếu tố vật chất của tư bản, do đó tăng quy

mô của tích luỹ Năng suất lao động cao thì lao động sống sử dụng được nhiều lao động quá khứ hơn, lao động quá khứ đó lại tái hiện dưới hình thái có ích mới, làm chức năng

tư bản để sản xuất ra tư bản càng nhiều, do đó mà quy mô của tư bản tích luỹ càng lớn Như vậy năng suất lao động là nhân tố quan trọng quyết định đến quy mô của tích luỹ

c Sự chênh lệch ngày càng tăng của tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng

Trong quá trình sản xuất, tất cả các bộ phận cấu thành của máy móc đều hoạt động, tức

là máy móc tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng chúng chỉ hao mòn dần, do đó giá trị của chúng được chuyển dần từng phần vào sản phẩm, vì vậy có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Mặc dù đã mất dần giá trị như vậy, nhưng trong suốt thời gian hoạt động máy móc vẫn có tác dụng khi còn đủ giá trị Nếu không kể đến phần giá trị của máy móc chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian, thì máy móc phục

vụ không công đó chẳng khác gì lực lượng tự nhiên

Trang 9

Lực lượng sản xuất xã hội càng phát triển, máy móc càng hiện đại, phần giá trị của nó chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian càng ít, thì sự chênh lệch giữa tư bản cố định

sử dụng và tư bản cố định tiêu dùng càng lớn Do đó, tư bản lợi dụng được những thành tựu của lao động quá khứ càng nhiều

d.Quy mô của tư bản ứng trước:

Với mức bóc lột không đổi, thì khối lượng giá trị thặng dư do số lượng công nhân bị bóc lột quyết định Do đó quy mô của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản khả biến càng lớn, thì giá trị thặng dư bóc lột được và quy mô tích luỹ cũng càng lớn Đối với sự tích luỹ của cả xã hội thì quy mô của tư bản ứng trước chỉ là nhỏ nhưng rất quan trọng C.Mác đã nói rằng: “Tư bản ứng trước chỉ là một giọt nước trong dòng sông của sự tích luỹ mà thôi”

Tích luỹ dưới chế độ TBCN làm cho của cải của xã hội ngày càng tập trung vào tay giai cấp tư sản, người công nhân càng bị bóc lột nặng nề, càng tăng thêm thất nghiệp và nghèo đói, làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản ngày thêm sâu sắc hơn Mặt khác tiêu dùng của người lao động bị hạn chế trong một phạm vi rất nhỏ hẹp Một phần lớn thu nhập quốc dân của xã hội TBCN là dùng vào việc tiêu dùng không sản xuất và tiêu dùng ăn bám của chúng Phần thu nhập quốc dân dùng vào tích luỹ do đó tương đối ít so với khả năng và đòi hỏi của sự phát triển khách quan của xã hội Sự chênh lệch đó dẫn đến khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa có điều kiện phát sinh, phá hoại nặng nề và thường xuyên nền sản xuất của xã hộiTBCN Tuy nhiên thành quả kinh tế mà xã hội tư bản đạt được lại vô cùng to lớn và có ý nghĩa lịch sử quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người

2 Các quy luật chung của tích lũy tư bản

2.1 Quá trình tích lũy tư bản là quá trình cấu tạo hữu cơ của tích lũy tư bản

Sản xuất bao giờ cũng là sự kết hợp giữa hai yếu tố: tư liệu sản xuất và sức lao động

Sự kết hợp của chúng dưới hình thái hiện vật gọi là cấu tạo kỹ thuật Cấu tạo kỹ thuật của tư bản là tỷ lệ giữa số lượng tư liệu lao động và khối lượng tư bản cần thiết để sử dụng các tư liệu đó Cấu tạo kỹ thuật là cấu tạo hiện vật, nên nó biểu hiện dưới các hình

Trang 10

thức: số lượng máy móc, nguyên liệu, năng lượng do công nhân sử dụng trong một thời gian nào đó

Cấu tạo kỹ thuật phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Cấu tạo giá trị của

tư bản là tỷ lệ theo đó tư bản phân thành tư bản bất biến (hay giá trị của tư liệu sản xuất)

và tư bản khả biến (hay giá trị của sức lao động) cần thiết để tiến hành sản xuất Cấu tạo

kỹ thuật thay đổi sẽ làm cấu tạo giá trị thay đổi C.Mác đã dùng phạm trù cấu tạo hữu cơ của tư bản để phản ánh mối quan hệ đó Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị tư bản, do cấu tạo kỹ thuật quyết định và phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, do tác động thường xuyên của tiến bộ khoa học, cấu tạo hữu cơ của tư bản cũng không ngừng biến đổi theo hướng ngày càng tăng lên Sự tăng lên đó biển hiện ở chỗ: bộ phận tư bản bất biến tăng nhanh hơn bộ phận tư bản khả biến, tư bản bất biến tăng tương đối và tăng tuyệt đối, còn tư bản khả biến có thể tăng tuyệt đối nhưng lại giảm xuống tương đối

Sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bản làm cho khối lượng tư liệu sản xuất tăng lên, trong đó sự tăng lên của máy móc thiết bị là điều kiện để tăng năng suất lao động, còn nguyên liệu tăng theo năng suất lao động Nó đòi hỏi việc sử dụng lao động mới được đào tạo với giá trị sức lao động cao nhưng năng suất lao động tăng cao lại làm cho hàng hóa kỹ thuật hiện đại giảm xuống Xu hướng chung là tỷ trọng người lao động có trình

độ cao, lao động trí tuệ ngày càng tăng lên, gây nên những hậu quả xã hội tiêu cực đối với toàn bộ đội ngũ người lao động làm thuê

2.2 Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tích tụ và tập trung tư bản

Tích tụ và tập trung tư bản là quy luật phát triển của nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa Tích tụ tư bản và việc tăng quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tích lũy của từng nhà tư bản riêng rẽ, nó là kết quả tất nhiên của tích lũy

Tích tụ tư bản một mặt là yêu cầu của việc mở rộng sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, mặt khác sự tăng lên của khối lượng giá trị thặng dư trong quá trình phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa lại tạo khả năng cho tích tụ tư bản Tập trung tư bản là sự hợp nhất một số tư bản nhỏ thành một tư bản lớn cá biệt Đây là sự tích tụ những tư bản đã

Ngày đăng: 13/05/2022, 00:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w