1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

PHÂN TÍCH SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ SỰ PHÙ HỢP GIỮA YẾU TỐ THỂ CHẾ VỚI YẾU TỐ VĂN HÓA BẢN ĐỊA TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH DÂN CHỦ PHÙ HỢP ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA VÀ CĂN TÍNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

10 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 255,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Chủ đề PHÂN TÍCH SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ SỰ PHÙ HỢP GIỮA YẾU TỐ THỂ CHẾ VỚI YẾU TỐ VĂN HÓA BẢN ĐỊA TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH DÂN CHỦ PHÙ HỢP ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA VÀ CĂN TÍNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM BÀI LÀM Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng Đồng thời, căn cứ vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng xác định cho mình.

Trang 1

Chủ đề:

PHÂN TÍCH SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ SỰ PHÙ HỢP GIỮA YẾU TỐ THỂ CHẾ VỚI YẾU TỐ VĂN HÓA BẢN ĐỊA TRONG LỊCH SỬ

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ LIÊN HỆ VỚI VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH DÂN CHỦ PHÙ HỢP ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA VÀ CĂN TÍNH CỦA

DÂN TỘC VIỆT NAM

BÀI LÀM

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng Đồng thời, căn

cứ vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng xác định cho mình những quan điểm cơ bản chỉ đạo hành động và lãnh đạo quần chúng, xây dựng nên một hệ thống quan điểm tư tưởng, lý luận là những chủ trương, đường lối, chính sách

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đối với Đảng ta hiện nay cần có sự nhận thức đúng đắn về sự phát triển nhận thức về sự phù hợp của yếu tố thể chế với yếu tố văn hóa bản địa Vận dụng với mô hình dân chủ phù hợp đặc điểm văn hóa và căn tính của dân tộc Việt Nam nhằm thích nghi tốt hơn trong quá trình hội nhập quốc tế

1 Khái niệm về chính trị học, nội dung nghiên cứu trong chính trị học trên thế giới và Việt Nam

1.1 Khái niệm chính trị

Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như các dân tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực Nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước và xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích

1.2 Khái niệm chính trị học

Chính trị học là khoa học nghiên cứu đời sống chính trị của xã hội với tư cách

là một chỉnh thể nhằm làm sáng tỏ những quy luật và tính quy luật chung nhất của chính trị; nghiên cứu cơ chế tác động và những phương thức, thủ thuật chính trị để hiện thực hoá tính qui luật và những quy luật đó trong xã hội được tổ chức thành nhà nước

Trang 2

Chính trị học nghiên cứu nhiều vấn đề khác nhau của đời sống chính trị như:

lý thuyết chính trị, các sự kiện chính trị, hành vi chính trị, quá trình chính trị cho đến các thể chế chính trị,

1.3 Các nội dung nghiên cứu chính của chính trị học trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay

1.3.1 Các nội dung nghiên cứu trong chính trị học trên thế giới

Nếu lấy đổi tượng chính trong nghiên cứu làm tiêu chí, người ta thường phân

ra các nội dung nghiên cứu cơ bản như:

Về chính trị quốc gia: Phần này tập trung nghiên cứu đặc trưng mô hình chính trị của quốc gia của chính cơ sở đào tạo, bao gồm: Các triết lý chính trị của quốc

gia (nền chính trị của quốc gia đó được xây dựng dựa trên cơ sở của tư tưởng chính trị nào, tại sao lại như vậy); văn hóa chính trị của quốc gia (gồm các yếu tố tạo nên văn hóa chính trị của quốc gia đó, các đặc trưng vãn hóa chính trị của quốc gia, văn hóa chính trị của các nhóm khác nhau trong xã hội, lý giải các hiện tượng chính trị từ góc độ văn hóa chính trị, ); hệ thống chính trị quốc gia (gồm hệ thống tổ chức và hoạt động của các đảng phái, tổ chức và hoạt động cùa chính phủ, các nhóm lợi ích, vai trò của các tồ chức truyền thông trong đời sống chính trị và các chủ thố quyền lực khác), chính sách quốc gia và vai trò của các chủ thể

quyền lực trong quá trình đó; hệ thống bầu cừ, đặc biệt là bầu các chức danh quyền lực quan trọng như bầu cử tổng thống, bầu cử quốc hội,

Với các nội dung trên, việc lựa chọn giới thiệu các nội dung ở mỗi cơ sở đào tạo cũng có sự khác biệt Chẳng hạn, tại Đại học Columbia (Mỹ), việc nghiên cứu

và giảng dạy Chính trị học quốc gia nhằm vào các nội dung chính như: Cấu trúc và hoạt động của chính phủ, hành vi chính trị, thể chế lựa chọn duy lý, lịch sử chủ nghĩa thế chế, chính trị Mỹ và Mỹ Latinh Trong khi đó, ở Anh, học phần này sẽ tập trung nghiên cứu và giảng dạy về Chính trị học và Chính phủ Anh, Chính trị học châu Âu,

Về chính trị so sánh: Chính trị học so sánh lấy sự so sánh các hệ thống chính trị làm đối tượng nghiên cứu cơ bản nhằm rút ra các kết luận, các mối liên hệ có tính nhân - quả Tuy nhiên, việc lựa chọn các trường hợp, các nước để so sánh không thể tùy tiện Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, tùy thuộc vào giả thuyết khoa học mà có sự lựa chọn phù hợp với mục tiêu Chính trị học so sánh thường lựa chọn một số hệ thống chính trị điển hình để kiểm soát các yếu tố, rút ra các kết luận về mối quan hệ mang tính nhân - quả thông qua việc so sánh các yếu tố mà

Trang 3

chúng ta thường gọi là “các giá trị chung, phổ quát” của các hệ thống chính trị trên thế giới

Hiện nay, trào lưu nổi bật của chính trị học so sánh ở phương Tây được biết

đến dưới tên gọi là Chủ nghĩa thể chế mới (Neo - institutionalism) Về thực chất,

đây là sự phát triển lên tầm cao hơn của cách tiếp cận thể chế truyền thống bằng cách kết hợp với phát triển luận hiện đại Theo đó, bên cạnh việc tập trung vào thành tố quan trọng nhất của hệ thống chính trị là nhà nước và các thành tố cơ bản khác, những nội dung nghiên cứu đã có sự chuyển dịch về trọng tâm và phương

pháp như: Nhấn mạnh vào hành vi chính trị (đặc biệt là bầu cử); nghiên cứu những

thay đổi trong tính chất của các đảng chính trị; vai trò của lãnh đạo chính trị với quá trình chính trị, chẳng hạn như đối với vấn đề dân chủ hóa; vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế; mối liên hệ giữa thể chế chính trị dân chủ với tăng trưởng, phát triển; văn hóa chính trị với việc hình thành các nền dân chủ,

Chính trị học so sánh đặt trọng tâm là nghiên cứu các nền chính trị khác nhau

(ở các quốc gia khác nhau, cũng như trong cùng một quốc gia, nhưng ở các thời kỳ khác nhau) và có thể theo nhiều cách tiếp cận khác nhau như trên đã chỉ ra

Về chính trị quốc tế: Tùy thuộc vào từng cơ sở nghiên cứu và đào tạo trên thế

giới, chính trị quốc tế (quan hệ quốc tế) có thể được coi là một phần nội dung quan

trọng của Chính trị học, hoặc có thể là một khoa học có tính độc lập hơn mang tính liên ngành Nó nghiên cứu vấn đề ngoại giao giữa các nước, các vấn đề toàn cầu và cách thức giải quyết chúng thông qua các hệ thống quốc tế Các chủ thể tham gia vào quá trình này gồm các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên chính phủ (IGO), các tổ chức phi chính phủ (NGO), các công ty xuyên quốc gia (TNC)

Dù được cho là ra đời từ khá sớm, nhưng phải đến đầu thế kỷ XX, Chính trị

quốc tế mới trở thành một ngành khoa học nằm trong Chính trị học và ngày nay,

nó ngày càng trở thành một ngành học mang tính liên ngành Nội dung nghiên cứu của nó có thể bao gồm các lĩnh vực như khoa học công nghệ, kinh tế học, nghiên cứu về truyền thông, luật quốc tế, dân số, triết học, địa lý, văn hóa, ngoại giao,

1.3.2 Các nội dung nghiên cứu của chính trị học ở Việt Nam

Chính trị học với tư cách là một bộ môn khoa học có đối tượng, phương pháp nghiên cứu riêng và tương đối độc lập với các môn khoa học xã hội khác, được hình thành ở Việt Nam vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX

Trước những thay đổi của tình hình thực tiễn chính trị trong nước và thế giới, một số câu hỏi được đặt ra như: Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt

Trang 4

Nam sẽ diễn ra như thế nào? Việc đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam nên diễn ra theo cách thức nào? Trong điều kiện một đảng cầm quyền thì phương thức lãnh đạo của Đảng nên được đổi mới như thế nào? Những vấn đề lý luận chính trị đó được đặt ra cấp thiết và đòi hỏi phải có lời giải đáp Từ thực tiễn đó, nãm 1992, Viện Khoa học Chính trị, nay là Viện Chính trị học thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã ra đời để góp phần hoàn thành nhiệm vụ quan trọng đó

Ngành Chính trị học ở Việt Nam đã có những bước tiến khá tích cực Nội dung của môn học được nghiên cứu và được đưa vào giảng dạy ở nhiều chương trình khác nhau Chính trị học Việt Nam tập trung nghiên cứu các vấn đề cùa hệ thống chính trị Việt Nam, nghiên cứu cấu trúc và chức năng của từng thành tố trong hệ thống chính trị, nghiên cứu sự tưomg tác giữa các thành tố với tư cách là một hệ thống

Chính trị học ứng dụng tập trung vào các nội dung như: Xung đột và xử lý điểm nóng chính t rị-xã hội, kinh nghiệm xử lý tình huống chính trị, tham nhũng

và phòng, chống tham nhũng

Từ cấu trúc nội dung trên, trong phạm vi chưomg trình cao cấp lý luận chính trị, một số vấn đề cơ bản của Chính trị học được lựa chọn giới thiệu như:

- Khái luận chung về chính trị học

- Quyền lực chính trị trong xã hội hiện đại

- Văn hóa chính trị

- Các mô hình hệ thống chính trị

- Nhà chính trị tiêu biểu

- Kinh nghiệm xử lý tình huống chính trị

- An ninh chính trị trong bối cảnh thế giới biến đổi

2 Sự phát triển nhận thức về sự phù hợp giữa yếu tố thể chế với yếu tố văn hóa bản địa trong lịch sử tư tưởng chính trị

Trên bình diện lý thuyết cũng như thực tế cho thấy, không có mô hình thể chế chính trị nào là lý tưởng cho mọi quốc gia Nói cách khác, không một lý thuyết chính trị nào được áp dụng mà không có sự thay đổi cho phù hợp với điều kiện lịch

sử cụ thể, đặc biệt là sự phù hợp với yếu tố văn hóa, truyền thống của từng dân tộc Điều này hoàn toàn hợp lý, bởi mọi lý thuyết chỉ có thể có ích khi chúng thoát khỏi

Trang 5

các chi tiết có tính đặc thù của hoàn cảnh cụ thể, tập trung vào các quan hệ chung nhất, bản chất nhất, ổn định và khó thay đổi nhất

Khi bàn về mối quan hệ giữa con người và thể chế, Aristotle cho rằng, chính con người tạo nên chính quyền và những đặc trưng của chính quyền bị quy định bởi con người Mỗi mẫu người trong xã hội mang trong mình những tính cách riêng và mỗi loại tính cách là cơ sở để hình thành nên loại chính thể tương ứng Những đặc tính của chính thể ấy lại giúp hình thành nên các mẫu người khác nhau trong xã hội Một sự tương tác qua lại tạo nên các chính thể khác nhau

Plato cũng khẳng định, chính thể được tạo ra từ con người, mà con người không phải lúc nào cũng hoàn hảo Mặc dù người cầm quyền trong chính thể lý tưởng được đào tạo cẩn thận, theo những cách thức khôn ngoan, nhưng về lâu dài

họ có thể không hoàn hảo

Từ đây có thể thấy, các chính thể không phải là bất biến mà nó thay đổi theo bản chất của con người, đặc biệt là lực lượng cầm quyền và tương quan giữa các giai cấp khác nhau trong xã hội

Ngoài yếu tố con người, các yếu tố về tự nhiên và xã hội cũng tác động đến

sự hình thành, phát triển của các thể chế chính trị Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, khi bàn về sự phù hợp giữa yếu tố thể chế chính trị với các yếu tố như địa lý, dân cư, trình độ phát triển kinh tế,… Montesquieu cho rằng, yếu tố khí hậu cũng ảnh hưởng đến thể chế chính trị của mỗi quốc gia Với những nước có khí hậu ôn hòa thì thể chế chính trị thường là dân chủ, còn với những nước có khí hậu nhiệt đới thì thể chế chính trị thường mang tính độc tài Xét về yếu tố dân cư, những quốc gia có lãnh thổ nhỏ, dân số ít hoặc vừa phải thì nên tổ chức theo mô hình dân chủ, còn với những nước có lãnh thổ rộng lớn, dân số đông thì mô hình độc tài sẽ hiệu quả hơn

Thực tế cho thấy, nếu không tính đến các yếu tố hoàn cảnh và văn hóa bản địa, các lý thuyết chính trị phương Tây sẽ khó có chỗ đứng trong đời sống chính trị

ở các nước phương Đông Nền chính trị ở các quốc gia Đông Á là một ví dụ khá

điển hình (trường hợp Nhật Bản, Singapore, Malaysia,…) Khi người Mỹ thay mặt

cho lực lượng Đồng minh tiếp quản Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một trong những nhiệm vụ mà người Mỹ phải làm là thiết kế một mô hình chính trị dân chủ cho quốc gia này Tuy nhiên, người Mỹ đã không dùng mô hình hệ thống chính trị của mình để áp dụng cho Nhật Bản mà thiết kế một hệ thống chính trị

Trang 6

khác phù hợp với nước này, trong đó vẫn tiếp tục duy trì địa vị của vua trong mô hình quân chủ đại nghị

Khi tiếp nhận lý thuyết mácxít – một lý thuyết vốn có từ phương Tây, Hồ Chí Minh đã nhận thấy, lý thuyết này chỉ có thể có ích đối với Việt Nam nếu nó được

bổ sung thêm yếu tố văn hóa, yếu tố “dân tộc học” của Việt Nam

Quan sát thực tế các nền chính trị thế giới đương đại cũng cho thấy, cho dù các quốc gia có thể áp dụng các lý thuyết chính trị giống nhau, nhưng vận dụng vào từng quốc gia lại có sự khác biệt Trong các mô hình chính phủ trên thế giới,

mô hình đại nghị vẫn chiếm đa số, sau đó là mô hình bán tổng thống và mô hình tổng thống Mô hình đại nghị được vận dụng phổ biến ở châu Âu, trong khi mô hình bán tổng thống lại được nhiều nước ở châu Phi và Mỹ lating áp dụng Mỗi

mô hình có những ưu điểm và hạn chế riêng, nhưng việc vận dụng mô hình nào cũng phải tính đến điều kiện, văn hóa của mỗi nước Nếu áp dụng một cách máy móc, rập khuôn mô hình thể chế của nước ngoài mà xem nhẹ yếu tố văn hóa đặc thù của quốc gia thì nền chính trị sẽ khó ổn định, thậm chí sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường

Những năm cuối thế kỷ XX, thế giới đã từng chứng kiến cuộc đại tranh luận giữa Mahathir Mohammad – Thủ tướng Malaysia và Lý Quang Diệu – Thủ tướng Singapore với các học giả phương Tây về các mô hình dân chủ Cả hai đều ủng hộ các giá trị châu Á, mặc dù cách giải thích của họ về các giá trị này thường gây nhiều tranh luận Theo quan điểm của họ, các nước Đông Á cần xây dựng một mô hình dân chủ phù hợp với văn hóa của riêng mình Cái quan trọng đối với các nước này là sự ổn định để phát triển, chứ không phải là các quyền tự do, dân chủ kiểu phương Tây

3 Liên hệ việc xây dựng mô hình dân chủ phù hợp với đặc điểm văn hóa

và căn tính của dân tộc Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói: Đảng ta “phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” Tiếp thu và phát triển tư tưởng đó của Người, lúc sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh khẳng định dứt khoát: “Đảng ta là Đảng của dân, do dân, dựa vào dân và vì dân” Đảng sinh ra trong lòng dân tộc; lãnh đạo nhân dân và dân tộc, được nhân dân và dân tộc nuôi dưỡng, đùm bọc, che chở Đảng, nhân dân và dân tộc đã thật sự kết thành một khối vững chắc Đảng dựa vào dân, tin dân, lấy dân làm gốc Dân tin Đảng, theo Đảng làm cách mạng và coi Đảng là của chính mình Khi nói với nhau, người dân Việt Nam thường gọi “Đảng ta”; khi nói với người

Trang 7

nước ngoài thì gọi “Đảng chúng tôi” Khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ và của Đảng là bền vững, không gì phá vỡ nổi Trước kia hay bây giờ, Đảng với dân vẫn chỉ là một, không phải là hai; Đảng không phải

là người cai trị, còn dân không phải là người bị cai trị

Trong những năm thực hiện đổi mới, Đảng đã nhận thức sâu sắc rằng để đi lên chủ nghĩa xã hội, cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong bối cảnh toàn cầu hóa

và hội nhập quốc tế hiện nay phát triển văn hóa cũng trở thành một nội dung quan trọng của phát triển bền vững Văn hóa và truyền thống đóng vai trò rất to lớn, thậm chí trong những điều kiện nhất định, đóng vai trò quyết định sự phát triển nói chung và phát triển bền vững nói riêng

Thực tiễn Việt Nam trong hơn 3 năm đổi mới vừa qua cho thấy nếu không phát triển văn hóa, xã hội sẽ không thể đạt tới phát triển bền vững thực sự và sớm hoặc muộn, nhanh hoặc chậm sẽ phải trả giá cho sự thiên lệch trong phát triển Có thể đặt phát triển văn hóa trong phát triển xã hội, xem nó là một trong nhiều nội dung của phát triển xã hội Nhưng dù đặt trong hay đặt ngoài phát triển xã hội như một yếu tố độc lập để nhấn mạnh vai trò của nó thì phát triển văn hóa phải luôn là một yếu tố cấu thành, một nội dung đặc biệt của phát triển bền vững Tương ứng, thể chế phát triển văn hóa là một bộ phận cấu thành của thể chế phát triển quốc gia,

có ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực khác và qua đó gây ảnh hưởng đến tốc độ, định

hướng, quy mô, chất lượng phát triển của các lĩnh vực đó

Đời sống văn hóa đang biến động không ngừng, xung đột giữa thực trạng phát triển văn hóa, con người với thể chế đang có những biểu hiện phức tạp Khủng hoảng văn hóa đang là một thực tế và chắc chắn sẽ tiếp tục với quy mô, tốc độ, phạm vi và hệ quả ngày một không nhỏ trong giai đoạn sắp tới nếu không có những điều chỉnh nhất định Nhưng khủng hoảng ở đây không phải là sự suy đồi hay xuống cấp của nền văn hóa Việt Nam như một số người nhận định và thể hiện cách nhìn bi quan, thái độ hoài nghi về khả năng phát triển của nền văn hóa Việt Nam hiện nay Cơn khủng hoảng của văn hóa Việt Nam thể hiện sự vận động, chuyển đổi, tìm đường hướng phát triển trong bối cảnh mới và sẽ tạo nên bước phát triển có tính đột phá, nhảy vọt trong tương lai gần Có điều là sự “khủng hoảng ấy” sẽ buộc xã hội phải “trả giá” ở những mức độ khác nhau nếu không thường xuyên và kịp thời giải quyết đúng đắn những vấn đề mà nó đặt ra Tháo gỡ các rào cản của thể chế là góp phần khắc phục khủng hoảng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của văn hóa, con người

Trang 8

Đổi mới tư duy, thay đổi nhận thức, thay đổi thể chế về quản lý hoạt động văn hóa cho thích hợp với bối cảnh mới, đáp ứng những đòi hỏi mới, tiến bộ của xã hội, đang là yêu cầu ngày càng bức thiết của sự phát triển nói chung và phát triển bền vững nói riêng ở nước ta hiện nay, để văn hóa có thể nhanh chóng phát triển và trở thành nền tảng tinh thần và động lực của phát triển bền vững

Trong giai đoạn chứa đầy những biến động văn hóa hiện nay cần phải thấy cả những cái được gọi là thể chế văn hóa truyền thống do lịch sử truyền lại đang là lực cản kìm hãm, cản trở sự phát triển của văn hóa và của con người Một nền văn hóa thường ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định có nhiều yếu tố tích cực, thích hợp và

có vai trò to lớn thúc đẩy sự vận động, phát triển chung của xã hội, của kinh tế, văn hóa, của đời sống tinh thần của các cộng đồng và xã hội và có cả những yếu tố tiêu cực, lạc hậu, kìm hãm sự phát triển của các lĩnh vực, các yếu tố tích cực khác Việc tạo dựng, hoàn thiện thể chế tạo động lực phát triển văn hóa và con người hiện nay phải tính đến các đặc trưng trên đây Thể chế phải có khả năng gạn lọc cái cũ, bổ sung cái mới tích cực, tiến bộ, thu nhận tinh hoa văn hóa mọi nơi để làm giàu có thêm, phong phú thêm cho văn hóa nước nhà

Văn hóa cũng như thể chế không phải là bất biến, cố định, các yếu tố xác định ngày hôm nay là tích cực, nhưng ngày mai lại trở thành lạc hậu, lỗi thời Thể chế phát triển văn hóa hôm nay là tích cực, tiến bộ, phù hợp với thực tiễn, nhưng ngày mai có thể đã xuất hiện những yếu tố lạc hậu, lỗi thời, cản trở sự phát triển trong mình nó Khơi dậy, phát huy những yếu tố tích cực, sàng lọc, loại bỏ những yếu tố lỗi thời, lạc hậu, tạo dựng thể chế mới cho phù hợp với điều kiện và yêu cầu mới của sự phát triển là đòi hỏi thường xuyên của xã hội đang vươn tới thang bậc phát triển cao hơn Khi việc đáp ứng đòi hỏi ấy quá yếu hoặc quá thiếu, hay quá chậm kéo dài, thì xung đột thể chế sẽ bắt đầu, khủng hoảng văn hóa sẽ xảy ra và gây tác động bất ổn cho sự phát triển của chính văn hóa và sau đó là của chính quốc gia, dân tộc

Khủng hoảng văn hóa nói chung và thể chế văn hóa nói riêng gây ảnh hưởng đến phát triển của kinh tế và xã hội theo cách khác với khủng hoảng trong chính trị Nếu khủng hoảng trong chính trị nói chung thường có tác động mạnh mẽ, tức thời và lan rộng nhanh chóng, gây hậu quả ngay và sau đó giảm dần ảnh hưởng theo thời gian một cách nhanh chóng, thì khủng hoảng trong thể chế văn hóa và trong văn hóa có tác động thường không ngay tức thời mà có “độ trễ” nhất định Hơn nữa nó thường tác động lâu dài, khó nhận biết, những hệ lụy to lớn thường chỉ thể hiện sau một giai đoạn nhất định và thường là khó lường trước, mang tính chất

Trang 9

chậm rãi, kéo dài và âm ỉ nhưng không kém phần nặng nề và sâu sắc Vì vậy, giảm thiểu tối đa những hệ lụy xấu đối với sự phát triển nói chung của khủng hoảng văn hóa và thể chế văn hóa, ngăn ngừa khủng hoảng, giải quyết kịp thời những vấn đề của đời sống văn hóa là đảm bảo cho văn hóa phát triển bền vững Cùng với sự phát triển bền vững của các lĩnh vực khác, sự phát triển bền vững của văn hóa là tiền đề, điều kiện cho sự phát triển bền vững đất nước nói chung

Trong xã hội hiện đại xung đột thể chế văn hóa, khủng hoảng văn hóa đang ngày càng trở thành nguyên nhân nổi trội của sự không bền vững, không ổn định của các quốc gia Đồng thời, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng tạo cơ hội và điều kiện cho sự xâm nhập và xung đột giữa văn hóa bản địa và văn hóa ngoại nhập cộng hưởng cùng với xung đột của quá khứ và hiện tại, truyền thống và hiện đại khiến cho nguy cơ mất ổn định trong phát triển càng lớn hơn bao giờ hết Thể chế văn hóa trở thành thước đo sự bất cập trong phát triển văn hóa, nó có thể là bệ đỡ, là công cụ làm suy giảm các xung đột, thúc đẩy việc giải quyết các xung đột và khủng hoảng trong phát triển văn hóa và con người Tuy nhiên, ngay ở nước ta hiện nay, sự chú

ý vào khía cạnh này của vấn đề phát triển văn hóa và bền vững còn quá nhỏ nhoi

so với tầm vóc và vị trí, vai trò của vấn đề Người ta đang mải mê tập trung chú ý vào các nguyên do kinh tế, chính trị và sinh thái mà quên lãng các nguyên do văn hóa của sự mất ổn định trong tiến trình phát triển Sau kinh tế, chính trị và sinh thái

đã đến lúc phải tập trung chú ý nhiều hơn đến sự phát triển văn hóa bền vững và thể chế phát triển văn hóa Hệ lụy của sự quên lãng phát triển văn hóa và thể chế văn hóa trong phát triển bền vững tạo ra cho cả văn hóa lẫn kinh tế, chính trị và sinh thái nguy cơ bất ổn thường xuyên trong phát triển cả về ngắn hạn lẫn dài hạn Văn hóa không chỉ là bệ giảm xóc, nền tảng tinh thần và động lực của phát triển bền vững, không chỉ là nội dung, tiền đề và điều kiện của phát triển bền vững của xã hội hiện đại mà còn là phương tiện, phương thức để cộng đồng, dân tộc, đất nước có thể tiến nhanh, mạnh, bền vững đến những bậc thang cao hơn của văn minh nhân loại Khai thác các yếu tố văn hóa một cách hợp lý bằng thể chế phát triển văn hóa phù hợp, tích cực, tiến bộ mới có thể làm chủ được những điều kiện, tiền đề và các tiềm năng nội tại của dân tộc, cộng đồng để phát triển Thể chế văn hóa phù hợp, tích cực, tiến bộ giúp cho việc sử dụng hợp lý, hài hòa sự phát triển văn hóa và con người, phát triển kinh tế, bảo vệ và cải thiện sinh thái, tạo nên sự phát triển hài hòa của xã hội, cuộc sống hài hòa của cộng đồng, tạo dựng xã hội văn minh và phát triển toàn diện trên mỗi bước phát triển và trong toàn bộ chặng

Trang 10

đường đi tới văn minh, thịnh vượng Do đó, việc phá bỏ các rào cản thể chế văn hóa luôn phải song hành với tạo dụng thể chế văn hóa phù hợp, tích cực, tiến bộ Đây là hai mặt của một quá trình không thể loại trừ, tách biệt hay bỏ qua mặt nào

So với một số nước trong khu vực việc khai thác văn hóa phục vụ phát triển bền vững ở nước ta chưa làm được nhiều và chưa làm phổ biến nhiều nơi Nguồn lực văn hóa là bất tận, vô hạn, có thể sử dụng bởi nhiều thế hệ, bởi nhiều chủ thể khác nhau, có thể sử dụng đồng thời ở nhiều địa điểm và do đó, nếu được khai thác hợp lý sẽ tạo nên sức mạnh rất to lớn, rộng khắp, tạo nên những đột phá cho phát triển những vẫn đảm bảo tính bền vững, ổn định của xã hội trong quá trình vận động và phát triển Muốn vậy phải tạo lập được một thể chế phát triển văn hóa phù hợp, tích cực, tiến bộ, không còn là rào cản đối với phát triển văn hóa và các lĩnh vực khác

Tóm lại, thực tế các nền chính trị thế giới đương đại cho thấy, cho dù các

quốc gia có thể áp dụng các lý thuyết chính trị giống nhau nhưng khi vận dụng vào từng quốc gia lại có sự khác nhau Mỗi mô hình có những ưu điểm và hạn chế riêng nhưng việc vận dụng mô hình nào cũng phải căn cứ vào điều kiện, văn hóa của mỗi nước Nếu áp dụng rập khuôn, máy móc mô hình thể chế của nước ngoài

mà xem nhẹ yếu tố văn hóa bản địa của quốc gia thì nền chính trị sẽ khó ổn định Một dân tộc mất độc lập, tự do thì vẫn có hy vọng giành lại được độc lập, tự do sớm hay muộn, nhưng nếu văn hóa dân tộc bị đánh mất và bị hoà tan thì dân tộc đó

sẽ mất tất cả, kể cả quyền tồn tại với tính cách là một dân tộc Thiếu mất nội dung phát triển văn hóa thì tự nó sự tăng trưởng và phát triển kinh tế không đưa đất nước

và dân tộc phát triển mà chỉ tạo ra nhiều thêm những phương tiện phá hoại sự phát triển và sự tồn vong của cộng đồng dân tộc và đất nước Thiết chế văn hóa phù hợp, tích cực, tiến bộ sẽ không còn là rào cản, ngăn trở phát triển văn hóa mà sẽ giúp cho việc thúc đẩy phát triển văn hóa và các lĩnh vực khác một cách đồng bộ, hài hòa và bền vững

Ngày đăng: 12/05/2022, 23:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w