1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

PHÂN TÍCH SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ PHÁP QUYỀN TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ LIÊN HỆ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

12 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 403,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ PHÁP QUYỀN TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ LIÊN HỆ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BÀI LÀM A MỞ ĐẦU Lý luận và lịch sử về nhà nước và pháp luật cho thấy, nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị chung của nhân loại tiến bộ, đề cao pháp luật, thể hiện ước muốn, khát vọng của con người về một xã hội dân chủ và bình đẳng Sự ra đời của mô hì.

Trang 1

Chủ đề:

PHÂN TÍCH SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ PHÁP QUYỀN TRONG LỊCH

SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ LIÊN HỆ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

BÀI LÀM

A MỞ ĐẦU

Lý luận và lịch sử về nhà nước và pháp luật cho thấy, nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị chung của nhân loại tiến bộ, đề cao pháp luật, thể hiện ước muốn, khát vọng của con người về một xã hội dân chủ và bình đẳng Sự ra đời của mô hình nhà nước này từ nhận thức lý luận đến thực tiễn đã có những tác động tích cực,

to lớn không thể phủ nhận với đời sống con người Nhiều quốc gia tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã kế thừa, vận dụng để xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền ở những mức độ khác nhau Nhà nước pháp quyền là một giá trị của nhân loại về một

mô hình nhà nước tiến bộ trong lịch sử xã hội loài người Mô hình nhà nước pháp quyền hội tụ những giá trị phổ quát, được kết tinh, chọn lọc từ ý tưởng của những triết gia, nhà tư tưởng nổi tiếng từ cổ chí kim, từ Tây sang Đông qua các giai đoạn phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại

Cùng với sự thay thế của các chế độ chính trị - xã hội tương ứng với mỗi kiểu nhà nước, mô hình nhà nước pháp quyền đã được hiện thực hóa ngay khi nền dân chủ rộng rãi xuất hiện trong xã hội Khi các cuộc cách mạng dân chủ tư sản thành công, xóa bỏ chế độ phong kiến chuyên chế, thay xã hội thần dân bằng xã hội công dân, nhà nước pháp quyền dần được hiện thực hóa, trở thành mô hình nhà nước được nhiều quốc gia lựa chọn Có thể khẳng định, nền dân chủ rộng rãi là “bệ đỡ” của mô hình nhà nước pháp quyền trong thực tiễn Tuy nhiên, nhà nước pháp quyền dù được hiện thực hóa trước tiên ở kiểu nhà nước tư sản, song, đây là mô hình nhà nước mang giá trị chung của nhân loại, không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản Nhà nước pháp quyền có những giá trị phổ biến và những giá trị đặc thù Trong nhận thức

lý luận cũng như trong thực tiễn, có Nhà nước pháp quyền tư sản và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trang 2

B NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận về nhà nước pháp quyền

1.1 Một số quan điểm phát triển về nhà nước pháp quyền

Trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở các nước trên thế giới, có thể thấy khá nhiều quan niệm về nhà nước pháp quyền Chẳng hạn, “Nhà nước pháp quyền là một nhà nước gắn chặt với pháp luật và được hợp pháp hoả bởi pháp luật”;

“Nhà nước pháp quyền là toàn thể một quổc gia có trách nhiệm thực hiện công lí, phục tùng pháp luật và quan tâm đặc biệt đến việc tôn trọng các quyền của con người và nguyên tắc tương ứng”

C Mác, Ph Ăng-ghen và V I Lê-nin trong các tác phẩm kinh điển của mình, mặc

dù chưa sử dụng thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” nhưng đã xác lập về tư tưởng những giá trị cốt lõi, đặc trưng, đó là nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước kiểu mới hợp hiến, hợp pháp, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân: Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”; “Chế độ

ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ” Với Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân uỷ quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân Bộ máy nhà nước được thiết lập là bộ máy thừa hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước không thể là các ông quan cách mạng

mà là công bộc của nhân dân “Chúng ta hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”

Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực thực tế Nhà nước sử dụng pháp luật để quản lý xã hội Song pháp luật của ta đã có sự thay đổi về chất, mang bản chất của giai cấp công nhân, là một loại hình pháp luật kiểu mới, pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động

1.2 Sự hình thành và phát triển của tư tưởng nhà nước pháp quyền

Trong xã hội phong kiến, sự kết hợp giữa thần quyền và thế quyền đã tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và của nhà nước nói riêng Để củng cố sự thống trị của mình, giai cấp phong kiến biện hộ rằng quyền lực nhà nước là

Trang 3

sản phẩm của thượng đế, do thượng đế trao cho ông vua hay hoàng đế để thay mặt thượng đế cai quản trần thế

Từ thời cổ đại, cả Plato và Aristotle đều cho rằng, quyền lực được hình thành một cách tự nhiên gắn với nhu cầu song chung của con người

Đến thời cận đại, cùng với những đòi hỏi về tự do, dân chủ, giai cấp tư sản đã chống lại sự chuyên quyền độc đoán của nhà nước phong kiến, đòi hỏi sự bình đẳng trong việc tham gia nắm giữ quyền lực nhà nước Trong thòi kỳ này, nhà nước thế tục và quyền lực nhân dân mới được đặt ra một cách quyết liệt và rõ ràng

Xuất phát từ quan điểm pháp quyền tự nhiên, các nhà tư tưởng thời kỳ này cho rằng, nhà nước là sản phẩm của một khế ước xã hội và sự thỏa thuận của các thành viên trong xã hội chính là cơ sở cho mọi chính quyền hợp pháp (J.Locke, T.Hobbes, S.Montesquieu) Lập luận chủ yếu của học thuyết này là: Con người sinh ra đều tự do và bình đẳng, có các quyền tự nhiên của mình

Tuy nhiên, trong trạng thái tự nhiên, các quyền tự nhiên vốn có của con người hay

bị vi phạm Để bảo vệ quyền tự nhiên của mình, các cá nhân trong xã hội cùng nhau ký kết một bản khế ước để sống chung thành xã hội, hình thành một quyền lực chung Chính người dân, thông qua khế ước, đã trao quyền tự nhiên của mình cho chính quyền; và sự

ủy quyền của các cá nhân thông qua khế ước là cơ sở cho mọi chính quyền hợp pháp

Mục đích của chính quyền là bảo vệ các quyền tự nhiên của con người (quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu) và bất cứ hoạt động nào của chính quyền diễn ra ngoài phạm vi đó là không chính đáng Đây cũng chính là giới hạn của chính quyền Nếu chính quyền vượt qua mục đích trên thì đó là một chính phủ lạm quyền Nếu chính quyền không bảo vệ được quyền tự do của người dân, thì người dân có quyền phá bỏ khế ước để hình thành nên một chính quyền mới

Chủ nghĩa Mác lý giải quyền lực nhà nước ra đời không phải từ lực lượng siêu nhiên, cũng không phải từ “khế ước xã hội”, mà ra đời từ nhu cầu giải quyết các mâu thuẫn, xung đột (trước hết là các mâu thuẫn, xung đột về lợi ích kinh tế) khi xã hội phân chia thành các giai cấp khác nhau Đặc trưng của quyền lực nhà nước là sử dụng bộ máy cưỡng chế của giai cấp thống trị Bộ phận cấu thành quan trọng nhất tạo nên bản chất của quyền lực nhà nước là ý chí của giai cấp cầm quyền và nó được hiện thực hóa bởi bộ máy nhà nước Bản thân bộ máy nhà nước, cùng với pháp luật là những công cụ thực hiện quyền lực nhà nước Mục đích của chủ nghĩa Mác là hướng tới xây dựng một xã hội

Trang 4

trong đó không còn nhà nước và quyền lực nhà nước với tư cách là công cụ trấn áp, công

cụ thống trị của giai cấp cầm quyền

Có thể khái quát rằng, lịch sử phát triển của xã hội loài người gắn liền với lịch sử đấu tranh giữa các quan điểm, nhận thức, tư tưởng khác nhau về nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước Nó đánh dấu những thay đổi không chỉ trong nhận thức của con người mà còn là những thay đổi trong thực tiễn chính trị ở các giai đoạn khác nhau của lịch sử: từ xã hội thần quyền sang xã hội thế quyền, từ xã hội vương quyền sang xã hội dân quyền, từ nhận thức “nhân dân của nhà nước” sang “nhà nước của dân, do dân, vì dân”

Cùng với sự phát triển nhận thức về nguồn gốc của quyền lực nhà nước là sự phát triển nhận thức về giải phóng con người: từ thân phận nô lệ (công cụ sản xuất) trong xã hội chiếm hữu nô lệ thành thần dân trong xã hội phong kiến; rồi từ thân phận thần dân trong xã hội phong kiến trở thành công dân trong xã hội tư bản; từ một chủ thể không có các quyền chính trị trở thành chủ thể có các quyền chính trị; từ vị thế của những người bị bóc lột trở thành vị thế người làm chủ của xã hội

2 Sự phát triển lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi trọng, đề cao việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, được thể hiện

rõ nét trong các văn kiện Hội nghị thành lập Đảng, Đại hội Đảng lần thứ I, đặc biệt, được cụ thể hóa trong bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) Đó là một Nhà nước với tinh thần xuyên suốt là: “Bao nhiêu lợi

ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “Nước ta là một nước dân chủ Mọi

công việc đều vì lợi ích của dân mà làm”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ Tức là nhân dân làm chủ” Tư tưởng này cũng được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta với việc hiến định quyền lực nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, để phụng sự lợi ích của nhân dân Theo đó, bộ máy nhà nước được thiết lập là bộ máy thừa hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân; đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước không thể là “các ông quan cách mạng” mà là “công bộc của nhân dân”, chăm lo cho sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân; pháp luật không phải là để trừng trị con người mà là công cụ để bảo vệ, thực hiện lợi ích vì con người

Trang 5

Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (tháng 11-1991), lần đầu tiên thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” chính thức được Đảng ta đề cập và được khẳng định

rõ hơn tại Hội nghị toàn quốc giữa kỳ khóa VII (năm 1994), đồng thời, tiếp tục được bổ sung, phát triển qua các kỳ đại hội Đảng tiếp theo Đây là cơ sở chính trị để Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), thể chế hóa tại Điều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”

Cương lĩnh 1991 đã nhấn mạnh đến những vấn đề có tính nền tảng đối với tổ chức

và hoạt động của bộ máy nhà nước trong một chế độ dân chủ - pháp quyền: có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp, quản lý xã hội bằng pháp luật; thống nhất quyền lực (thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp) với sự phân công rành mạch ba quyền đó Tuy chưa đề cập trực tiếp đến phạm trù nhà nước pháp quyền, nhưng sự thể hiện các vấn đề cơ bản có tính pháp quyền trong tổ chức nhà nước ở tầm cương lĩnh chính trị cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng ta trong đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước theo các yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh cụ thể nước ta

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khoá VII) đã đánh dấu một bước quan trọng trong việc cụ thể hoá quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá VII là hội nghị chuyên bàn về nhà nước “Tiếp tục xây dựng

và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính”

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tại Đại hội lần thứ VIII tiếp tục khẳng định 5 quan điểm cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền đã được Hội nghị Trung ương 8 khoá VII xác định, đồng thời đặt ra các nhiệm vụ: đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; cải cách nền hành chính nhà nước đồng bộ trên các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công

Trang 6

chức hành chính; cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp; củng cố kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp Phân định lại thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân, từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho toà án nhân dân huyện Đổi mới tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức

bổ trợ tư pháp…

Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2002) và Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006) đã tiếp tục khẳng định nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Đại hội XI (tháng 1/2011) đã làm sâu sắc thêm nhận thức về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và khẳng định “tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo, thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội, giải quyết đúng mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường” Báo cáo chính trị đã xác định một trong những phương hướng quan trọng của việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là “Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế, vận hành cụ thể

để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 đã sửa đổi,

bổ sung năm 2001 phù hợp với tình hình mới”

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) với quan điểm kế thừa, phát triển, Điều 2, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà

Trang 7

nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức;

3 Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Như vậy,

có thể thấy rằng, trên phương diện lập hiến, Hiến pháp năm 2013 đã quy định một cách toàn diện những vấn đề căn cốt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bản chất, nguyên tắc, tổ chức, hoạt động, chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước; phân quyền giữa các cơ quan quyền lực nhà nước, vị trí của pháp luật đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam; vấn đề quyền con người, quyền công dân; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Đại hội XII của Đảng (20/1- 28/1/2016) tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng về đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong giai đoạn phát triển mới Báo cáo chính trị trình đại hội XII xác định: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới

hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đẩy mạnh hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất, xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền”

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” Đại hội chỉ rõ: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì

sự phát triển của đất nước Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội”

Trang 8

Như vậy, từ khi ra đời cho đến nay, trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quán triệt tư tưởng xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam, coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật - phương tiện quan trọng trong quản lý nhà nước

3 Một số hạn chế trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta trong thời gian qua

Việc đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước còn chuyển biến chậm Việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước còn nhiều điểm chưa rõ Mặc dù Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện một bước tiến bộ khi chỉ ra các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, song cách hiểu về nội hàm các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp chưa đạt được

sự thống nhất cao

Quốc hội mặc dù hoạt động ngày càng dân chủ và hiệu quả hơn nhưng kết quả trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định vấn đề quan trọng của đất nước chưa đáp ứng sự kỳ vọng của nhân dân Tổ chức bộ máy trong các cơ quan của Quốc hội, cơ quan giúp việc còn có những mặt chậm được đổi mới; cơ chế hoạt động của các đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội chưa được quy định rõ; việc tổ chức tiếp dân, tiếp xúc cử tri có nơi còn mang tính hình thức

Tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, hoạt động thiếu nhịp nhàng, thông suốt Bộ máy Chính phủ tuy đã giảm số bộ, nhưng số lượng đơn vị đầu mối trong từng bộ lại có xu hướng tăng; cơ cấu bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương (các tổng cục, cục, vụ, viện, sở, phòng) còn chưa được sắp xếp hợp lý

Việc tổ chức hệ thống Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân đã được đổi mới một bước theo Hiến pháp 2013 nhưng vẫn còn nhiều bất cập về cấu trúc bên trong Toà

án cấp huyện dàn đều ở tất cả các huyện, kể cả những huyện có quy mô nhỏ hoặc mới được chia tách; đội ngũ Thẩm phán bị dàn mỏng, phân tán, trong khi số lượng còn rất thiếu, có nơi xét xử không hết án nhưng có nơi lại rất ít án

Tổ chức chính quyền địa phương còn nặng về tính bảo đảm tính thống nhất trong chỉ đạo, điều hành của trung ương, chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương Mô hình tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được thiết kế một cách tương đối đồng loạt, chưa thể hiện đặc điểm và yêu cầu quản lý nhà nước trên các địa bàn, lãnh thổ khác nhau

Trang 9

Về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, trước Hiến pháp năm 2013, trong tổ chức bộ máy nhà nước mới chỉ có sự kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan mà chưa có cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Chưa có cơ chế kiểm soát trong nội bộ từng thiết chế thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

Về hệ thống pháp luật, mặc dù quá trình đổi mới đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhưng có thể thấy rằng, hệ thống pháp luật của nước ta vẫn chưa đáp ứng kịp với yêu cầu của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước cũng như việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật

Chất lượng cán bộ, công chức trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa đáp ứng được yêu cầu thực thi chức năng, nhiệm vụ theo vị trí việc làm; năng lực và trình độ đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa ngang tầm với đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Mức độ chuyên nghiệp, tính chuyên sâu, kỹ năng hành chính của cán bộ, công chức thấp Công tác quản lý, tuyển dụng, sử dụng, thi tuyển, thi nâng ngạch, đánh giá, luân chuyển, đề bạt cán bộ, công chức chậm thay đổi

4 Một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta dưới sự lãnh đạo của đảng

Một là, thống nhất trong nhận thức, hành động xây dựng và hoàn thiện Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên cơ sở nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước

Hai là, xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi,

công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với tuyên truyền pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà

Trang 10

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị

Ba là, đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội với vai trò là cơ quan đại biểu

cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng quy trình lập pháp, tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển đất nước, nhất là thể chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, cơ chế giám sát, lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; bảo đảm tiêu chuẩn, cơ cấu, nâng cao chất lượng đại biểu, theo hướng tăng hợp lý số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách; giảm số lượng đại biểu công tác ở các cơ quan hành pháp, tư pháp Thiết lập đồng bộ, gắn kết giữa cơ chế giám sát của cơ quan dân cử với cơ chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân

Bốn là, xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp

quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phát huy đầy đủ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, tập trung vào quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; tăng cường năng lực dự báo, phân tích và

đề xuất chính sách dựa trên luận cứ khoa học và thực tiễn trong tình hình mới Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ban, ngành; giữa Trung ương với địa phương; khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, bảo đảm quản lý nhà nước tập trung, thống nhất Tập trung cải cách tiền lương, chế độ, chính sách; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tinh, gọn, mạnh, có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, đổi mới sáng tạo, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước

Năm là, xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng,

nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Thực hiện tốt trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,

Ngày đăng: 12/05/2022, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w