Chủ đề TỪ KIẾN THỨC VỀ QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI, ĐỒNG CHÍ HÃY LÀM RÕ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ CƠ CHẾ “ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ” Ở NƯỚC TA HIỆN NAY LIÊN HỆ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI CƠ CHẾ NÊU TRÊN Ở ĐỊA PHƯƠNG BÀI LÀM MỞ ĐẦU Trong quá trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cùng với những đổi mới về tư duy kinh tế, nước ta đã có những đổi mới về tư duy chính trị, xây dựng và hoàn thiện.
Trang 1Chủ đề:
TỪ KIẾN THỨC VỀ QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI, ĐỒNG CHÍ HÃY LÀM RÕ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ CƠ CHẾ “ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ” Ở NƯỚC TA HIỆN NAY LIÊN HỆ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC THI CƠ CHẾ NÊU TRÊN Ở ĐỊA PHƯƠNG
BÀI LÀM
MỞ ĐẦU
Trong quá trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cùng với những đổi mới về tư duy kinh tế, nước ta đã có những đổi mới về
tư duy chính trị, xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị Trong đó, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” được đề ra từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V (năm 1982) và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) của Đảng và được xác định là phương thức vận hành tổng thể của hệ thống chính trị Việt Nam Dù đã sớm được khẳng định, tuy nhiên việc nhận thức và thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ở Việt Nam là một quá trình Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, không phải ngay từ đầu, ở đâu và lúc nào, việc nhận thức và thực hiện
cơ chế tổng thể nêu trên cũng rõ ràng, đầy đủ và đúng đắn Đến Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) của Đảng xác định cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là một trong các mối quan hệ lớn cần được làm sáng tỏ trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội Bởi đây là cơ chế có mối quan hệ đặc biệt, cốt yếu nhất giữa
ba chủ thể có vai trò quan trọng nhất của thể chế chính trị Việt Nam Kế thừa kinh nghiệm và kết quả 35 năm thực hiện đường lối đổi mới; trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Văn kiện và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định: Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, nhất là nội dung “nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”; coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu để đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng vào cuộc sống Giữa ba chủ thể này có quan hệ hết sức chặt chẽ, thống nhất biện chứng với nhau, là tiền đề của nhau, đều có vai trò quan trọng, không thể thiếu và không thể tùy tiện, tuyệt đối hóa vị trí, vai trò của bất cứ chủ thể nào
Tuy nhiên, quá trình phát huy vai trò của những nhân tố đó đã và đang nảy sinh những vấn đề phức tạp đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết cả về phương diện lý luận lẫn trong thực tiễn như: Vẫn còn tình trạng cấp ủy đảng lấn sân, bao biện, làm thay công việc của chính quyền; cấp ủy đảng buông lỏng vai trò, trách nhiệm lãnh đạo hoặc cấp ủy, tổ chức đảng không thể hiện đúng, đầy đủ vai trò, trách nhiệm là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị và lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội Việc vận hành chức năng, nhiệm vụ quản lý của Nhà nước vẫn thể hiện những bất cập, chưa chế định rõ cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp; còn có sự chồng chéo, vướng mắc về chức năng, nhiệm vụ giữa các thiết chế; hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, nhiều nội dung chưa đáp ứng yêu cầu; kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực thi công vụ, cải cách hành chính còn hạn chế Nhận thức về dân chủ trong một
bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế; quyền làm chủ của nhân dân có lúc,
có nơi còn bị vi phạm, hạn chế hoặc mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ
Trang 2gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, bản thân chọn chuyên đề Từ kiến thức về quyền lực chính trị trong xã hội hiện đại, làm rõ những vấn đề đặt ra từ cơ chế “đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” ở nước ta hiện nay để nghiên cứu, từ đó đề
xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi cơ chế nêu trên ở thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp để làm bài thu hoạch cho môn học Chính trị học
Trang 3NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận chung về quyền lực và quyền lực chính trị
1 Khái niệm quyền lực
Quyền lực là mối quan hệ diễn ra phổ biến trong đời sống xã hội Mọi tổ chức, kể
cả tổ chức phi chính trị đều có thể coi là một tổ chức quyền lực với phương thức hoạt động riêng (bao gồm cách thức ra quyết định và thi hành quyết định) Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quyền lực, tùy cách tiếp cận mà các nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác nhau
Nhà nghiên cứu chính trị Robert Dahl cho rằng: Quyền lực là cái được hiểu: A có quyền lực đối với B khi mà A có thể bắt B làm điều gì đó theo ý mình, ngay cả khi B không muốn làm
Theo Max Weber, quyền lực là khả năng của một chủ thể buộc chủ thể khác phải hành động theo ý muốn của mình, bất kể sự kháng cự
Một phạm trù khác có liên quan chặt chẽ với khái niệm quyền lực là quyền uy Trong tác phẩm Bàn về quyền uy, Ăngghen quan niệm: “quyền uy nói ở đây, có nghĩa là
ý chí của người khác mà người ta buộc chúng ta phải tiếp thu; mặt khác, quyền uy lấy sự phục tùng làm tiền đề”
Dù các định nghĩa về quyền lực đều hàm chứa và phản ánh các phương diện khác nhau, nhưng ý tưởng căn bản là: Quyền lực là năng lực của một chủ thể, buộc chủ thể khác phải hành động theo ý chí của mình
2 Khái niệm quyền lực chính trị
Trong các nghiên cứu về chính trị, khái niệm quyền lực chính trị được hiểu theo nhiều nghĩa tùy cách tiếp cận nghiên cứu
Theo Chủ nghĩa Mác-Lênin: Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp hay liên minh giai cấp nhằm thực hiện sự thống trị chính trị; là năng lực áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giai cấp mình - chủ yếu thông qua đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Quyền lực chính trị là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp các giai cấp khác
Từ cách tiếp cận hành vi có thể hiểu: Quyền lực chính trị là năng lực của một chủ thể chính trị buộc chủ thể chính trị khác phải hành động theo cách mà chủ thể ra lệnh mong muốn
Cách tiếp cận này chủ yếu quan tâm đến sự thay đổi hành vi, đến mục đích của việc sử dụng quyền lực trong quan hệ giữa các chủ thể
Mặc dù có những cách quan niệm khác nhau, có thể đưa ra định nghĩa về quyền lực chính trị như sau:
Quyền lực chính trị là năng lực của một chủ thể chính trị (giai cấp, lực lượng xã hội, ) trong việc áp đặt mục tiêu chính trị của mình đối với các chủ thể khác trong xã hội nhằm hiện thực hóa lợi ích của bản thân
Khi nói tới quyền lực, cần phân biệt ba khái niệm sau: quyền lực công, quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước
Quyền lực công: là quyền lực được hình thành trên cơ sở đồng thuận của các thành
viên trong cộng đồng nhằm thực hiện các hoạt động chung và bảo đảm lợi ích chung của
Trang 4cộng đồng, xã hội như: bảo đảm trật tự xã hội, giải quyết xung đột, phòng chống thiên tai, Đây là thiết chế đại diện cho lợi ích của tất cả mọi thành viên trong xã hội
Trong các xã hội tiền nhà nước, quyền lực công là thứ quyền lực duy nhất được tổ chức nhằm gắn kết ý chí và hành động của tất cả các thành viên trong cộng đồng, bảo đảm cho cộng đồng duy trì trong trạng thái trật tự, ổn định và phát triển Khi nhà nước ra đời, nhà nước là chủ thể duy nhất nhân danh lợi ích của toàn xã hội để nắm giữ và thực thi quyền lực công Lúc này, quyền lực nhà nước chính là quyền lực công
Như vậy, quyền lực công là quyền lực chung của cộng đồng, xã hội, được hình thành dựa trên ý chí của các thành viên trong cộng đồng, xã hội và được sử dụng để bảo
vệ lợi ích của tất cả các thành viên trong cộng đồng, xã hội
Quyền lực chính trị: xuất hiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp khác nhau.
Nó là quyền lực của các giai cấp, các nhóm trong xã hội Các giai cấp này đấu tranh với nhau nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực công Một giai cấp, để có thể trở thành giai cấp thống trị phải tập trung được sức mạnh của giai cấp mình về tư tưởng và tổ chức để tiến tới chiếm đoạt lấy quyền lực công, đặc biệt là bộ máy cưỡng chế và sử dụng nó để thực hiện sự thống trị của mình đối với toàn xã hội
Với sự chi phối, thao túng của giai cấp thống trị xã hội, các thiết chế quyền lực công trước đây vốn có chức năng bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng giờ lại trở thành công cụ bảo vệ cho lợi ích của một giai cấp nào đó Đây chính là hiện tượng “quyền lực
bị tha hóa” như Các Mác đã đề cập
Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp, một lực lượng xã hội dùng để tác động đến quá trình tổ chức và thực thi quyền lực công nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp mình
Quyền lực nhà nước: giai cấp thống trị muốn hiện thực hóa lợi ích của mình phải
thông qua bộ máy nhà nước, bởi quyền lực nhà nước được đảm bảo thực thi bằng các công cụ cưỡng chế hợp pháp Mặt khác, quyền lực nhà nước, về hình thức bao giờ cũng thể hiện là quyền lực công - quyền lực đại diện cho tất cả các thành viên trong xã hội; nhưng về bản chất, quyền lực nhà nước lại thể hiện tính giai cấp, bởi nó được nằm giữ và thực thi bởi một giai cấp (hay liên - giai cấp) Từ đây, nhà nước phải thực hiện hai chức
năng căn bản như chủ nghĩa Mác đã nhấn mạnh, đó là chức năng công quyền (hay còn
gọi là chức năng xã hội) và chức năng giai cấp (hay còn gọi là chức năng thống trị giai cấp) Do đó, có thể nói, quyền lực nhà nước là biểu hiện tập trung của quyền lực công và quyền lực chính trị Thông qua đó, giai cấp nắm giữ quyền lực thực hiện vai trò thống trị chính trị của mình đối với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội
Với ý nghĩa đó, quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị của giai cấp nắm giữ và thực thi quyền lực công.
Trong khoa học chính trị, việc phân định các khái niệm: quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước cũng có tính tương đối Thậm chí có nghiên cứu đồng nhất quyền lực chính trị với quyền lực nhà nước
II Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ở nước ta hiện nay
Hệ thống chính trị Việt Nam được cấu thành bởi ba bộ phận cơ bản gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội Mỗi bộ phận có vị trí, vai trò khác nhau và
Trang 5thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác nhau trong hệ thống chính trị, nhưng tất cả đều hướng đến mục tiêu chung của hệ thống chính trị là xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Các bộ phận trên gắn bó chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống chính trị thống nhất, vận hành theo cơ chế chủ đạo: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”
Để hoạt động với tư cách là một hệ thống thống nhất, các thành tố trong hệ thống phải thiết lập các mối quan hệ và sự tương tác với nhau Có thể nói, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” thể hiện sự thống nhất về bản chất của hệ thông chính trị Việt Nam Cơ chế này xác định mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; xác định vai trò, địa vị làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Với việc thực hiện vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể trong cơ chế tổng thể “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, thể chế chính trị Việt Nam đã vận hành một cách thông suốt, có sự ổn định, tiếp tục được củng cố và phát triển
1 Đảng lãnh đạo
Toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị đều đặt dưới đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng thực hiện chức năng lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội nhằm phát huy, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
Với vai trò cầm quyền và lãnh đạo, bằng chủ trương, đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam giành những thắng lợi và thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Đến nay, Đảng đã khẳng định và xác lập các phương pháp, cách thức lãnh đạo Nhà nước và xã hội một cách chắc chắn, rõ ràng Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thành bại của cách mạng Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền là vì lợi ích của nhân dân Đảng lãnh đạo là yếu tố tiên quyết đảm bảo cho sự vận hành có hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện bằng các phương thức chính như:
Đảng xây dựng cương lĩnh, chủ trương, đường lối chính trị định hướng cho sự phát triển của Nhà nước và xã hội; lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng và tổ chức thực hiện thông qua bộ máy nhà nước
Đảng lãnh đạo thông qua công tác cán bộ, thống nhất lãnh đạo và quản lý công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước Theo nội dung này, Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú
để nhân dân lựa chọn bầu vào các cơ quan trong bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội
Đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, kiểm tra các tổ chức đảng, cán bộ, công chức nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện đúng Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, những biểu hiện tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước cũng như trong đời sống xã hội
Đảng lãnh đạo bằng sự tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên của
Đảng Nội dung lãnh đạo này được quy định thành nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
cụ thể của từng chức danh quyền lực trong bộ máy Đảng và Nhà nước
Trang 6Trong những năm đổi mới, tổ chức bộ máy các cơ quan đảng được sắp xếp, kiện toàn theo yêu cầu, nhiệm vụ mới Chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các tổ chức trong hệ thống chính trị được phân định, điều chỉnh phù hợp hơn Nhiều chủ trương, nguyên tắc, quan điểm, giải pháp lớn về công tác cán bộ được thể chế, cụ thể hóa bằng quy chế, quy định, quy trình bảo đảm dân chủ, chặt chẽ Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới Đảng đã ban hành nhiều quy chế, quy định, quy trình công tác để thực hiện, bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là vai trò của Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bước tiến bộ Đảng có những đổi mới trong việc ra nghị quyết, coi trọng việc lãnh đạo, chỉ đạo
tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng Với những kết quả đó, Đảng đã giữ vững được bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội
2 Nhà nước quản lý
Nhà nước là trung tâm của hệ thống chính trị, là tổ chức quyền lực công đại diện cho lợi ích của nhân dân và dân tộc Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Trên cơ sở cương lĩnh, chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, chính sách, các chương trình, kế hoạch hoạt động và quản lý xã hội theo Hiến pháp và pháp luật Sự quản lý của Nhà nước không trái với các chủ trương, đường lối, nghị quyết, quy định của Đảng; đồng thời cũng không hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân
Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước đã có một bước điều chỉnh theo yêu cầu của quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy nhà nước từng bước được cơ cấu lại, tăng cường vai trò, trách nhiệm của cộng đồng; mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân dần chuyển từ tư duy lãnh đạo, quyền uy - phục tùng sang tư duy Nhà nước phục vụ; phân định rõ nhiệm vụ quản lý, định hướng của Nhà nước với vai trò sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp
Quan điểm và thể chế về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bổ sung, hoàn thiện một bước quan trọng Nhận thức của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân có bước phát triển Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước được quy định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy
và cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước được xác định rõ hơn và có những bước tiến trong hoạt động Vai trò của pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, trong quản lý xã hội ngày càng được đề cao Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước được xác định rõ hơn và trong
tổ chức thực hiện đã có những bước tiến nhất định
Sự quản lý của Nhà nước lấy tiêu chí phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa, trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, xa dân, cửa quyền, hách dịch với dân
Trang 7Trong điều kiện mới, để Nhà nước thực hiện tốt vai trò và chức năng của mình theo hướng kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, đòi hỏi phải xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước; xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước
3 Nhân dân làm chủ
Trong Hiến pháp Việt Nam, tinh thần “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” cũng được khẳng định như một nguyên tắc quan trọng nhất trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước Mọi người dân, vượt lên trên sự khác biệt xã hội để hướng tới thực hiện mục tiêu chung của cả nước là xây dựng một xã hội “phồn vinh, dân chủ, công bằng, văn minh, trật tự, kỷ cương, an toàn, bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân” Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện
Trong những năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân được nâng lên Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn có tiến bộ Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Nhiều cấp
ủy đảng, chính quyền đã lắng nghe, tăng cường tiếp xúc, đối thoại với nhân dân, tôn trọng các quan điểm khác nhau Hệ thống chính trị đã coi trọng việc chăm lo hạnh phúc
và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết
Nhân dân làm chủ trực tiếp thông qua các hình thức tự quản, tự quyết định các vấn
đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình ở cộng đồng, địa phương; tham gia các cuộc trưng cầu dân ý để quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước khi Nhà nước tổ chức
Nhân dân làm chủ gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện của mình là bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên Với tư cách là công dân, mỗi công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với
cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân
Những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có quan hệ trực tiếp đến đời sống của quân chúng nhân dân đều là nội dung mà người dân được biết, được hàng được thực hiện và được kiểm tra, giám sát việc thực hiện, được thụ hưởng
Trang 8Mọi người dân đều có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân Các khiếu nại, tố cáo của người dân phải được tiếp nhận và giải quyết
III Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ở thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp
Thành phố Hồng Ngự, một đơn vị hành chính cấp huyện nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và là đô thị có vai trò trung tâm kinh tế, khoa học kỹ thuật - văn hóa, hành lang kinh tế biên giới của tỉnh Đồng Tháp; có đường biên giới dài 7,5km, tiếp giáp với huyện Piềm Chor và huyện Sa Đách - tỉnh Prây Veng, Vương quốc Campuchia, với tổng số dân trên 86.000 người Thành phố Hồng Ngự có 07 đơn vị hành chính cấp xã gồm 05 phường và 02 xã biên giới: Tân Hội và Bình Thạnh; có 24 chi, đảng bộ trực thuộc Thành ủy Hồng Ngự; có 12 cơ quan chuyên môn và 30 đơn vị sự nghiệp trực thuộc
Ủy ban nhân dân thành phố Hồng Ngự
Trong thời gian qua, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Hồng Ngự triển khai thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả Đảng bộ, chính quyền thành phố Hồng Ngự thường xuyên quan tâm đổi mới phương thức lãnh đạo có trọng tâm, trọng điểm, linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Chất lượng các chương trình, kế hoạch, hành động thực hiện các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Trung ương và cấp ủy cấp trên được nâng lên rõ rệt Nghị quyết và chủ trương của cấp ủy được ban hành sát thực tiễn, kịp thời giải quyết có hiệu quả những vấn đề trọng tâm và cấp bách của cơ sở Các chương trình, quy chế làm việc,
kế hoạch công tác được xây dựng và thường xuyên được rà soát, bổ sung kịp thời, đúng nguyên tắc và quy định của Đảng, rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, bảo đảm
sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy, tổ chức đảng, phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất
là của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu Thường xuyên quan tâm chỉ đạo kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, nghị quyết và sự phối hợp của tổ chức đảng, chính quyền với mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở Thực hiện nghiêm việc lấy ý kiến nhân dân trong xây dựng các chương trình,
kế hoạch, nội dung liên quan đến quyền và lợi ích trực tiếp của nhân dân Thực hiện tốt,
có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”; giúp nhân dân thấy rõ quyền lợi của mình, tự giác thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ; phát huy tính tích cực, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng chính quyền; động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế; xây dựng, quản lý, thụ hưởng văn hóa; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; tăng cường phát huy dân chủ, công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành; đề cao vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của người đứng đầu, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí Đồng thời, quan tâm chỉ đạo việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ
sở gắn với việc thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch, cải cách hành chính, Với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Thành ủy Hồng Ngự, sự quản lý, điều hành linh hoạt, đổi mới, sáng tạo của các cấp chính quyền, sự đoàn kết, đồng lòng của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, thành phố Hồng Ngự được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới trước 02 năm; được Bộ trưởng
Bộ Xây dựng công nhận là đô thi loại III trước 07 năm và được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV công nhận là thành phố thuộc tỉnh Đồng Tháp trước 10 năm so với lộ trình
đề ra
Trang 9Tuy nhiên, từng lúc, từng nơi vẫn còn tình trạng một số tổ chức đảng ở cơ sở chưa thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, nhất là lãnh đạo về kinh tế Việc quản lý, điều hành bằng quy chế còn hạn chế, dẫn tới có nơi còn bao biện, làm thay, can thiệp sâu vào công việc của chính quyền, dẫn tới nội bộ một số nơi thiếu đoàn kết, thống nhất Một số nơi khi xây dựng nghị quyết còn thiếu bàn bạc dân chủ, công khai nên khi triển khai thực hiện có nhiều vướng mắc, thiếu sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân Một số đảng viên thiếu gương mẫu và ít gần gũi nhân dân nơi cư trú nên hạn chế trong việc thu hút và vận động nhân dân thực hiện chủ trương, nghị quyết, chính sách của địa phương Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát ở cơ sở còn thấp, theo dõi, đôn đốc và thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra còn hạn chế Hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở một số địa phương, đơn vị chất lượng chưa cao, chưa tích cực tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm ở cơ sở,…
Để góp phần thực hiện tốt quan hệ: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” trong tình hình hiện nay Nhận thức đúng đắn và thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giải quyết tốt quan hệ này là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cùng mọi tầng lớp nhân dân ta Trong đó, cần tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:
Một là, tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, thống
nhất nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân nắm bản chất của mối quan hệ:
“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” Chú trọng vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm xã hội, của từng thành phần; từ đó, tích cực, tự giác thực hiện tốt quyền lợi, nghĩa vụ công dân, gắn với chức trách, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Nhân dân và xã hội giao phó
Hai là, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hoàn thiện các quy chế,
quy định về tổ chức, hoạt động của Đảng Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; không dao động trong bất cứ tình huống nào Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên
Ba là, thường xuyên xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng,
đạo đức và tổ chức; nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu, nhất là năng lực
dự báo, hoạch định đường lối phù hợp với sự vận động, phát triển của thực tiễn Hoàn thiện và thực hiện tốt cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm trong sạch hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, đảng viên
Bốn là, xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, gắn với giáo
dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống bộ máy nhà nước Thực hiện quản lý xã hội bằng Hiến pháp, pháp luật, không có vùng cấm trong thực thi pháp luật; bảo đảm mọi quyền lực Nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân, mọi hoạt động của Nhà nước đều vì: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Năm là, bảo đảm tính hiệu quả, thiết thực trong việc mở rộng dân chủ, đi đôi với
giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa để Nhân dân thực sự là chủ nhân của đất nước Lợi ích, sức mạnh của đất nước đồng nhất với lợi ích, sức mạnh của Nhân dân Sứ mệnh, vai trò của Đảng, Nhà nước là bảo vệ và phục vụ Nhân dân Quyền lực của Đảng, Nhà nước là do Nhân dân ủy thác Đảng viên và cán bộ, công chức, viên chức phải thực sự là “công bộc”, “đầy tớ” trung thành của Nhân dân
Trang 10Sáu là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đặc
biệt là với Nhà nước Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng việc xây dựng, ban hành nghị quyết của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, dứt điểm việc cụ thể hóa, thể chế hóa, tổ chức thực hiện nghị quyết; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, đổi mới cách thức quán triệt, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, bảo đảm tính hiệu quả Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng
Bảy là, tích cực, chủ động, nhạy bén nhận diện những thủ đoạn mới và kiên quyết
đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu, chống phá thành quả cách mạng cùng những quan điểm “tư bản hóa” Việt Nam, chia rẽ Đảng với Nhân dân, xuyên tạc, phá hoại quan hệ: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”
Tám là, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ
mật thiết giữa Đảng với nhân dân Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân Kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân