1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁCH MẠNG KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ VÀ TOÀN CẦU HOÁ ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC THI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LIÊN HỆ VẤN ĐỀ NÀY Ở ĐỊA PHƯƠNG NƠI ĐỒNG CHÍ CÔNG TÁC

14 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 357,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẢNG BỘ HUYỆN CAO LÃNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1 Chủ đề PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁCH MẠNG KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ VÀ TOÀN CẦU HOÁ ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC THI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LIÊN HỆ VẤN ĐỀ NÀY Ở ĐỊA PHƯƠNG NƠI ĐỒNG CHÍ CÔNG TÁC BÀI LÀM Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại là sự thay đổi trong bản thân các lĩnh vực khoa học công nghệ cũng như mối quan hệ và chức năng xã hội của chúng, khiến cho cơ cấu và động lư.

Trang 1

Chủ đề:

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁCH MẠNG KHOA HỌC –

CÔNG NGHỆ VÀ TOÀN CẦU HOÁ ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC THI

QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LIÊN HỆ VẤN ĐỀ NÀY Ở ĐỊA PHƯƠNG NƠI ĐỒNG CHÍ CÔNG TÁC

BÀI LÀM

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại là sự thay đổi trong bản thân các lĩnh vực khoa học công nghệ cũng như mối quan hệ và chức năng xã hội của chúng, khiến cho cơ cấu và động lực phát triển của các lực lượng sản xuất cũng bị thay đổi hoàn toàn Trong đó, quan trọng nhất là việc nổi lên vai trò hàng đầu của yếu tố con người trong hệ thống lực lượng sản xuất, dựa trên vận dụng đồng bộ các ngành công nghệ mới có hàm lượng công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học… cuộc cách mạng khoa học công nghệ có tác động mạnh mẽ đến công cuộc đổi mới của Việt Nam đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế

Sau hơn 35 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, với đường lối đổi mới đúng đắn phát huy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại Đất nước ta vượt qua khó khăn khủng hoảng kinh tế – xã hội, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nước ta ngày càng có vị thế cao trên trường quốc tế, có uy tín và niềm tin với bè ban các nước trên thế giới, tạo thế lực mới cho sự thành công của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.Khái niệm quyền lực chính trị

Quyền lực chính trị là năng lực của một chủ thể chính trị (giai cấp, lực lượng xã hội…) trong việc áp đặt mục tiêu chính trị của mình đối với các chủ thể khác trong xã hội nhằm hiện thực hoá lợi ích của bản thân

Khi nói tới quyền lực, cần phân biệt ba khái niệm sau: quyền lực công, quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước

Quyền lực công: là quyền lực được hình thành trên cơ sở đồng thuận của các thành viên trong cộng đồng nhằm thực hiện các hoạt động chung và bảo đảm lợi

Trang 2

ích chung của cộng đồng, xã hội như: bảo đảm trật tự xã hội, giải quyết xung đột, phòng chống thiên tai…Đây là thiết chế đại diện cho lợi ích của tất cả mọi thành viên trong xã hội Như vậy, quyền lực công là quyền lực chung của cộng đồng, xã hội, được hình thành dựa trên ý chí của các thành viên trong cộng đồng, xã hội và được sử dụng bảo vệ lợi ích của tất cả các thành viên trong cộng đồng, xã hội Quyền lực chính trị: là quyền lực của các giai cấp, các nhóm trong xã hội Các giai cấp này đấu tranh với nhau nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực công Một giai cấp có thể trở thành giai cấp thống trị phải tập trung được sức mạnh của giai cấp mình về tư tưởng và tổ chức để tiến tới chiếm đoạt lấy quyền lực, đặt biệt là bộ máy cưỡng chế và sử dụng nó để thực hiện sự thống trị của mình đối với toàn xã hội Vậy quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp, một lực lượng xã hội dùng để tác động đến quá trình tổ chức và thực thi quyền lực công nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp mình

Quyền lực nhà nước: là biểu hiện tập trung của quyền lực công và quyền lực chính trị Thông qua đó, giai cấp nắm giữ quyền lực thực hiện vai trò thống trị chính trị của mình đối với các giai cấp,tầng lớp khác trong xã hội Giai cấp thống trị muốn hiện thực hoá lợi ích của mình phải thông qua bộ máy nhà nước, bởi quyền lực nhà nước được đảm bảo thực thi bằng các công cụ cưỡng chế hợp pháp Mặt khác, quyền lực nhà nước, về hình thức bao giờ cũng thể hiện là quyền lực công – quyền lực đại diện cho tất cả các thành viên trong xã hội; nhưng về bản chất, quyền lực nhà nước lại thể hiện tính giai cấp, bởi nó được nắm giữ và thực thi bởi một giai cấp (hay liên minh giai cấp) Từ đây, nhà nước phải thực hiện hai chức năng că)n bản như chủ nghĩa Mác đã nhấn mạnh, đó là chức năng công quyền (hay còn gọi là chức năng xã hội) và chức năng giai cấp (hay còn gọi là chức năng thống trị giai cấp)

2.Các yếu tố tác động đến sự biến đổi quyền lực chính trị hiện nay

2.1 Quá trình toàn cầu hoa

Quá trình toàn cầu hoá được thúc đẩy bởi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ

tư mang nhiều đặc điểm nổi bật chưa từng có trong lịch sử nhân loại Có một số đặc điểm sau đây:

Trang 3

- Các mạng lưới liên kết ở cấp độ toàn cầu đã và đang xoá nhoà dần đường biên giới địa lý, làm suy yếu chủ quyền kinh tế và chính trị truyền thống của các quốc gia

- Dòng vốn đầu tư, hàng hoá, công nghệ và lực lượng lao động chuyển dịch trên phạm vi toàn cầu Các công ty đa quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Các thách thức an ninh phi truyền thống xuất hiện nhiều hơn với các hoạt động ngày càng tinh vi, có ảnh hưởng rộng lớn hơn

- Các quốc gia trên thế giới phụ thuộc lẫn nhau trên cả phương diện kinh tế, thương mại và những vấn đề mang tính toàn cầu như: biến đổi khí hậu, tội phạm xuyên quốc gia, di dân…

- Những khác biệt về văn hoá giữa các quốc gia ngày càng giảm và thói quen sinh hoạt của người dân cũng có sự thay đổi theo chiều hướng đồng nhất hoá Quá trình toàn cầu hoá cũng có thể làm lu mờ bản sắc văn hoá của các quốc gia

- Vai trò của các quốc gia với tư cách là chủ thể chính trong quan hệ quốc tế cũng bị suy giảm.Chính sách kinh tế của các quốc gia không thể chỉ đóng khung trong phạm vi biên giới lãnh thổ của riêng mình, mà còn phải tính đến thị trường toàn cầu – những yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của các nhà nước

Về bản chất, toàn cầu hoá chính là sự mở rộng hệ thống phân công lao động tất yếu ra toàn cầu dẫn tới sự kết nối và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên quy mô toàn cầu, làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong quá trình tồn tại, phát triển Quá trình này, như Mác đã từng nhận xét là “kéo dài vô tận” và khiến tính xã hội của quá trình tái sản xuất ngày càng cao

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới và toàn cầu hoá là sự xuất hiện ngày càng nhiều những vấn đề có tính toàn cầu Những vấn đề mà quốc gia và cộng đồng quốc tế đang phải giải quyết như: dịch bệnh, môi trường, tội phạm xuyên biên giới, khủng bố…Đối với các vấn đề này, không một quốc gia nào tự mình có thể giải quyết, mà cần có sự hợp tác, tham gia của nhiều nước Ví dụ hiện nay bệnh covid-19 cả thế giới cùng hợp sức chung tay phòng chống dịch Do đó, hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều các tổ chức, các thể chế quốc tế liên kết giữa

Trang 4

các quốc gia một cách chính thức hoặc phi chính thức để giải quyết những vấn đề vượt khỏi phạm vi quốc gia

Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu khách quan, đang lôi cuốn tất cả các quốc gia trên thế giới tham gia và tác động sâu rộng tới các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến sự vận động, phát triển của mỏi quốc gia, dân tộc Toàn cầu hoá là một quá trình có tác động hai chiều, cả tích cực lẫn tiêu cực, đem lại cả thời cơ, vận hội phát triển lẫn thách thức, nguy cơ hiểm hoạ khó lường đối với các quốc gia, dân tộc Toàn cầu hoá liên chặt chẽ và tác động qua lại biện chứng đối với quá trình hội nhập quốc tế của các nước nói chung và đối với Việt nam nói riêng Về thực chất, hội nhập quốc tế là tiến trình một quốc gia theo đuổi lợi ích, mục tiêu của mình thông qua việc tự giác, chủ động hợp tác, liên kết sâu rộng với các quốc gia khác trên nhiều lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng – an ninh… Dựa trên sự chia sẻ về nhận thức, lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và chủ động chấp nhận, tuân thủ, tham gia xây dựng các “luật chơi” chung, chuẩn mực chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế

2.2 Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ

Cách mạng khoa học - công nghệ

- Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự phát triển của khoa học công nghệ đã có những bước phát triển nhảy vọt Cuộc công nghiệp cách mạng lần thứ

tư đã làm thay đổi về cơ bản phương thức sản xuất của con người và được dự báo sẽ tạo ra những thay đổi mang tính đột phá, tác động tới tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội

- Thực tế cho thấy, sự phát triển vượt bật về khoa học công nghệ đã thúc đẩy xã hội phát triển với những bước tiến vượt bật Trong xu thế công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, internet xuất hiện đã làm thay đổi căn bản những hình thức tương tác giữa người dân và chính quyền, thông qua các mô hình chính phủ điện tử, làm cho chất lượng dịch vụ của chính quyển được cải thiện đáng kể, chính quyền hoạt động ngày càng minh bạch Hơn nữa, mạng xã hội còn tạo ra cuộc cách mạng cho các ngành thông tin truyền thông Với đặc tính mở, tương tác cao, internet, mạng xã hội đã trở thành diễn đàn quan trọng để mọi người có thể chia sẻ

Trang 5

thông tin Nó trở thành yếu tố ảnh hưởng tới tư tưởng, hành vi của cá nhân, nhóm, tổ chức, thậm chí toàn xã hội Nó đã phá vỡ giới hạn của không gian địa lý cũng như các phương thức truyền bá thông tin truyền thống

- Với thực tế này, sự ra đời của internet và mạng xã hội đã thúc đẩy quá trình xây dựng một nền chính trị dân chủ, trong đó đặt biệt tác động tới quyền được biểu đạt ý kiến và quyền được tiếp cận thông tin của người dân Trong các hoạt động chính trị, internet sẽ trở thành công cụ để người dân tham gia và ảnh hưởng tới các quyết định chính trị, góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hoá

- Từ góc độ vĩ mô, sự phát triển của internet và mạng xã hội cũng tạo ra những áp lực lên các chủ thể quyền lực chính trị ở các quốc gia Quá trình này đồng thời đang tạo ra những thách thức cho các cơ quan quyền lực nhà nước

3 Cơ chế thực thi quyền lực chính trị và những biến đổi trong tổ chức, thực thi quyền lực chính trị ở Việt Nam hiện nay

3.1 Cơ chế thực thi quyền lực chính trị ở Việt Nam

- Hệ thống chính trị Việt Nam được cấu thành bởi ba bộ phận cơ bản gồm: Đảng Cộng sản Việt nam, Nhà nước xã Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội Mỗi bộ phận có vị trí, vai trò khác nhau và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác nhau trong hệ thống chính trị, nhưng tất cả đều hướng đến mục tiêu chung của hệ thống chính trị là xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

- Các bộ phận trên gắn bó chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống chính trị thống nhất, vận hành theo cơ chế chủ đạo: “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”

- Để hoạt động với tư cách là một hệ thống thống nhất, các thành tố trong hệ thống phải thiết lập các mối quan hệ và sự tương tác với nhau Có thể nói, cơ chế

“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” thể hiện sự thống nhất về bản chất của hệ thống chính trị Việt Nam Cơ chế này xác định mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; xác định vai trò, địa vị làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

- Đảng lãnh đạo

Trang 6

Toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng thực hiện chức năng lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội nhằm phát huy, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

Sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện bằng các phương thức chính như: + Đảng xây dựng cương lĩnh, chủ trương, đường lối chính trị, định hướng cho sự phát triển của Nhà nước và xã hội; lãnh đạo Nhà nước thể chế hoá Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng và tổ chức thực hiện thông qua bộ máy nhà nước

+ Đảng lãnh đạo thông qua công tác cán bộ, thống nhất lãnh đạo và quản lý công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước Theo nội dung này, Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú để nhân dân lựa chọn bầu vào các cơ quan trong bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội

+ Đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng

cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội, kiểm tra các tổ chức đảng, cán bộ, công chức nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện đúng Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, những biểu hiện tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước cũng như trong đời sống xã hội

+ Đảng lãnh đạo bằng sự tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng Nội dung lãnh đạo này được quy định thành nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của từng chức danh quyền lực trong bộ máy Đảng và Nhà nước

- Nhà nước quản lý

+ Nhà nước là trung tâm của hệ thống chính trị, là tổ chức quyền lực công đại diện cho lợi ích của nhân dân và dân tộc Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

+ Trên cơ sở cương lĩnh, chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật, chính sách, các chương trình, kế hoạch hoạt động và quản lý xã hội theo Hiến pháp và pháp luật Sự quản lý của nhà

Trang 7

nước không trái với các chủ trương, đường lối, nghị quyết, quy định của Đảng; đồng thời cũng không hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân + Sự quản lý của Nhà nước lấy tiêu chí phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa, trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, xa dân, cửa quyền, hách dịch với dân

+ Trong điều kiện mới, để Nhà nước thực hiện tốt vai trò và chức năng của mình theo hướng kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, đòi hỏi phải xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước; xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước

- Nhân dân làm chủ

+ Trong Hiến pháp Việt Nam, tinh thần “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” cũng được khẳng định như một nguyên tắc quan trọng nhất trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước Mọi người dân, vượt lên trên sự khác biệt xã hội để hướng tới thực hiện mục tiêu chung của cả nước là xây dựng một xã hội

“phồn vinh, dân chủ, công bằng, văn minh, trật tự, kỷ cương, an toàn, bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân”

+ Đảng cộng sản Việt Nam cũng “đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng, bảo vệ tổ quốc Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện

+ Nhân dân làm chủ trực tiếp thông qua các hình thức, tự quản, tự quyết định các vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình ở cộng đồng, địa phương; tham gia các cuộc trưng cầu dân ý để quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước khi Nhà nước tổ chức

Trang 8

+ Nhân dân làm chủ gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện của mình là bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên Với tư cách là công dân, mỗi cộng dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân

+ Những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách , pháp luật của Nhà nước có quan hệ trực tiếp đến đời sống của quần chúng nhân dân đều là nội dung mà người dân được biết, được bàn, được thực hiện và được kiểm tra, giám sát việc thực hiện, được thụ hưởng

+ Mọi người dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân Các khiếu nại, tố cáo của người dân phải được tiếp nhận và giải quyết

3.2 Một số biến đổi trong tổ chức và thực thi quyền lực chính trị ở Việt nam hiện nay

3.2.1 Quyền lực chính trị ngày càng được thể chế hoá

- Là chủ thể lãnh đạo hệ thống chính trị, Đảng cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải nâng cao tính chính đáng quyền lực của mình trong đời sống xã hội Có thể thấy, chưa khi nào Đảng lại ban hành đồng bộ các quy định, quy chế như hiện nay, từ các nội dung về đổi mới hệ thống chính trị; xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược; thực hiện trách nhiệm người đứng đầu; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ; đấu tranh với các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hoá trong nội bộ Đảng… Cùng với việc ban hành hệ thống quy chế là quyết tâm chính trị trong việc phát hiện, xử lý nghiêm minh các trường hợp tham nhũng, tiêu cực, các sai phạm của các tổ chức đảng và đảng viên theo tinh thần “không có ngoại lệ, không có vùng cấm, bất kể đó là ai”

Trang 9

- Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền cũng làm gia tăng đáng kể quá trình thể chế hoá các quan hệ quyền lực Với tinh thần thượng tôn pháp luật, tất cả các chủ thể chính trị đều phải đặt mình dưới pháp luật và chịu sự ràng buộc của pháp luật Pháp luật không chỉ có công cụ để Nhà nước quản lý và điều hành xã hội, mà nó còn là phương tiện để giới hạn quyền lực nhà nước, là công cụ để bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân, đồng thời cũng là công cụ để người dân bảo vệ các quyền lợi của mình khi bị chính các cơ quan nhà nước xâm hại

- Trên tinh thần Hiến pháp năm 2013, hệ thống pháp luật Việt Nam từng bước được hoàn thiện theo tiêu chí của một Nhà nước pháp quyền Các mối quan hệ Nhà nước – công dân, Nhà nước – thị trường, Nhà nước – doanh nghiệp được nhận thức lại và thay đổi từ chỗ mang nặng tình quản lý sang theo hướng nhà nước kiến tạo, phát triển Hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, toàn diện và đồng bộ, phù hợp hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường Đảm bảo tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được thực hiện có hiệu lực, hiệu quả, Quốc hội đã ban hành các đạo luật như: Luật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sữa đổi năm 2020), Luật Cán bộ, công chức…

- Để đảm bảo quyền tự do kinh doanh và quyền con người, nhiều đạo luật quan trọng đã được ban hành nhằm cụ thể hoá các quyền này như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Báo chí, Luật Trưng cầu ý dân… Chế định quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 được bổ sung một số nội dung quan trọng Trên cơ sở đó, các đạo luật về bảo vệ quyền con người, quyền công dân tiếp tục được hoàn thiện

- Trong thời gian tới, Quốc hội cần tiếp tục “Đẩy mạnh việc hoàn thiện, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, hiện đại, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, có sức cạnh tranh quốc tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân” Công việc cụ thể không chỉ là việc ban hành đủ, đồng bộ và kịp thời các bộ luật và văn bản dưới luật, mà còn bao gồm cả việc nâng cao nhận thức xã hội về ý thức tôn trọng pháp luật cho cán bộ, đảng viên và toàn

Trang 10

xã hội Biến khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” thành một nét của văn hoá công dân

3.2.2 Sự gia tăng mức độ phân cấp, phân quyền, chuyển một phần quyền lực từ Nhà nước sang cho người dân

- Quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước ở nước ta trong những năm qua cho thấy sự chuyển đổi dần từ mô hình tập trung sang mô hình phi tập trung quyền lực Đây chính là sự phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa chức năng, nhiệm vụ với năng lực và điều kiện thực tế của các cấp Thực chất quá trình này nhằm tăng thêm tính chủ động, tính chịu trách nhiệm, sự năng động của chính quyền địa phương, khắc phục được tình trạng đùn đẩy trách nhiệm

- Quá trình này cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển dân chủ thông qua việc cung cấp những cơ hội tốt hơn để người dân tham gia trực tiếp vào các quá trình ra quyết định của các cơ quan nhà nước; tăng cường hiệu quả của việc cung cấp các dịch vụ công; thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội dựa trên sự am hiểu chính xác điều kiện kinh tế – xã hội và các đặc điểm về địa lý, dân cư… của chính quyền địa phương Trong quá trình tổ chức thực hiện chủ trương này cũng đã xuất hiện một số vấn đề cần được nghiên cứu, hoàn thiện, nhưng đây là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Văn kiện Đại hội đại biểu lần XIII của Đảng nhấn mạnh sự cần thiết phải “Đổi mới cơ chế phân cấp, phân quyền của Trung ương và địa phương” Đây cũng là một trong những yêu cầu trong phát triển hiện nay

- Xu hướng chuyển dịch một phần quyền lực nhà nước sang cho người dân và xã hội cũng tương đồi rõ nét trong những năm gần đây Cụ thể, phạm vi quyền lực nhà nước đã có sự điều chỉnh Quyền lực nhà nước, các nguồn lực của nhà nước được ưu tiên sử dụng để khắc phục các thất bại của thị trường và nhằm thực hiện những mục tiêu của Nhà nước Nhiều lĩnh vực trước đây thuộc phạm vi thẩm quyền của Nhà nước, đến nay đã được trao cho thị trường thông qua hình thức xã hội hoá hoặc đối tác công – tư Nhiều thủ tục hành chính trước đây do Nhà nước đảm nhận, giờ khu vực tư nhân có thể tham gia

Ngày đăng: 12/05/2022, 23:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w