1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trình bày dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm (Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015). Chỉ ra điểm giống và khác nhau về mặt khách quan giữa tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm (Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2015).

11 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 84,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING TIỂU LUẬN MÔN LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỀ SỐ 7 Trình bày dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm (Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015) Chỉ ra điểm giống và khác nhau về mặt khách quan giữa tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm (Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2015) Họ và tên TRÌNH QUỐC HIÊN Ngày, tháng, năm sinh MSSV Lớp Ngành Luật Kinh tế Hà Nội, 122021 HÀ NỘI, 2010 MỞ ĐẦU Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi nh.

Trang 1

ggggg njj

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING

TIỂU LUẬN MÔN:

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

ĐỀ SỐ 7 Trình bày dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm (Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015) Chỉ ra điểm giống và khác nhau về mặt khách quan giữa tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm (Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2015).

Họ và tên: TRÌNH QUỐC HIÊN

Ngày, tháng, năm sinh:

MSSV:

Lớp:

Ngành: Luật Kinh tế

Hà Nội, 12/2021

Trang 2

MỞ ĐẦU

Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam năm 2013 ghi nhận: "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh

dự, nhân phẩm” Mọi hành vi xâm phạm thân thể, sức khỏe, danh dự,

nhân phẩm, tài sản, quyền tự do và quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân đều được xử lý nghiêm minh trước pháp luật Trong đó hành

vi xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục được coi là tội phạm và bị xử lý theo quy định của pháp luật Để hiểu rõ hơn về các dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm, từ đó làm cơ sở để phân biệt, chỉ ra điểm giống và khác nhau về mặt khách quan giữa tội hiếp dâm và tội

cưỡng dâm, do vậy em lựa chọn đề tài: “Trình bày dấu hiệu pháp lý

của tội hiếp dâm (Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015) Chỉ ra điểm giống và khác nhau về mặt khách quan giữa tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm (Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2015).”

NỘI DUNG

I Tội hiếp dâm trong Luật hình sự Việt Nam

1 Khái niệm về tội hiếp dâm trong Luật hình sự Việt Nam

Hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân

2 Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141 Bộ luật hình

sự năm 2015

Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

Điều 141 Tội hiếp dâm

1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác

Trang 3

giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt

tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân

mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt

tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân

mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4 Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

Trang 4

5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

3 Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm tại Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015

3.1 Mặt khách thể

Tội hiếp dâm xâm phạm trực tiếp đến nhân phẩm, danh dự của nạn nhân, ngoài ra còn có thể xâm phạm đến sức khỏe gồm sức khỏe

về thể chất và sức khỏe về tinh thần hoặc gián tiếp xâm phạm đến tính mạng của nạn nhân (làm nạn nhân chết hoặc tự sát), xâm phạm đến trật tự trị an của xã hội

Do đó, khách thể của tội phạm là quyền bất khả xâm phạm về tình dục của con người; thân thể, nhân phẩm, danh dự, sức khỏe của con người; và trật tự an toàn xã hội

3.2 Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội hiếp dâm được thể hiện qua một trong các hành vi dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất, có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực Việc

sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực là nhằm uy hiếp vô hiệu hóa khả năng kháng cự của nạn nhân, tức làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân để giao cấu với họ Nhưng không được sự chấp thuận của họ, trái ý muốn với họ

Dùng vũ lực: dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại việc giao cấu như xô ngã, bóp cổ, giữ, vật lộn, bịt miệng, đánh,…nạn nhân Những hành vi đó nhằm làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân để người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu

Đe doạ dùng vũ lực: người phạm tội chưa thực hiện những hành

vi dùng vũ lực, chưa có bất kỳ một sự tác động vật chất nào lên người nạn nhân, mà thực hiện các hành vi đe doạ dùng vũ lực nhằm uy hiếp về mặt tinh thần Sự uy hiếp này mang tính chất mạnh mẽ khiến cho người phụ nữ không dám chống cự, bị tê liệt ý chí và để người phạm tội giao cấu mình

Trang 5

Thứ hai, có hành vi lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác để giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ.

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân được hiểu

là tình trạng lạm nhân có những nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần như bị què, cụt chân tay, bị tâm thần… không có khả năng kháng cự lại việc giao cấu của người phạm tội Trong trường hợp này người phạm tội không nhất thiết phải sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực vẫn có thể giao cấu được với lại nhân nhưng trái với ý muốn của nạn nhân

Thứ ba, có hành vi dùng thủ đoạn khác để giao cấu với nạn nhân Được hiểu là các thủ đoạn ngoài các hành vi nêu trên của

chính người phạm tội thực hiện làm cho nạn nhân không biết hoặc rơi vào tình trạng không có khả năng nhận thức tạm thời như cho bệnh nhân uống thuốc mê, thuốc kích dục, cho uống rượu say, hứa hẹn cho tốt nghiệp, cho đi học, đi thi đấu, đi biểu diễn ở nước ngoài để giao cấu… để giao cấu với nạn nhân mà không được sự đồng ý của họ

Thứ tư, có hành vi quan hệ tình dục khác như quan hệ qua đường hậu môn bằng miệng trái với ý muốn của nạn nhân.

Giao cấu có thể được hiểu như sau:

Theo từ điển tiếng Việt thì khái niệm “giao cấu” được hiểu là:

“Giao cấu là việc giao tiếp bộ phận sinh dục ngoài của giống đực với

bộ phận sinh dục của giống cái, ở động vật, để thụ tinh”

Vào năm 1967 Tòa án nhân dân tối cao có một văn bản tổng kết

về tình trạng tội phạm hiếp dâm có nhắc đến khái niệm “giao cấu”

Cụ thể: “giao cấu là hành động chỉ cần có sự cọ sát trực tiếp dương vật vào bộ phận sinh dục của người phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với ý thức ấn vào trong không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh hay không là tội Hiếp dâm được coi là hoàn thành, vì khi đó nhân phẩm danh dự của người phụ nữ đã

bị chà đạp”

Theo quy định tại khoản 1 điều 3 Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định về các tội xâm hại tình dục trong Bộ luật Hình sự nêu định nghĩa giao cấu như sau:

Trang 6

“1 Giao cấu quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào.

Giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâm nhập.”

Theo quy định trên thì giao cấu được hiểu là một người chủ động dùng bộ phận sinh dục của mình tiếp xúc với các bộ phận khác trên

cơ thể của đối phương, bất kể là đồng giới hay khác giới Giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâm nhập

Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội có hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân, không kể việc hành vi giao cấu hay thực hiện quan hệ tình dục khác đã kết thúc hay chưa Hay chưa cần việc giao cấu đã kết thúc về mặt sinh lý thì tội phạm hiếp dâm đã được coi là hoàn thành Nếu người phạm tội mới thực hiện hành vi dùng bạo lực, đe dọa dùng bạo lực hoặc sử dụng các thủ đoạn khác để giao cấu trái ý muốn của nạn nhân, nhưng chưa kịp giao cấu vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội như đã bị ngăn chặn thì phạm tội chưa đạt và họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm Nếu người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm thì họ không

bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm, nhưng có thể bị truy cứu về các tội khác (nếu có đủ các yếu tố cấu thành) như: Làm nhục người khác, cố ý gây thương tích,…

3.3 Mặt chủ quan

Lỗi của người phạm tội hiếp dâm là lỗi cố ý được quy định tại Điều 10 Bộ luật hình sự năm 2015 Người phạm tội nhận thức được hành vi giao cấu của mình trái ý muốn với nạn nhân, và nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả xảy ra nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi bằng các thủ đoạn nêu trên

3.4 Chủ thể của tội phạm

Trang 7

Chủ thể của tội phạm hiếp dâm được quy định tại Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015 là con người có đủ điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Chủ thể này phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự, năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi tất yếu của

xã hội Để có được năng lực này con người phải đạt độ tuổi nhất định

Do vậy, độ tuổi cũng là điều kiện của chủ thể của Tội hiếp dâm

Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” Quy định này cho thấy, một người được coi là trong tình trạng

không có năng lực trách nhiệm hình sự khi thoả mãn hai dấu hiệu: Dấu hiệu y học, mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động thần kinh và dấu hiệu tâm lý, mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi

Theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 2 Điều 12 và Điều 141

Bộ luật hình sự năm 2015 thì chủ thể của tội hiếp dâm là người từ đủ

14 tuổi trở lên Quy định này dựa trên cơ sở nghiên cứu tâm sinh lý con người Việt Nam, truyền thống lập pháp và chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thường thì chủ thể thực hiện hành vi hiếp dâm

là nam giới, nữ giới thường là nạn nhân, tuy nhiên nữ giới cũng có thể

là chủ thể của tội này, nhưng các trường hợp nữ giới là người trực tiếp thực hiện hành vi thì không nhiều mà thường tham gia trong vụ

án đồng phạm hiếp dâm với vai trò là người xúi giục, người giúp sức hay người tổ chức

II Điểm giống và khác nhau về mặt khách quan giữa tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm (Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2015)

1 Tội cưỡng dâm được quy định tại Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2015

“Điều 143 Tội cưỡng dâm

1 Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu

Trang 8

hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt

tù từ 01 năm đến 05 năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

03 năm đến 10 năm:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Cưỡng dâm 02 lần trở lên;

c) Cưỡng dâm 02 người trở lên;

d) Có tính chất loạn luân;

đ) Làm nạn nhân có thai;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà

tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; h) Tái phạm nguy hiểm.

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

10 năm đến 18 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà

tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

c) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4 Cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ

02 năm đến 07 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Như vậy có thể hiểu, cưỡng dâm được hiểu là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến người đang bị lệ thuộc vào người phạm tội hoặc đang

ở trong tình trạng quẫn bách phải do cấu hoặc thực hiện hành vi

Trang 9

2 Điểm giống và khác nhau về mặt khách quan giữa tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm (Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2015)

2.1 Điểm giống nhau về mặt khách quan giữa tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm

Tội hiếp dâm (Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015) và tội cưỡng dâm (Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2015) đều có hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác với nạn nhân

Giao cấu được hiểu là một người chủ động dùng bộ phận sinh dục của mình tiếp xúc với các bộ phận khác trên cơ thể của đối phương, bất kể là đồng giới hay khác giới Giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâm nhập

Quan hệ tình dục khác là những hành vi quan hệ tình dục không phải hành vi giao cấu nhưng vẫn nhằm làm thỏa mãn nhu cầu tình dục của người phạm tội (ví dụ: người phạm tội sử dụng tay, chân, lưỡi, miệng, các dụng cụ tình dục hoặc bất cứ công cụ nào khác để kích thích âm đạo, dương vật hoặc hậu môn của người bị hại hoặc người phạm tội đưa bộ phận sinh dục của mình vào miệng hoặc hậu môn của người bị hại nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục)

2.2 Điểm khác nhau về mặt khách quan giữa tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm

Thứ nhất, cách thức thực hiện hành vi phạm tội:

Người phạm tội hiếp dâm Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015 thực hiện hành vi phạm tội bằng cách dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác giao cấu trái ý muốn của nạn nhân, giữa nạn nhân và người phạm tôi không có sự lệ thuộc hoặc nạn nhân không ở tình trạng quẫn bách

Dùng vũ lực: dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại việc giao cấu như xô ngã, bóp cổ, giữ, vật lộn, bịt miệng, đánh … nạn nhân Những hành vi đó nhằm làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân để người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu

Trang 10

Đe doạ dùng vũ lực: người phạm tội chưa thực hiện những hành

vi dùng vũ lực, chưa có bất kỳ một sự tác động vật chất nào lên người nạn nhân, mà thực hiện các hành vi đe doạ dùng vũ lực nhằm uy hiếp về mặt tinh thần Sự uy hiếp này mang tính chất mạnh mẽ khiến cho người phụ nữ không dám chống cự, bị tê liệt ý chí và để người phạm tội giao cấu mình

Thủ đoạn khác như: cho nạn nhân uống thuốc kích thích, lợi dụng

sự kém hiểu biết của nạn nhân để dụ dỗ nạn nhân giao cấu Đây là một quy định mở nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống có hiệu quả hành vi phạm tội hiếp dâm

Trong khi Tội cưỡng dâm Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2015 thực hiện hành vi khách quan bằng thủ đoạn lợi dụng sự lệ thuộc của người bị hại vào người phạm tội hoặc lợi dụng sự quẫn bách của họ buộc họ phải miễn cưỡng giao cấu Dùng mọi thủ đoạn như: lừa phỉnh, mua chuộc, dụ dỗ, đe doạ hoặc bằng tình cảm, bằng tiền bạc,

có khi chỉ là một lời hứa… miễn là thực hiện được ý đồ giao cấu với người bị hại hoặc lợi dụng người bị hại đang ở trong tình trạng quẫn bách để họ phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với mình Việc giao cấu không trái với

ý muốn của người bị hại, giữa người bị hại và người phạm tội có mối quan hệ nhất định Tội phạm được coi là hoàn thành từ khi bị hại phải miễn cưỡng giao cấu với người phạm tội

Thứ hai, tình trạng của nạn nhân:

Đối với tội hiếp dâm Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015 thì người phạm tội có thể lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân để giao cấu Tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân có thể là nạn nhân bị bệnh động kinh, bệnh tâm thần hoặc người thứ ba gây ra, hoặc do người phạm tội tạo ra (người phạm tội cho nạn nhân uống thuốc mê), hoặc do các nguyên nhân khách quan khác (nạn nhân bị say xỉn, bị bất tỉnh, bị ốm đau bệnh tật mà sức khoẻ yếu…) Trong khi đối với tội cưỡng dâm Điều 143 Bộ luật hình sự năm

2015 thì tình trạng quẫn bách của người bị hại (nạn nhân) trong vụ

án cưỡng dâm là người bị hại vẫn còn nhận thức được, còn khả năng

tự vệ nhưng vì sự lệ thuộc hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách

Ngày đăng: 12/05/2022, 15:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w