h LỜI NÓI ĐẦU Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là yếu tố quyết định cấu thành nên giang sơn đất nước Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được đất đai như ngày nay Tiếp tục bảo vệ và quản lý để sử dụng đất đai một cách hiệu quả hơn,.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là yếu tố quyếtđịnh cấu thành nên giang sơn đất nước Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, làthành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khudân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng Trảiqua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo
vệ được đất đai như ngày nay Tiếp tục bảo vệ và quản lý để sử dụng đất đai mộtcách hiệu quả hơn, phục vụ tốt hơn đời sống của nhân dân là nhiệm vụ hàng đầucủa chúng ta hiện nay cũng như của các thế hệ mai sau
Việt Nam gắn liền với lịch sử khẩn hoang, xây dựng đất nước và bảo vệlãnh thổ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trải qua hàng nghìn năm dựngnước và giữ nước, từ thời các Vua Hùng, thời kỳ phong kiến, thời kỳ Phápthuộc và thời kỳ đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước cho đến nay, vấn đềđất đai và quản lý đất đai luôn là vấn đề quan trọng
Ngành Quản lý đất đai tính từ khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh
số 41/SL ngày 03 tháng 10 năm 1945 đánh dấu sự mở đầu cho hoạt động quản lýđất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, đến nay đã trải qua 70 năm xâydựng và phát triển Ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào, Ngành Quản lý đất đai ViệtNam đều có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc
Để phát huy vai trò, truyền thống của Ngành Quản lý đất đai Việt Namtrong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 11 tháng 6 năm 2010 Thủ tướngChính phủ đã ban hành Quyết định số 850/QĐ-TTg về Ngày truyền thống củaNgành Quản lý đất đai Việt Nam (ngày 03 tháng 10 năm 1945) Kỷ niệm 70 nămNgày truyền thống Quản lý đất đai Việt Nam nhằm tôn vinh, cổ vũ, động viêncác thế hệ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động toàn ngành tăng cường
sự đoàn kết, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tiếp tục nỗ lực phấn đấu cùng vớicùng với các tầng lớp trong xã hội, tích cực tham gia để Ngành Quản lý đất đaiphát triển một cách bền vững, thực sự là một ngành mũi nhọn không thể thiếutrong sự nghiệp xây dựng đất nước
Trang 2Phần thứ nhất QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VIỆT NAM
Chương 1 QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN VÀ PHÁP THUỘC
Việt Nam là một trong những nước có lịch sử dựng nước và giữ nước lâuđời trên thế giới Do các yếu tố tự nhiên cũng như do các biến chuyển của thếgiới, lịch sử Việt Nam đã gắn liền với lịch sử phát triển của nền văn minh lúanước, trong đó khai khẩn và bảo vệ đất trồng trọt có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
1 Quản lý đất đai thời kỳ Bắc thuộc (có ảnh minh họa)
Bắc thuộc là thời kỳ rất dài (hơn 1.000 năm) trong lịch sử dựng nước vàgiữ nước của dân tộc Việt Nam Thời kỳ này không chỉ chế độ sở hữu và quản lýđất đai, mà còn cả thể chế chính trị, kinh tế đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của chínhquyền đô hộ phương Bắc
Trải qua hơn 1.000 năm Bắc thuộc, công cuộc khai phá đất đai, xây dựngxóm làng vẫn được nhân dân Việt Nam thực hiện; ruộng đồng của các làng xãViệt Nam ngày càng được bồi đắp; xây dựng đê điều, thủy lợi tại một số vùng.Ngày nay, dù chưa có đủ số liệu nghiên cứu, phản ánh kết quả của công cuộckhai hoang thời đó, nhưng có một điều có thể khẳng định chắc chắn rằng, trongthời kỳ này ruộng đất đã được mở rộng nhiều và trở thành nguồn thuế chủ yếu đểchính quyền đô hộ duy trì hoạt động của bộ máy, cũng như chuyên chở về nộpcho nhà nước ở chính quốc
Trong thời kỳ này, sự phân hóa trong sở hữu ruộng đất đã bắt đầu Xuấthiện một số chủ trang trại, một số địa chủ, một số hào trưởng địa phương caiquản đất đai trong vùng
2 Quản lý đất đai thời kỳ phong kiến
Những cuộc đấu tranh kiên trì, liên tục nhằm giành lại độc lập dân tộccủa nhân dân Việt Nam ở đầu thế kỷ X, dẫn đến thắng lợi năm 905 của cuộc khởinghĩa của Khúc Thừa Dụ, lật đổ chính quyền đô hộ, kết thúc thời Bắc thuộc,giành lại tự do cho các bộ tộc sinh sống trên đất An Nam Cuộc kháng chiếnthắng lợi do Ngô Quyền lãnh đạo chống quân xâm lược Nam Hán đã một lần nữakhẳng định nền độc lập của người Việt trên đất An Nam
Giai đoạn phát triển độc lập diễn ra trong gần 10 thế kỷ đồng thời cũng làthời kỳ hình thành và thống trị của chế độ phong kiến với các triều đại Khúc,
Trang 3Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn kế tiếp nhau thốngtrị đất nước Mặt khác, thời đại phong kiến độc lập cũng là thời kỳ hình thành ổnđịnh một quốc gia Việt Nam độc lập, bắc giáp Trung Quốc lấy ải Nam Quan làmmốc, đông giáp biển Đông (điểm cực đông: 109 độ 27’55'' kinh độ đông; tại mũiHòn Đôi trên bán đảo Hòn Gốm huyện Vạn Ninh), nam giáp biển Nam, lấy mũi
Cà Mau làm mốc, tây giáp hai nước Ai Lao và Campuchia với giải Trường Sơnngăn cách
Thời kỳ phong kiến, do vai trò đặc biệt quan trọng của đất đai, các Nhànước phong kiến Việt Nam đã quan tâm đến công tác quản lý đất đai, mà trước hết
là việc đưa ra các chính sách, pháp luật điều tiết các quan hệ về đất đai Chính sáchđất đai trước hết tập trung vào việc thu thuế điền và xác định các hình thức sở hữu
về đất đai như sở hữu tư nhân, sở hữu công làng xã và sở hữu trực tiếp của Nhànước "Đất vua, chùa làng" Để quản lý, Nhà nước phong kiến đã có chính sách quản
lý tối cao đến toàn bộ ruộng đất, đo đạc ruộng đất, lập sổ phục vụ thu tô; thực hiệnchế độ hạn điền; Chính quyền phong kiến khuyến khích người dân, một số tướnglĩnh, viên chức nhà nước khai phá đất hoang lập làng, mở rộng ruộng đồng, di dân
tự do đến vùng đất mới; đồng thời Nhà nước cũng tổ chức khai hoang dưới hìnhthức đồn điền; mua bán ruộng đất tư nhân được thừa nhận
Triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê
Đặc điểm về chính sách quản lý ruộng đất đai thực hiện quyền sở hữu vàquản lý tối cao của nhà nước bao trùm lên tất cả ruộng đất công của làng xã vàcác loại hình tư hữu; các triều đại khai hoang, mở rộng vùng đất phía Nam Côngcuộc khẩn hoang, mở đất này được tiến hành dưới hình thức nhà nước vận độngnông dân di cư vào khai hoang để cùng chung sống với cư dân các tộc người địaphương như Chăm, Vân Kiều, Chứt v.v Mỗi triều đại đều lựa chọn cho mình cácphương pháp xử lý các mối quan hệ về đất đai theo cách riêng, phù hợp với từnggiai đoạn phát triển của nền kinh tế - xã hội, lợi ích cụ thể của giai cấp thống trị
và yêu cầu xây dựng của nhà nước đương thời Nhà Lý đã định sổ ruộng đất phục
vụ thu tô; Nhà Trần thừa nhận mua bán ruộng đất của tư nhân; Nhà Hồ đo đạcthành lập sổ ruộng có quy mô và sự tập trung lớn nhất; Nhà Lê quy định hệ thốngđơn vị đo lường đất đai thống nhất trong toàn bộ nước Đại Việt đồng thòi nắmchắc quỹ đất trong toàn quốc phục vụ thu thuế và thực hiện các chính sách ruộngđất, cũng như nghĩa vụ của chủ ruộng đất
Triều đại nhà Nguyễn
Ngay trong những năm đầu trị vi đất nước, nhà Nguyễn đã ban hành bộluật thứ hai của nước ta mang tên "Hoàng Việt Luật lệ" (còn gọi là Bộ luật GiaLong) Bộ luật Gia Long tập trung bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất, đảm bảo việc
Trang 4thu thuế Thực chất, các điều luật này nhằm bảo vệ sở hữu ruộng đất theo hướngquốc hữu hóa kết hợp với hạn chế tư hữu, tăng cường các biện pháp duy trì, bảo
vệ và mở rộng loại hình ruộng đất thuộc sở hữu công xã nhưng vẫn tôn trọng vàbảo vệ ruộng đất tư và tài sản liên quan đến ruộng đất tư; đồng thời cũng quyđịnh việc mua bán, cầm cố, thừa kế ruộng đất Triều đại phong kiến nhà Nguyễn
tổ chức đo đạc ghi chép đầy đủ từng mảnh ruộng, sở đất, con đường, khu rừng,núi sông vào sổ địa bạ của mỗi làng, từ thành thị đến vùng biên cương Côngtrình đo đạc, thành lập địa bạ trên quy mô toàn quốc của nhà Nguyễn là côngtrình to lớn và có ý nghĩa nhất trong lịch sử quản lý đất đai thời phong kiến ViệtNam, đóng góp rất quan trọng trong việc hoạch định các chính sách đất đai, quản
lý đất đai và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam ở thế kỷ thứ XIX Ngoài ra, nhàNguyễn còn thực hiện đo đạc, vẽ bản đồ, cắm cột mốc dựng bia tại Hoàng Sa,Trường Sa; thực hiện chính sách khai hoang, do ruộng công ngày càng thu hẹplại, số nông dân không có ruộng đất ngày càng nhiều, nhà Nguyễn buộc phải banhành hàng loạt chính sách khuyến khích khai hoang: đồn điền, doanh điền, tựđộng khai hoang; đối với ruộng đất tư hữu, nhà Nguyễn công nhận quyền sở hữucủa người chủ, nghĩa là nếu các công trình công cộng lấn chiếm vào ruộng đất tưcủa ai thì Nhà nước sẽ đền bù bằng tiền
3 Quản lý đất đai thời kỳ Pháp thuộc
Cuối thế kỷ XIX, sau khi kết thúc giai đoạn chiến tranh xâm lược, thựcdân Pháp chia nước ta thành ba Kỳ (Bắc Kỳ - Trung Kỳ - Nam Kỳ) và chú trọngphát triển chế độ sở hữu lớn về ruộng đất ở Nam Kỳ, duy trì chế độ công điền vàchế độ sở hữu nhỏ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ Trên cơ sở phân kỳ đất nước như vậy,chính quyền đô hộ của thực dân Pháp đã thiết lập hệ thống quản lý đất đai trênlãnh thổ Việt Nam theo ba cấp: Cơ quan quản lý Trung ương là Sở Địa chínhthuộc Thống sứ Bắc Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ hoặc Thống đốc Nam Kỳ; Cơ quancấp tỉnh là Ty Địa chính; cấp cơ sở làng xã có nhân viên địa chính ở Bắc Kỳ và ởNam Kỳ
Để phục vụ cho việc thu thuế, quản lý đất đai và thiết lập hồ sơ địa chính,
từ năm 1871, chính quyền đã tiến hành đo đạc bản đồ địa chính ở Nam Kỳ, sau
đó công việc đo đạc được triển khai ra khắp lãnh thổ Các bản đồ được thành lậpbao gồm bản đồ đo đạc, bản đồ giải thửa, bản phác họa giải thửa
Ở Trung Kỳ áp dụng chế độ quản thủ địa chính Sở Bảo tồn Điền trạch ởTrung Kỳ được thành lập năm 1930 sau đó đổi thành Sở Bảo tồn Địa chính Việcquản thủ địa chính ở Trung Kỳ chủ yếu thực hiện các công việc như đo đạc giảithửa, lập địa bạ, điền bạ và sổ cấp chủ sở hữu Lúc này, ở Bắc Kỳ cũng áp dụngchế độ quản thủ địa chính Sở Địa chính Bắc Kỳ được thành lập năm 1906 Từnăm 1921 đến năm 1928 các tỉnh Bắc Kỳ đã tiến hành lập các Ty Địa chính để
Trang 5thực hiện việc quản thủ địa chính Việc quản thủ địa chính bao gồm đo giải thửa,lập sổ địa chính, sổ điền bạ, sổ khai báo chuyển dịch đất đai và việc cập nhậtthường xuyên các biến động vào các tài liệu trên.
Riêng Nam Kỳ áp dụng chế độ quản thủ điền thổ Năm 1867 người Pháplập Sở Địa chính Sài Gòn, năm 1869 lập Sở Địa chính Nam Kỳ Nhiệm vụ củacác Sở Địa chính là thực hiện công tác đo đạc, lập bản đồ giải thửa phục vụ việcquản thủ điền thổ Theo nghị định của chính quyền Pháp ngày 16-5-1891 về chế
độ quản thủ địa bộ, Tỉnh trưởng đảm nhận việc quản thủ địa bộ và thực hiện côngviệc điều tra chủ sở hữu, sắp hạng ruộng đất đăng ký theo số liệu địa chính đã đođạc xong, cấp trích lục cho chủ sở hữu Nơi có Ty bảo thủ điền thổ sau sắc lệnhnăm 1895 thì quản thủ điền thổ kiêm nhiệm quản thủ địa bộ
Về chế độ chiếm hữu ruộng đất, thực dân Pháp ủng hộ sở hữu của địachủ phong kiến, thực dân Trước năm 1945, địa chủ phong kiến và thực dânchiếm trên 50% đất canh tác, trong khi đó, nông dân chiếm 97% số hộ nhưng chỉchiếm giữ 36% diện tích Nếu tính riêng người Pháp, mặc dù chỉ chiếm 0,0016%dân số sinh sống ở Việt Nam (1943) nhưng đã chiếm 9,5% diện tích đất canh tác
cả nước (2,4% ở miền Bắc và 13.1 % ở miền Nam) Thời kỳ này ở nông thônViệt Nam có 59,2% số hộ nông dân không có ruộng đất phải cầy thuê, cuốcmướn.1
Thời thuộc Pháp tô và thuế đất đều cao (địa tô chiếm 50% có lúc tới 70%sản lượng thu hoạch)2
Nhận thức rõ tình trạng bất công trong sử dụng, phân chia lợi ích từ đấtcủa chế độ thực dân - phong kiến, nhân dân Việt Nam đã liên tục nổi dậy chốnglại chế độ thực dân, cả nước đã vùng lên chống thực dân Pháp xâm lược Nhậnthức rõ bối cảnh ấy, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóngdân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp Tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã lãnh đạo đã thúc đẩy phong trào công nhân và phongtrào nông dân phát triển lên trình độ cao; thống nhất các tổ chức cộng sản ở trongnước, chính thức thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam
đã lãnh đạo nhân dân từng bước tiến hành chính sách đất đai phù hợp với cáchmạng giải phóng dân tộc Mốc son đầu tiên là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh(1930-1931) Trong phong trào này (từ tháng 9 năm 1930 đến đầu năm 1931)chính quyền Xô viết đã thực hiện quyền làm chủ của quần chúng, điều hành mọimặt đời sống xã hội Về đất đai: chia lại công điền, công thổ cho cả nam và nữ
Thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa Tháng Tám(1939-1945), mặc dù đưa lên hàng đầu nhiệm vụ giành độc lập, Đảng vẫn không
1 Xem: Tổng cục Thống kê : Số liệu thống kê Việt nam thế kỷ XX, Nxb Thống kê Hà Nội 2004, Quyển 1.
2Xem: Tổng cục Thống kê: Số liệu thống kê Việt Nam Thế kỷ XX, Nxb Thống kê Hà Nội 2004, Quyển 1, tr
Trang 616-quên nhiệm vụ đưa ruộng đất về cho dân cày Hội nghị Ban chấp hành Trungương Đảng (đầu tháng 11 năm1939) đã xác định mục tiêu chiến lược trước mắt làđánh đổ đế quốc và tay sai, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ chủ
trương tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản động
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Cách mạng Tháng Támnăm 1945 thành công Ngày 02 tháng9 năm1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thaymặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử, tuyên bố với nhândân cả nước và thế giới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Sựkiện này đã đánh đấu một kỷ nguyên mới độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúccho nhân dân, đồng thời cũng đặt nền móng cho việc thiết lập hệ thống chínhsách, pháp luật đất đai và bộ máy quản lý đất đai của Nhà nước dân chủ nhân dân
trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Chương 2 QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NAY
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra một kỷ nguyênmới của nước Việt Nam, kỷ nguyên dân tộc độc lập, dân quyền, dân chủ Trải qua
70 năm, kể từ ngày 03 tháng10 năm1945 cho đến nay, ngành Quản lý đất đai ViệtNam đã trưởng thành và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau với cơcấu tổ chức, tên gọi khác nhau Quá trình hình thành và phát triển của Ngànhtheo các giai đoạn sau:
1 Giai đoạn 1945-1954
Sau khi giành được độc lập, chính quyền nhân dân đã phải đương đầu với
rất nhiều khó khăn Tình trạng kinh tế kiệt quệ, đặc biệt là nạn đói ở miền Bắc doNhật, Pháp gây ra chưa được khắc phục, 50% ruộng đất bị bỏ hoang, lũ lụt, hạn hán,công nghiệp đình đốn Trong muôn vàn khó khăn, Nhà nước cách mạng non trẻdưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không quên nhiệm vụ cải cách chế
độ chiếm hữu ruộng đất và thiết lập chế độ mới về quản lý và sử dụng đất đai
Ngay khi được thành lập, Chính quyền cách mạng đã tiếp nhận cơ quanphụ trách về quản lý đất đai của Phủ Toàn quyền Đông Dương là Sở Trước bạ -Văn tự - Quản thủ điền thổ và Thuế trực thu và đặt trực thuộc Bộ Tài chính (Sắclệnh số 41/SL ngày 03-10-1945 của Chủ tịch nước) Sau đó ngành Địa chính đượcthành lập (Sắc lệnh số 75/SL ngày 29-5-1946 của Chủ tịch nước) với tên gọi NhaTrước bạ - Công sản - Điền thổ, kèm theo đó là hệ thống các đơn vị trực thuộc ở 3cấp: tỉnh, huyện, xã có nhiệm vụ duy trì, bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất và thuthuế điền thổ
Năm 1947, Nha Địa chính được sáp nhập vào Bộ Canh nông theo Sắc
Trang 7lệnh số 11/SL ngày 02-02-1947 của Chủ tịch nước về sáp nhập Nha Địa chínhvào Bộ Canh nông và Sắc lệnh số 11-b/SL ngày 02-02-1947 của Chủ tịch nước
về sáp nhập các Sở, Ty Địa chính trong toàn quốc vào Bộ Canh nông, Sắc lệnh số174/SL ngày 14-4-1948 sáp nhập Sở Địa chính Trung Bộ vào Nha Địa chínhthuộc Bộ Canh nông
Năm 1949, Nha Địa chính được đưa về trực thuộc Bộ Tài chính theo Sắclệnh số 64/SL ngày 18-6-1949 của Chủ tịch nước về sáp nhập Nha Địa chính vào
Bộ Tài chính
Năm 1950, Nha Công sản - Trực thu - Địa chính được thành lập trên cơ
sở hợp nhất Nha Trước bạ - Công sản - Điền thổ với Nha Địa chính theo Sắc lệnh
số 112/SL ngày 11-7-1950 của Chủ tịch nước về sáp nhập 3 Nha của Bộ Tàichính để thành lập Nha Công sản - Trực thu - Địa chính Năm 1951, toàn bộ cán
bộ của ngành Công sản (Địa chính) được huy động để thu thuế nông nghiệp
Tổ chức ngành Địa chính trong giai đoạn 1945-1954
Trang 8Hình 2.1: Tổ chức ngành địa chính trong giai đoạn (1945-1954)
Nguồn: Minh họa theo tư liệu của Tổng cục Quản lý Ruộng đất (1983).1
Trong kháng chiến chống Pháp, cơ quan quản lý đất đai đã hoàn thànhnhiệm vụ Nhà nước giao trong việc thi hành Luật thuế trực thu Việt Nam (năm1949), Luật cải cách ruộng đất (năm 1953) và các văn bản của Chính phủ hướng
dẫn thi hành luật, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp Kháng chiến kiến Quốc
(1945-1954)
2 Giai đoạn 1955-1975
Trong giai đoạn 1955-1975, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và việcChính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương ngày 20 tháng7năm 1954 trả lại nền độc lập dân tộc cho Việt Nam đã tạo cho nước ta một vị thếmới trên trường quốc tế Nhà nước dân chủ nhân dân đã trở nên vững mạnh vàđược nhiều nước trên thế giới công nhận
Với chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 4 năm
1975, đất nước ta hoàn toàn thống nhất Thắng lợi của nhân dân ta trong sựnghiệp chống Mỹ cứu nước kết thúc quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng dântộc và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa đếquốc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử giải phóng dân tộc và thống nhấtnước nhà, mở ra một bước ngoặt vĩ đại thiết lập quyền làm chủ của nhân dân trêntoàn cõi Việt Nam, đưa cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
Để tăng cường quản lý đất đai trong tình hình mới, Thủ tướng Chính phủban hành Chỉ thị số 334-TTg ngày 3 tháng7 năm1958 về việc tái lập lại hệ thốngđịa chính trong Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân các cấp Hệ thống cơ quan Địachính được tái lập trong Bộ Tài chính và Uỷ ban nhân dân các cấp để phục vụ hợptác hóa nông nghiệp, tính thuế ruộng đất, xây dựng đô thị Cơ quan Địa chính ởTrung ương là Sở Địa chính thuộc Bộ Tài chính Nhiệm vụ của Sở là tổ chức đođạc, lập bản đồ giải thửa và sổ sách địa chính để nắm diện tích ruộng đất
Do sự phát triển quan hệ ruộng đất ở nông thôn và củng cố quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa, để tăng cường chỉ đạo xản xuất nông nghiệp, Hội đồng Chínhphủ ban hành Nghị định số 70-CP ngày 9 tháng 12 năm1960 quy định nhiệm vụ
tổ chức ngành Quản lý ruộng đất, đã chuyển ngành Địa chính từ Bộ Tài Chính
sang Bộ Nông nghiệp phụ trách và đổi tên thành ngành Quản lý ruộng đất Cơquan Quản lý ruộng đất có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp quản lýviệc mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nông nghiêp
Thông tư số 01/TT/LB ngày 11tháng 3 năm 1961 Liên Bộ Nông nghiệp Nội vụ về việc quy định tạm thời tổ chức quản lý ruộng đất ở địa phương đã quyđịnh từ năm 1960, bộ máy quản lý ruộng đất thuộc ngành Nông nghiệp được thiết
Trang 9-lập từ Trung ương đến cơ sở Ở cấp Trung ương là Vụ Quản lý ruộng đất, trựcthuộc Bộ Nông nghiệp Ở cấp tỉnh là Phòng Quản lý ruộng đất trực thuộc Ty Nôngnghiệp Ở cấp huyện bộ phận quản lý rộng đất nằm trong Phòng Nông nghiệp Ởcấp xã có cán bộ quản lý ruộng đất
Như vậy, tổ chức bộ máy quản lý đất đai đã được kiện toàn theo 3 cấpTrung ương, tỉnh và huyện với việc quản lý về bộ máy cán bộ theo phân cấp vàquản lý chuyên môn theo ngành dọc, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạngnên đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao, nhờ đó mà hoạt động của cơ quanquản lý đất đai đã góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và kiến thiết miền Bắc
Nhiệm vụ của Ngành (Nghị định số 71-CP ngày 9 thán12 năm1960 củaHội đồng Chính phủ) bao gồm quản lý việc mở mang, sử dụng và cải tạo đấtnông nghiệp, theo các nội dung: lập bản đồ, địa bạ về ruộng đất, thường xuyênchỉnh lý bản đồ và địa bạ cho phù hợp với các thay đổi về hình thể ruộng đất, vềquyền sở hữu, sử dụng đất, về tình hình canh tác và tình hình cải tạo chất đất;thống kê diện tích, phân loại chất đất; nghiên cứu xây dựng các luật lệ, thể lệ vềquản lý ruộng đất trong nông nghiệp và hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các
luật lệ, thể lệ Việc quản lý ruộng đất do các cơ quan Quản lý ruộng đất phụ
Trang 10miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoànthiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cảitạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn này, Nhà nước tập trung cải tiến tổ chức bộ máy quản lýđất đai và nhằm tăng cường công tác quản lý đất đai, thống nhất các hoạt độngquản lý đất đai vào một hệ thống, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghịquyết số 548/NQ-QH ngày 24 tháng 5 năm 1979 về việc thành lập Tổng cụcQuản lý ruộng đất và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai, theo đó “Tổng cụcQuản lý ruộng đất là cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng, thống nhất quản lýNhà nước đối với toàn bộ ruộng đất trên lãnh thổ cả nước nhằm phát triển sảnxuất, bảo vệ đất đai, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả cao đốivới tất cả các loại đất” Theo Nghị định này, cơ cấu tổ chức ngành quản lý ruộngđất đã có sự thay đổi so với giai đoạn trước Đồng thời, ngày 09 tháng11năm1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 404-CP quy định chứcnăng, nhiệm vụ của Tổng cục Quản lý ruộng đất
Trang 11Hình Sơ đồ tổ chức ngành Quản lý ruộng đất theo Nghị định số CP
404-Nghị quyết của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội và 404-Nghị định số 404-CPngày 09 tháng11 năm1979 của Hội đồng Chính phủ đánh dấu một bước pháttriển quan trọng của Ngành Quản lý đất đai Từ một đơn vị trực thuộc Bộ Nôngnghiệp giúp Bộ trưởng quản lý sử dụng đất nông nghiệp, Tổng cục Quản lýruộng đất được thành lập, trở thành một cơ quan độc lập trực thuộc Hội đồngChính phủ, thống nhất quản lý Hệ thống của ngành được thiết lập ở 4 cấp ỞTrung ương là Tổng cục Quản lý ruộng đất; ở cấp tỉnh là Ban Quản lý ruộng đất;
ở cấp huyện là Phòng Quản lý ruộng đất và ở cấp xã có cán bộ Địa chính xã
Như vậy, bộ máy quản lý đất đai đã được thành lập độc lập, tổ chức quản lýtheo ngành dọc, tạo điều kiện thuận lợi cho triển khai quản lý đất đai theo 7 nộidung ghi trong Quyết định số 201/CP ngày 01 tháng 7 năm 1980 của Hội đồng
Chính phủ
Trang 12Về chức năng, nhiệm vụ, theo Nghị định số 404/CP ngày 09 tháng 11 năm
1979 của Hội đồng Chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức củaTổng cục Quản lý ruộng đất, gồm: Điều tra, đo đạc, lập và giữ bản đồ địa chính; Tham gia xếp loại ruộng đất, phân bố đất, xây dựng xét duyệt các quy hoạch sửdụng đất; Lập sổ địa chính, giữ sổ và chịu trách nhiệm đăng ký vào sổ, cấp giấy
sử dụng đất; Lưu trữ tài liệu về ruộng đất, cung cấp những tài liệu cần thiết vàgiúp việc giải quyết những tranh chấp về ruộng đất, giúp việc xử lý các vụ viphạm pháp luật về ruộng đất; Hướng dẫn thi hành pháp luật về quản lý ruộng đất; Thanh tra việc chấp hành pháp luật về quản lý ruộng đất; Đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ ngành quản lý ruộng đất; giúp Chính phủ nắm tình hình ruộng đất, kiến nghị cácbiện pháp cần thiết để bảm đảm việc quản lý ruộng đất theo đúng pháp luật; Banhành những Thông tư, Quyết định và kiểm tra các ngành các cấp thi hành nhữngThông tư, Quyết định ấy
Đối với địa phương ( bổ sung sau)
Điều 5 – Ban quản lý ruộng đất là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diệncủa Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố; đồng thời chịu sự chỉ đạo thống nhất vềchuyên môn nghiệp vụ của Tổng cục quản lý ruộng đất
Ban quản lý ruộng đất có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố:
1 Chỉ đạo các huyện điều tra đo đạc, lập và quản lý bản đồ địa chính, xét duyệtcác kết quả điều tra, đo đạc của các huyện, các đơn vị trong tỉnh; phối hợp vớicác ngành hữu quan xây dựng các loại bản đồ, tài liệu ruộng đất của tỉnh phục vụcho công tác quản lý và sử dụng ruộng đất;
2 Tham gia vào việc xếp loại ruộng đất, vào việc xây dựng và xét duyệt các quyhoạch sử dụng ruộng đất;
3 Hướng dẫn các huyện lập và sử dụng sổ địa chính để quản lý các biến động vềruộng đất, đăng ký đất, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong việc xét đểcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất theo phân cấp;
4 Lưu trữ tài liệu về ruộng đất, cung cấp những tài liệu cần thiết và giúp Ủy bannhân dân tỉnh, thành phố giải quyết những tranh chấp về ruộng đất, giúp việc xử
lý các vụ vi phạm pháp luật ruộng đất;
5 Hướng dẫn việc thi hành pháp luật về ruộng đất;
6 Thanh tra việc chấp hành pháp luật về ruộng đất;
7 Căn cứ vào sự phân công trách nhiệm mà tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ quản lý ruộng đất;
8 Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố nắm tình hình ruộng đất, kiến nghị cácbiện pháp cần thiết để quản lý ruộng đất theo đúng pháp luật
Trang 13Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vàonhiệm vụ và đặc điểm của địa phương để nghiên cứu, sắp xếp và quyết định cụthể cơ cấu tổ chức của ban quản lý ruộng đất nói trên theo quy chế chung củaNhà nước Tổ chức biên chế phải gọn nhẹ, có hiệu lực và sắp xếp trong tổng sốbiên chế chung mà Nhà nước đã giao cho tỉnh.
4 Giai đoạn 1986 đến nay
a) Từ năm 1986 đến năm 2002
Trước yêu cầu về tổ chức lại các cơ quan quản lý Nhà nước và tăng cườngcông tác quản lý đất đai, năm 1994 Tổng cục Quản lý ruộng đất và Cục Đo đạc vàBản đồ Nhà nước được hợp nhất và tổ chức lại thành Tổng cục Địa chính (Nghịđịnh số 12/CP ngày 22 tháng 02 năm 1994 và Nghị định số 34/CP ngày 23 tháng 4năm 1994 của Chính phủ)
Sau khi thành lập Tổng cục Địa chính, các địa phương đã thành lập Sở Địachính trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên cơ sở Ban Quản lý ruộng đất, Chicục Quản lý ruộng đất hoặc Chi cục Quản lý đất đai, một số thành phố lớn thành lập
Sở Địa chính - Nhà đất Tại cấp huyện, từ năm 1995 cơ quan quản lý đất đai làPhòng Địa chính (hoặc Phòng Địa chính - Nhà đất) trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấphuyện Tại cấp xã, có cán bộ địa chính xã (hoặc phường, thị trấn) và thường kiêmnhiệm thêm nhiệm vụ quản lý về xây dựng
Hệ thống ngành Địa chính 1994-2002 (xem hình 4.1)
Tổ chức bộ máy, cán bộ ngành Địa chính 1994-2002 (xem hình 4.2)
Trang 14Hình 5.1: Hệ thống ngành Địa chính 1994-2002.
Nguồn: Tổng cục Địa chính (2002).1
1 Tổng cục Địa chính: Báo cáo tổng kết ngành địa chính 1994-2002 (2002)
Trang 15Hình 5.2: Tổ chức bộ máy, cán bộ ngành Địa chính 1994-2002.
Nguồn:Tổng cục Địa chính (2002).1
Trong giai đoạn này Ngành tập trung tổ chức thực hiện 07 nhiệm vụ sauđây: (1) Điều tra,khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địachính; (2) Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất; (3) Ban hành các vănbản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện; (4) Giao đất,cho thuêđất, thu hồi đất; (5) Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợpđồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất; (6) Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất; (7)Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạmtrongviệc quản lý và sử dụng đất đai
b) Từ năm 2002 đến năm 2008
Theo định hướng thành lập các Bộ đa ngành,thực hiện Nghị quyết số
1.Tổng cục Địa chính: Báo cáo tổng kết ngành địa chính 1994-2002 (2002)
Trang 1602/2002/QH11 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI,
kỳ họp thứ nhất ngày 05 tháng 8 năm 2002 và Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày
11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ, năm 2002 Bộ Tài nguyên và Môi trườngđược thành lập trên cơ sở hợp nhất Tổng cục Địa chính, Tổng cục Khí tượng -Thủy văn và các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyênnước (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tài nguyên khoáng sản(thuộc Bộ Công nghiệp) và Môi trường (thuộc Bộ Khoa học – Công nghệ và Môitrường) Theo quy định tại Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11-11-2002 củaChính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của BộTài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng quản lýnhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường,khí tượng thủy văn và đo đạc bản đồ trong phạm vi cả nước
Ngành Quản lý đất đai là một trong sáu ngành trực thuộc Bộ Tài nguyên
và Môi trường với 2 đơn vị cấp vụ chuyên về quản lý nhà nước về đất đai là VụĐất đai và Vụ Đăng ký và Thống kê đất đai Bên cạnh đó, một số đơn vị kháccũng tham gia một phần vào công tác quản lý nhà nước về đất đai là Thanh tra và
Vụ Pháp chế, Cục Đo đạc bản đồ Các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vựcquản lý đất đai gồm Trung tâm Điều tra quy hoạch đất đai, Viện Nghiên cứu địachính và Trung tâm Thông tin tài nguyên môi trường
Ngay sau đó, các địa phương lần lượt thành lập các Sở Tài nguyên và Môitrường trên cơ sở sáp nhập Sở Địa chính, các đơn vị quản lý nhà nước về môitrường, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước Chức năng quản lý nhà nước về đấtđai do một số đơn vị cấp phòng trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện.Tại cấp xã, có cán bộ địa chính xã (hoặc phường, thị trấn) và thường kiêm nhiệmthêm nhiệm vụ quản lý về xây dựng và một số chức năng quản lý nhà nước khácthuộc lĩnh vực tài nguyên môi trường
Trong giai đoạn này, chức năng của ngành tập trung vào 13 nhiệm vụ sauđây: (1) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổchức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai; (2) Xác định địa giớihành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; (3)Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng
sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; (4) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất; (5) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sửdụng đất; (6) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất; (7) Thống kê, kiểm kê đất đai; (8) Quản lý tài chính
về đất đai; (9) Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trườngbất động sản; (10) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sửdụng đất; (11) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất
Trang 17đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; (12) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giảiquyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai; (13)Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
c) Từ năm 2008 đến năm 2014
Để đổi mới hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ngày
04 tháng 3 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quyđịnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Tài nguyên vàMôi trường Theo đó, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài nguyên vàMôi trường được quy định cụ thể hơn - Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quancủa Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong các lĩnh vực: đất đai; tàinguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng, thuỷ văn; đođạc, bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; quản lý nhà nướccác dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ
Trên cơ sở Nghị định số 25/2008/NĐ-CP, Tổng cục Quản lý đất đai đượcthành lập trong Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm tập trung các hoạt động quản lýnhà nước về đất đai ở cấp Trung ương về một đầu mối chuyên trách Theo Quyết
định số 134/2008/QĐ-TTg ngày 02 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Quản lý đất đai trựcthuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường Tổng cục thực hiện chức năng tham mưu, giúp
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cảnước và thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật Tổng cục Quản lý đấtđai có 15 đơn vị trực thuộc, trong đó có 9 đơn vị quản lý nhà nước, 6 đơn vị sựnghiệp
Tại cấp tỉnh: Một số địa phương đang tiến hành thành lập Chi cục Quản
lý đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường để thống nhất quản lý nhà nước vềđất đai vào một cơ quan chuyên trách
Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Quản lý đất đai thuộc Bộ Tài nguyên vàMôi trường gồm 12 đơn vị quản lý nhà nước và sự nghiệp (Hình 5.3)
Trang 18Hình 5.3: Tổ chức Ngành quản lý Đất đai
thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Nguồn: Quyết định số 134/2008/QĐ-TTg ngày 02-10-2008.1
Trong giai đoạn này, Ngành Quản lý đất đai Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiệncác chức năng, nhiệm vụ như giai đoạn trước
d) Ngành Quản lý đất đai hiện nay
Tiếp tục đổi mới hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, ngày 13 tháng 3năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2014/QĐ-TTg ngày
13 tháng 3 năm 2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức của Tổng cục Quản lý đất đai trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.Theo đó, Tổng cục Quản lý đất đai là cơ quan trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môitrường, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môitrường quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về đất đai trong phạm vi cảnước; thực hiện các dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai theo quy định của phápluật
1 Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 134/2008/QĐ-TTg ngày 02-10-2008 về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Quản lý đất đai trực thuộc Bộ Tài nguyên
Trang 19Đến nay Tổng cục Quản lý đất đai có 15 đơn vị trực thuộc, trong đó có 9đơn vị quản lý nhà nước (04 Cục, 04 Vụ và Văn phòng), 01 đơn vị nghiên cứu và
05 đơn vị sự nghiệp với gần 700 cán bộ, công chức, viên chức và người lao động
(Có sơ đồ tổ chức bộ máy ngành và Tổng cục) - 02 sơ đồ MR Phươnglàm
Tại cấp tỉnh, nhiều địa phương đã thành lập Chi cục Quản lý đất đai thuộc
Sở Tài nguyên và Môi trường Đến nay, tổ chức của Ngành ở cấp tỉnh có cơ cấuhoàn chỉnh gồm 63 Sở Tài nguyên và Môi trường với đầy đủ các phòng, banchức năng về quản lý đất đai và các đơn vị sự nghiệp, trong đó có: Trung tâmPhát triển quỹ đất, Văn phòng Đăng ký đất đai hoạt động theo mô hình một cấp,Quỹ phát triển đất Tại cấp huyện, cơ quan quản lý đất đai là Phòng Tài nguyên
và Môi trường Tại cấp xã có công chức địa chính xã
Hiện tại, toàn ngành có gần 30.000 người, trong đó: Trung ương có trên
750 công chức, viên chức; cấp tỉnh có trên 6.000 công chức, viên chức; cấp huyện
có trên 12.000 công chức, viên chức; cấp xã, phường, thị trấn có trên 11.000 cán
bộ địa chính; ngoài ra còn hàng ngàn người ở các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp,
tổ chức khác đang phối hợp hoạt động với Ngành về đo đạc - bản đồ, lập quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất, giải quyết tranh chấp khiếu nại, tố cáo về đất đai, xử
lý vi phạm về pháp luật đất đai …
Hiện nay, Ngành tập trung vào thực hiện 15 nhiệm vụ sau: (1) Ban hànhvăn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện vănbản đó; (2) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hànhchính, lập bản đồ hành chính; (3) Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồhiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tàinguyên đất; điều tra xây dựng giá đất; (4) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất; (5) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụngđất; (6) Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; (7) Đăng kýđất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; (8) Thống kê, kiểm kê đấtđai ; (9) Xây dựng hệ thống thông tin đất đai; (10) Quản lý tài chính về đất đai vàgiá đất; (11) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sửdụng đất; (12) Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hànhquy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; (13) Phổbiến, giáo dục pháp luật về đất đai; (14) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giảiquyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai; (15) Quản lý hoạt độngdịch vụ về đất đai
Có thể nhận thấy, chưa bao giờ ngành Quản lý đất đai Việt Nam lại có cơcấu tổ chức 04 cấp từ Trung ương đến địa phương hoàn chỉnh như hiện nay và
Trang 20hùng mạnh nhất về mọi mặt, ngang tầm với nhiệm vụ được Đảng và Nhà nướcgiao Ngành luôn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội về tất cảcác lĩnh vực kinh tế - xã hội; an ninh chính trị; an ninh quốc gia…
Các thành tựu của ngành Quản lý đất đai
I Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai
1 Giai đoạn 1945- 1954
a) Quan điểm của Đảng về đất đai
Với mục đích xoá bỏ quyền đế quốc chiếm hữu ruộng đất ở nước ta, xoá
bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đấtcủa nông dân, thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuấtkhỏi quan hệ phong kiến, tạo điều kiện phát triển sản xuất, phát triển nông nghiệp
và công thương nghiệp, làm cho nước nhà ra khỏi tình trạng lạc hậu về kinh tế,xây dựng cơ sở kinh tế dân chủ nhân dân, Đảng ta đã ban hành một số văn kiệnliên quan trực tiếp đến chính sách đất đai Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai BanChấp hành Trung ương Đảng (Khóa I), tháng 1năm1948 về chính sách ruộng đấttrong thời kỳ kháng chiến đã kêu gọi tận dụng đất đai tấc đất tấc vàng nhằm tănggia sản xuất, thực hiện chống đói, cải thiện dân sinh; tịch thu ruộng đất của thựcdân Pháp, Việt gian phản động chia cho nông dân nghèo, chia lại công điền, côngthổ
dân Việt Nam được bảo đảm Luật Thuế trực thu Việt Nam ban hành theo Sắc
lệnh số 49-SL ngày 18 tháng6 năm1949 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủCộng hòa quy định thuế điền thổ đánh vào tất cả các ruộng đất ngoài những đấtthuộc vào chu vi các thành phố, tỉnh lỵ, thị xã, v.v Luật cải cách ruộng đất năm
1953 đã quy định nội dung, mục đích, phương thức tiến hành cải cách ruộng đất
ở Việt Nam với mục đích thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp
Trang 21và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữuruộng đất của giai cấp địa chủ để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nhândân.
Để thi hành Hiến pháp (năm 1946), Luật thuế trực thu Việt Nam và Luậtcải cách ruộng đất, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp quy hướng dẫn
thi hành, trong đó có 26 sắc lệnh của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
về quản lý, sử dụng đất đai và thuế điền thổ Các sắc lệnh của Chủ tịch nướchướng dẫn việc thực thi pháp luật đất đai và thuế điền thổ đã quy định thực hiệngiảm tô; tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp, việt gian phản động chia cho nôngdân nghèo, chia lại công điền, công thổ; quy định về sử dụng đất
2 Giai đoạn 1955-1975
a) Quan điểm của Đảng về đất đai
Thực hiện đường lối nhất quán đưa ruộng đất về tay nhân dân, Đảng ta đãthực hiện chính sách cải cách ruộng đất, trước hết ở miền Bắc và sau đó ở miền
Nam Về cải cách ruộng đất, Đảng đã ban hành Nghị quyết của Bộ Chính trị (khóa
II) tháng 9 năm1954 về thực hiện hoàn thành cải cách ruộng đất và Kế hoạch 3 nămkhôi phục kinh tế miền Bắc(1955-1957); Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám BanChấp hành Trung ương Đảng (khóa II) tháng 8 năm1955 về chủ trương xây dựngthí điểm hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc; Nghị quyết Hội nghị lầnthứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II), tháng 10 năm1956 về thắng
lợi và sai lầm của cải cách ruộng đất
Chủ trương, đường lối của Đảng về đất đai trong giai đoạn này đã kế thừa
và phát triển chủ trương, đường lối, chính sách đất đai đã đề ra trong Cương lĩnhchính trị năm 1930 của Đảng cộng sản Việt Nam cũng như trong các văn kiện kháccủa Đảng Cải cách ruộng đất ở miền Bắc đã chuyển phần lớn ruộng đất về taynông dân nghèo, cải cách ruộng đất trong khu giải phóng ở miền Nam cũng đemlại động lực mạnh mẽ cho những người ủng hộ kháng chiến chống đế quốc Mỹ.Hàng triệu nông dân lao động đã thấy rõ chủ trương, đường lối, chính sách củaĐảng ta và chế độ, chính sách của Nhà nước ta là đưa lại ruộng đất cho họ
b) Chính sách pháp luật đất đai
Hiến pháp năm 1959 quy định Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về ruộngđất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân, bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sảnxuất và của cải khác của nhà tư sản dân tộc, nghiêm cấm việc lợi dụng tài sản tưhữu để làm rối loạn sinh hoạt kinh tế của xã hội, phá hoại kế hoạch kinh tế Nhà nước,bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân, khi nào cần thiết vì lợi ích chung,Nhà nước mới trưng mua, hoặc trưng dụng, trưng thu có bồi thường thích đáng các tưliệu sản xuất ở thành thị và nông thôn, trong phạm vi và điều kiện do pháp luật quyđịnh
Trang 22Chính phủ ban hành các Nghị định quy định công tác quản lý ruộng đất(Nghị định số 71-CP ngày 9 tháng 12 năm 1960); tăng cường công tác quản lýruộng đất (Nghị quyết số 125-CP của Hội đồng chính phủ ngày 28 tháng 6 năm1971)
Chính sách đất đai đáp ứng hai mục tiêu chiến lược xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước nên đãthu hút được nhân tâm, tạo được động lực dẫn đến thành công trong nhiều mặttrận cả kinh tế lẫn quốc phòng
3 Giai đoạn 1976-1985
a) Quan điểm của Đảng về đất đai
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV tháng 12 năm 1976 quyết địnhđường lối xây dưng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Chủ trương xây dựngcấp huyện, hoàn thiện xây dựng hợp tác xã quy mô toàn xã, tổ chức sản xuất lớnnông nghiệp được tiếp tục khẳng định Thực hiện việc quản lý, sử dụng ruộng đấttập trung, thống nhất trên quy mô hợp tác xã Các hợp tác xã phân phối lại ruộng đấtcho các đội trên nguyên tắc tiện canh, tiện cư với quy mô lớn, tránh phân tán, chia
sẻ ruộng đất manh mún; chuyển sản xuất tập thể từ kiểu làm ăn phân tán, tự cấp tựtúc sang sản xuất theo quy hoạch và kế hoạch thống nhất của huyện; cải tiến chế độ
sử dụng đất đai
Ở miền Nam, chính sách đất đai giai đoạn này là cải tạo nông nghiệpmiền Nam Chỉ thị số 57-CT/TƯ ngày 14 tháng 3 năm 1978 của Bộ Chính trị vềviệc nắm vững và đẩy mạnh công tác cải tạo nông nghiệp miền Nam; Chỉ thị số43-CT/TƯ ngày 15 tháng 11 năm 1978 của Bộ Chính trị về việc xóa bỏ các hìnhthức bóc lột của phú nông, tư sản nông thôn và tàn dư bóc lột phong kiến, thực
sự phát huy quyền làm chủ của nông dân lao động, đẩy mạnh cải tạo xã hội chủnghĩa đối với nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam; Chỉ thị số19-CT/TW ngày 3tháng 5 năm 1983 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về hoàn thành điều chỉnhruộng đất, đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa với nông nghiệp ở các tỉnh Nam Bộ
đã nêu rõ các việc cần phải là trong cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệpmiền Nam
Đặc biệt, Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tạocho xã viên được quyền sử dụng đất trong khuôn khổ rộng rãi hơn, thiết thực vàgắn bó hơn với lợi ích của người lao động, một mốc son có ý nghĩa về chính sáchruộng đất nông nghiệp thời kỳ này
Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 29 tháng 11 năm 1983 Ban Bí thư Trungương Đảng về việc đẩy mạnh giao đất giao rừng, xây dựng rừng và tổ chức kinhdoanh theo phương thức nông lâm kết hợp; Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 18tháng 01 năm 1984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc khuyến khích và
Trang 23hướng dẫn phát triển kinh tế gia đình cho phép các hộ gia đình nông dân tậndụng mọi nguồn đất đai mà hợp tác xã, nông lâm trường chưa sử dụng hết đểđưa vào sản xuất, đất phục hóa được miễn thuế nông nghiệp; Chỉ thị số 56-CT/TW ngày 29 tháng 01 năm1985 Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc củng
cố và tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông thôn miền núi, chophép áp dụng linh hoạt hình thức khoán gọn cho hộ xã viên Những chủ trươngnày đã ít nhiều có tác dụng thúc đẩy ở mức độ nhất định quá trình cải thiện hiệuquả sử dụng đất nông nghiệp 1
b) Chính sách pháp luật đất đai
Điều 19 Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm
mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa đều thuộc
sở hữu toàn dân Như vậy, đến Hiến pháp năm 1980, chỉ còn hình thức sở hữutoàn dân đối với đất đai, các hình thức sở hữu cá thể và tập thể đều không đượcthừa nhận Cũng từ đây Nhà nước bắt đầu triển khai chế độ quản lý đất đai mớidựa trên nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân Cụ thể là, Điều 20 Hiến phápnăm 1980 quy định Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung,nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm; những tập thể và cánhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động củamình theo quy định của pháp luật; đồng thời quy định đất dành cho nông nghiệp
và lâm nghiệp không được dùng vào việc khác, nếu không được cơ quan Nhànước có thẩm quyền cho phép
Trong giai đoạn 1976-1985, để thể chế hóa chủ trương, đường lối củaĐảng và cụ thể hóa các quy định của Hiến Pháp năm 1980 về các vấn đề có liênquan đến đất đai, Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp quy về quản lý đấtđai Nội dung các văn bản pháp quy tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu như sửdụng đất nông nghiệp, thuế nông nghiệp, nhiệm vụ quản lý đất đai của cơ quanhành chính nhà nước
Do đất đai thuộc sở hữu toàn dân, người sử dụng đất phải sử dụng theoquy hoạch và kế hoạch của Nhà nước nên Chính phủ đã ban hành các quyết định
về sử dụng đất; chính sách đối với hợp tác xã mở rộng diện tích sản xuất nôngnghiệp xây dựng vùng kinh tế mới, thực hiện định canh, định cư; khuyến khíchtận dụng ruộng đất nông nghiệp; đẩy mạnh giao đất giao rừng cho tập thể vànhân dân trồng cây gây rừng; chính sách xóa bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộngđất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam Việt Nam; vềcông tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước; Quyđịnh chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Tổng cục Quản lý ruộng đất; quy định
về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đấttrong cả nước; định rõ 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai: (1) Điều tra, khảo
Trang 24sát và phân bố các loại đất; (2) Thống kê, đăng ký đất đai; (3) Quy hoạch sửdụng đất; (4) Giao đất, thu hồi đất, trưng dụng đất; (5) Thanh tra kiểm tra việcchấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý sử dụng đất; (6) Giải quyết tranh chấpđất đai; (7) Quy định các chế độ, thể lệ để quản lý việc sử dụng đất và tổ chứcviệc thực hiện các chế độ, thể lệ ấy.
4 Giai đoạn đổi mới 1986-2015
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam(tháng 12 năm 1986) đã đánh giá tình hình đất nước, kiểm điểm sự lãnh đạo củaĐảng, vai trò quản lý của Nhà nước trong thập niên đầu cả nước đi lên chủ nghĩa
xã hội, từ đó xác định nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng trong thời kì đổi mớixây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
a) Quan điểm của Đảng về đất đai
Thực hiện các Nghị quyết của Đại hội VI, ngày 5 tháng 4 năm1988, BộChính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nôngnghiệp, với các nội dung: đổi mới và tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩmcuối cùng đến người lao động Ở các vùng còn nhiều đất đai, mặt nước chưa khaithác, tùy tình hình cụ thể mà nhà nước có thể cho thuê hoặc giao quyền sử dụngmột số ruộng đất, đất rừng, mặt nước cho hộ kinh tế cá thể, tư nhân để tổ chứcsản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật Được giao quyền thừa kế sử dụng chocon cái và trong trường hợp chuyền sang làm nghề khác được chính quyền chophép chuyển nhượng quyền tiếp tục sử dụng cho chủ khác Điều chỉnh quy môcác nông, lâm trường; diện tích đất dôi ra sau khi điều chỉnh giao lại cho chínhquyền địa phương để giao cho hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân sử dụng
Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII (1991)
đã mở ra chủ trương mới trong chính sách đất đai của Đảng ta Nghị quyết Đạihội VII chỉ rõ: “Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ruộng đất đượcgiao cho nông dân sử dụng lâu dài Nhà nước quy định bằng luật pháp các vấn đềthừa kế, chuyển quyền sử dụng ruộng đất ” 1
Triển khai tinh thần này, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ haikhóa VII tháng 3 năm 1992 xác định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, chothuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng ruộng đất phải được pháp luật quy định cụthể theo hướng khuyến khích nông dân an tâm đầu tư kinh doanh, nâng cao hiệuquả sử dụng đất, tạo điều kiện từng bước tích tụ ruộng đất trong giới hạn hợp lý
để phát triển hàng hóa ”
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
VIII (1996) đã xác định quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường bất động sản; đất
đai thuộc sở hữu toàn dân, không tư nhân hóa, không cho phép mua bán đất đai
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chớnh trị quốc gia Hà Nội