Đề 2 Trình bày hậu quả pháp lý và thủ tục áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đối với trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm Trả lời Theo bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015, Người khởi kiện hay cụm từ chính xác là nguyên đơn được hiểu là “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợ.
Trang 1Đề 2:
Trình bày hậu quả pháp lý và thủ tục áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đối với trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm.
Trả lời:
Theo bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015, Người khởi kiện hay cụm từ chính xác là
nguyên đơn được hiểu là “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa
án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm” Từ khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra 2 đặc trưng tiêu biểu của nguyên đơn,
đó là:
Nguyên đơn là người khởi kiện hoặc người được người khác khởi kiện thay;
Nguyên đơn là người cho rằng quyền và hợp pháp của mình bị xâm phạm
Theo các quy định tại khoản 2 Điều 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, ghi
nhận, nguyên đơn được quyèn “thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện”.
Trên ta có thể thấy việc rút yêu cầu khởi kiện trong một vụ án dân sự là quyền của các đương sự vì thế thời điểm rút có thể từ giai đoạn trước khi thụ lý vụ án, sau khi thụ lý vụ án, trong khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm
Hậu quả pháp lý của thủ tục rút đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm:
Hậu quả của việc rút đơn khởi kiện xét theo tùy theo từng giai đoạn mà Tòa án có thể ra những quyết định phù hợp khi rút đơn khởi kiện, cụ thể: Khi chưa thụ lý thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện; sau khi thụ lý rồi thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án; khi vụ án đang được xét xử sơ thẩm, nếu rút một phần hay toàn bộ yêu cầu khởi kiện thì Tòa án đình chỉ một phần hay toàn bộ yêu cầu của đương sự; giai đoạn xét xử phúc thẩm thì Tòa
án hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án
Thì việc rút yêu cầu khởi kiện Dân sự chính là một trong những căn cứ để tòa án trả lại đơn khởi kiện theo điểm g Khoản 1 Điều 192 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015
Hậu quả pháp lý: Thẩm phán được giao giải quyết vụ án sẽ là người trả lại đơn khởi kiện Người đã khởi kiện có quyền khởi kiện lại sau khi rút đơn nếu thỏa mãn các điều kiện tại Khoản 1 Điều 192 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015
Trang 2 Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu
Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước phiên tòa sơ thẩm dân sự:
Nếu không có yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập thi Tòa án chấp nhận việc rút đơn khởi kiện, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Người khởi kiện rút đơn khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố
và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện đã rút
Người khởi kiện rút đơn khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện và yêu cầu phản tố của bị đơn đã rút
Người khởi kiện rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện và yêu cầu độc lập của người có quyền và lợi ích liên quan đã rút
Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản
tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết toàn bộ vụ án dân sự
Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xử đối với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn đã rút Khi đó, bị đơn trở thành nguyên đơn
Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn cũng rút toàn bộ yêu cầu phản
tố, nhưng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xử đối với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và
bị đơn
Trang 3Lưu ý: Liên quan đến hệ quả của việc rút đơn khởi kiện, không phải trong mọi
trường hợp khi những người khởi kiện rút hồ sơ khởi kiện thì đều được kiện lại cũng như được Tòa án thụ lý giải quyết, mà theo quy định của pháp luật thì chỉ trong 1 số trường hợp khi rút đơn khởi kiện bên đương sự mới được kiện lại
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và hướng dẫn trong Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về việc hướng dẫn 1 số quy định tại khoản 1 và khoản 3, Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ, sẽ có 6 trường hợp đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại đó là:
1 Tòa án nhân dân đã Thông báo trả lại đơn khởi kiện với lý do những người khởi kiện rút đơn khởi kiện hay Tòa án nhân dân đã đình chỉ giải quyết vụ án với lý do đối tượng khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt (căn cứ theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 217 Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015)
Theo khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 : “Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”
2 Tòa án đã bác bỏ (không chấp nhận) yêu cầu ly hôn, yêu cầu về việc thay đổi nuôi con, thay đổi mức độ cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi những người quản lý tài sản, thay đổi đối tượng quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hay vụ
án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, mượn, cho ở nhờ
3 Người khởi kiện đã có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự
4 Tòa án nhân dân đã Thông báo trả lại đơn khởi kiện do những người khởi kiện không được sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng yêu cầu của Thẩm phán bởi trong đơn khởi kiện những người khởi kiện đã không ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, những đối tượng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (theo quy định trong khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) hay Tòa án nhân dân đã đình chỉ giải quyết vụ án đối với lý do người khởi kiện không cung cấp đầy
đủ và đúng với địa chỉ cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của đối tượng bị kiện, những người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan (căn cứ theo Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/ NQ-HĐTP) tuy nhiên nay đối tượng khởi kiện đã cung cấp được đầy đủ và đúng theo địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, những đối tượng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trang 45 Tòa án nhân dân đã Thông báo trả lại đơn khởi kiện hay những vụ án Tòa án nhân dân đã đình chỉ giải quyết vụ án với lý do đối tượng khởi kiện nhưng chưa có đủ điều kiện khởi kiện tuy nhiên hiện nay người khởi kiện đã có đầy đủ điều kiện để khởi kiện Mặc dù chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo đúng quy định của pháp luật thuộc trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, quy định của pháp luật khác về các điều kiện để cơ quan, tổ chức và cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người khác, lợi ích công cộng cũng như lợi ích của Nhà nước những đối tượng khởi kiện đã tiến hành khởi kiện đến Tòa
án nhân dân khi còn thiếu 1 trong các điều kiện đó (theo Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)
6 Những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm,
kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước thời hạn 1/1/2017, Tòa án nhân dân đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cũng như trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện để khởi kiện chia tài sản chung, tuy nhiên thời hiệu khởi kiện vụ án chia thừa kế đối với các di sản thừa kế đó vẫn còn trong vòng 30 năm đối với bất động sản, 10 năm với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế
Như vậy, chỉ trong 6 trường hợp trên thì người khởi kiện sẽ được quyền kiện lại và được Tòa án nhân dân thụ lý giải quyết lại từ đầu
Trình tự thủ tục:
Rút đơn khởi kiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án
Người khởi kiện làm đơn xin rút hồ sơ khởi kiện Qua bộ phận tiếp nhận đơn, đơn rút hồ sơ khởi kiện sẽ được chuyển đến Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện
Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Thẩm phán ra thông báo trả lại đơn khởi kiện Trong đó nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu
Rút đơn khởi kiện trước khi diễn ra phiên xét xử dân sự sơ thẩm:
Trong trường hợp này, Người khởi kiện phải làm đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện gửi Thẩm phán được phân công thụ lý xét xử vụ án
Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này, Tòa án phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu
Trang 5Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện
và Viện kiểm sát cùng cấp
Rút đơn khởi kiện tại phiên xét xử sơ thẩm:
Tại phiên xét xử sơ thẩm, người khởi kiện trình bày yêu cầu rút đơn khởi kiện và nêu lý do trước hội đồng xét xử
Căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 trong trường hợp
có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn
bộ yêu cầu đương sự đã rút
Về tiền tạm ứng án phí:
Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho người khởi kiện (Khoản 3 Điều 218 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015)