TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING TIỂU LUẬN MÔN LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỀ SỐ 5 “Trình bày dấu hiệu pháp lý của tội giết người (Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015) Chỉ ra điểm khác nhau cơ bản giữa tội giết người và tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 Bộ luật hình sự năm 2015” Họ và tên Ngày, tháng, năm sinh MSSV Lớp Ngành Luật Kinh Tế Hà Nội, 122021 HÀ NỘI, 2010 MỞ ĐẦU Như chúng ta đã biết, con người là vốn quý trong xã hội, là đối tư.
Trang 1ggggg njj
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING
TIỂU LUẬN MÔN:
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
ĐỀ SỐ 5
“Trình bày dấu hiệu pháp lý của tội giết người (Điều 123
Bộ luật hình sự năm 2015) Chỉ ra điểm khác nhau cơ bản giữa tội giết người và tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 Bộ luật hình sự năm
2015”
Họ và tên:
Ngày, tháng, năm sinh:
MSSV:
Lớp:
Ngành: Luật Kinh Tế
Trang 2MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, con người là vốn quý trong xã hội, là đối tượng hàng đầu được Luật hình sự nói riêng và pháp luật nói chung bảo vệ Bảo vệ con người trước tiên là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh sự, nhân phẩm và tự do của con người, vì đó là ý nghĩa quan trọng hàng đầu của con người Trong các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người thì tội phạm xâm phạm tính mạng là hành vi nguy hiểm nhất trong xã hội vì hành
vi này tước đoạt tính mạng của người khác, quyền được sống, được tôn trọng và quyền bảo vệ tính mạng là quyền quan trọng, thiêng liêng và cao quý nhất của con người Quyền được sống là quyền cơ bản của con người từ khi sinh ra Điều 19 Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi nhận: "Mọi người có quyền
sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật" Bất cứ ai xâm phạm quyền sống, quyền
được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người đều phải bị trừng trị nghiêm khắc Và đó cũng là lý do lý giải tại sao tội giết người là một trong những tội danh có chế tài xử phạt hình sự nặng nhất tử hình được quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 Để hiểu rõ hơn về các dấu hiệu pháp lý của tội giết người, từ đó làm cơ sở để phân biệt, chỉ ra điểm khác nhau cơ bản giữa tội giết người và tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, do vậy em lựa chọn đề
tài: “Trình bày dấu hiệu pháp lý của tội giết người (Điều 123
Bộ luật hình sự năm 2015) Chỉ ra điểm khác nhau cơ bản giữa tội giết người và tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 Bộ luật hình sự năm 2015”.
NỘI DUNG
I Tội giết người trong Luật hình sự Việt Nam
1 Khái niệm về tội giết người trong Luật hình sự
Tội giết người là một trong những tội phạm đặc biệt nguy hiểm, nó không những tước đi sinh mạng của con người mà còn ảnh hưởng nặng
nề đến gia đình nạn nhân nói riêng và dự luận xã hội nói chung
Giết người: Là hành vi trái pháp luật, cố ý làm chết người ngoài ý
Trang 3khả năng gây ra cái chết cho con người, làm chấm dứt sự sống của họ Tội giết người: là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật
2 Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật hình
sự năm 2015
Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:
1 Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2 Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
Trang 43 Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4 Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
3 Dấu hiệu pháp lý của tội giết người
Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội giết người nhưng không mô tả cụ thể những dấu hiệu pháp lý của tội này mà chỉ nêu tội danh Từ thực tiễn đã được thừa nhận, có thể định nghĩa giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật Từ định nghĩa này, chúng ta có thể rút ra những dấu hiệu pháp lý của tội giết người như sau:
2.1 Mặt khách thể
Khách thể của tội giết người là quan hệ nhân thân mà nội dung của nó là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người Trong số các quyền nhân thân, quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất, không một quyền nào có thể so sánh được Bởi
lẽ, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Khi quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người bị xâm phạm thì mục tiêu phấn đấu của loài người sẽ trở nên
vô nghĩa; động lực phát triển của xã hội sẽ bị triệt tiêu Tội giết người xâm phạm quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động là con người đang sống Việc xác định đúng đối tượng tác động của tội giết người có ý nghĩa vô cùng quan trọng Bởi lẽ, nếu hành vi nào đó tác động vào đối tượng không phải hay chưa phải là con người hoặc đã chết thì không xâm phạm đến quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người, vì vậy, hành vi đó không phạm tội giết người mà có thể chuyển thành một tội danh khác căn cứ vào những dấu hiệu của hành vi phạm tội
Trang 52.2 Mặt khách quan
Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt
sinh mạng của người khác một cách trái pháp luật
Hành vi tước đoạt tính mạng được hiểu là hành vi có khả năng
gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ Những hành
vi không có khả năng này không thể coi là hành vi khách quan của tội giết người Hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người có thể là hành động như bắn, chém, đâm… Hành vi khách quan của tội giết người cũng có thể là không hành động, đó là những trường hợp chủ thể có nghĩa vụ phải hành động, phải làm một số việc nhất định
để đảm bảo sự an toàn về tính mạng cho người khác nhưng họ đã không hành động, không thực hiện những việc làm đó Không hành động của họ trong trường hợp này có khả năng gây ra cái chết cho người khác
Hành vi tước đoạt tính mạng được coi là hành vi khách quan
của tội giết người phải là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật Hành vi tước đoạt tính mạng của chính mình không phải là hành vi khách quan của tội giết người Hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho phép cũng không phải là hành vi khách quan của tội giết người, như hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trong phòng vệ chính đáng, trong tình thế cấp thiết hoặc thi hành hình phạt tử hình… Một số trường hợp đặc biệt, mặc dù có hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật nhưng nếu thuộc một các hành vi như: Hành vi làm chết người trong khi thi hành công vụ, hành vi vô ý làm chế người, hành vi bức tử, hành vi xúi giục người khác tự sát, hành vi giết con mới đẻ, hành vi giết người do tinh thần bị kích động mạnh, giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Thì người thực hiện không bị truy cứu tội giết người theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự năm
2015 mà sẽ bị truy cứu bằng một tội danh cụ thể, tương ứng với hành
vi phạm tội
Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội
phạm của tội này Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra thì tội phạm
có thể đang ở giai đoạn chuẩn bị hoặc chưa đạt
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan tước đạt sinh
mạng của người khác đã thực hiện và hậu quả chết người đã xảy ra
Trang 6cũng là một dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội giết người
Việc xác định mối quan hệ nhân quả là điều kiện cần thiết để có thể buộc người có hành vi tước đoạt tính mạng người khác phải chịu trách nhiệm về hậu quả chết người đã xảy ra Người có hành vi tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những hậu quả chết người đã xảy ra, ra nếu hành vi họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả chết người đã xảy ra đó Việc xác định này trong nhiều trường hợp cũng hết sức phức tạp, đòi hỏi có sự hỗ trợ của giám định pháp y
2.3 Mặt chủ quan
Lỗi của người phạm tội giết người là lỗi cố ý được quy định
tại Điều 10 Bộ luật hình sự năm 2015 Lỗi cố ý ở đây có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp
Trong trường hợp lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội thấy trước được hậu quả chết người có thể xảy ra (hoặc tất nhiên sẽ xảy ra), nhưng vì mong muốn hậu quả đó nên đã thực hiện hành vi phạm tội Trong trường hợp lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể nguy hiểm đến tính mạng của người khác, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra, nhưng để đạt được mục đích của mình, người phạm tội có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra, hay nói một cách khác, họ chấp nhận hậu quả đó
Trong trường hợp hậu quả chết người đã xảy ra, việc xác định lỗi
là cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp không có ý nghĩa trong việc định tội Nhưng trong trường hợp hậu quả chết người chưa xảy ra, việc xác định lỗi này có ý nghĩa rất quan trọng Cụ thể là:
Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội
là lỗi cố ý trực tiếp thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội giết người nhưng ở giai đoạn chưa đạt;
Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội
là lỗi cố ý gián tiếp thì người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội cố ý gây thương tích (nếu có thương tích xảy ra) hay các tội phạm khác mà người phạm tội đã thực hiện (không mong muốn hậu quả chết người nhưng có ý thức để mặc hậu quả đó xảy ra nhưng nó
Trang 7chưa xảy ra), mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt
Mục đích, động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu
thành tội phạm tội giết người Hành vi giết người nếu có mục đích chống chính quyền nhân dân sẽ cấu thành tội theo Điều 113 Bộ luật hình sự năm 2015 Động cơ phạm tội tuy không có ý nghĩa về mặt định tội nhưng có một số động cơ phạm tội được quy định là tình tiết định khung tăng nặng hay giảm nhẹ
2.4 Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm nói chung và Tội giết người nói riêng là con người có đủ điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội Chủ thể này phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự, năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi tất yếu của xã hội Để có được năng lực này con người phải đạt độ tuổi nhất định Do vậy, độ tuổi cũng là điều kiện của chủ thể của Tội giết người
Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015: “Người thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” Quy định này cho thấy, một người được coi là trong tình trạng
không có năng lực trách nhiệm hình sự khi thoả mãn hai dấu hiệu: Dấu hiệu y học, mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động thần kinh và dấu hiệu tâm lý, mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi
Theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 2 Điều 12 và Điều 123
Bộ luật hình sự năm 2015 thì chủ thể của tội giết người là người từ đủ
14 tuổi trở lên Quy định này dựa trên cơ sở nghiên cứu tâm sinh lý con người Việt Nam, truyền thống lập pháp và chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
II Điểm khác nhau cơ bản giữa tội giết người và tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều
125 Bộ luật hình sự năm 2015)
Trang 81 Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 125 Bộ luật hình sự năm
2015
“Điều 125 Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
1 Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ
06 tháng đến 03 năm.
2 Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến
07 năm.”
Như vậy có thể hiểu, giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi của một người không tự kìm chế được mình trước hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với chính mình hoặc đối với người thân thích của mình nên đã giết chết nạn nhân
2 Điểm khác nhau cơ bản giữa tội giết người (Điều 123
Bộ luật hình sự năm 2015) và tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 Bộ luật hình sự năm 2015)
Trong Bộ luật hình sự năm 2015 thì tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 125, đây thực chất là một tội danh được tách ra từ tội giết người quy định tại khoản
3 Điều 101 trong Bộ luật hình sự năm 1985 và được quy định tại Điều
125 Bộ luật hình sự năm 1999, xét về mặt bản chất hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì tính nguy hiểm của hành vi phạm tội ít hơn so với tội giết người Vì vậy, cấu thành tội phạm của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
cơ bản giống dấu hiệu phạm tội của tội giết người Sự tương đồng này được thể hiện qua:
Thứ nhất, khách thể của tội phạm: đều xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà nội dung của nó là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người
Trang 9Thứ hai, mặt khách quan của tội phạm: đều là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác và hậu quả của tội phạm là nạn nhân tử vong Hành vi khách quan này là nguyên nhân dẫn đến việc nạn nhân tử vong
Thứ ba, mặt chủ quan: đều là hanh vi tước đoạt tính mạnh được thực hiện với lỗi cố ý Người phạm tội biết hoặc phải biết hành vi của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội và mong muốn hoặc có ý thức
để mặc cho hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra
Thứ tư, chủ thể của tội phạm: đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định Vậy, điểm khác nhau cơ bản giữa tội giết người tại Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 và tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Điều 125 Bộ luật hình sự năm 2015 là gì?
Thứ nhất, đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì người thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng của người khác thực hiện hành vi trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Tình trạng tinh thần bị kích động mạng là tình trạng người
phạm tội đã không thể tự chủ, tự kiềm chế hành vi phạm tội của mình Người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh bị ức chế tâm lý ở mức độ cao khó có đủ bình tĩnh để lựa chọn, để suy xét về hành động của mình Người phạm tội thực hiện việc giết người ngay trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội phải
do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên đối với người phạm tội Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng là hành vi trái pháp luật nói chung (không chỉ riêng trái pháp luật hình sự), ở mức
độ nghiêm trọng và thường xảy ra một cách tức thời Cũng có trường hợp hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức nặng nề, đến một thời điểm nhất định lại bùng lên thì người phạm tội vẫn được coi là phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Tội phạm này thực chất là trường hợp giảm nhẹ đặc biệt của tội giết người trạng thái tinh thần bị kích động mạnh khác với trạng thái tinh thần bị kích động về mức độ bị kích động Nếu chỉ là những va
Trang 10chạm, xung đột thông thường trong đời sống gây nên tình trạng bị kích động mà họ đã có hành vi giết người thì không phạm tội giết người trong trạng thái bị kích động mạnh (Điều 125 Bộ luật hình sự năm 2015) mà phạm tội giết người (Điều 123 Bộ luật hình sự năm
2015) với tình tiết giảm nhẹ “phạm tội trong trường hợp bị kích động
về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” quy định
tại điểm e, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015
Thứ hai, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì nạn nhân phải là người đã có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó Nếu người phạm tội lại không giết người thực
hiện hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với mình hoặc đối với người thân thích của mình, mà giết vợ, con hoặc người thân thiết của người này thì họ không phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh (Điều 125 Bộ luật hình sự năm 2015) mà phạm tội giết người (Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015)
Thứ ba, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, vì không thể xác định được mục đích của người phạm tội khi
người đó trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mà chỉ có thể xác định người phạm tội bỏ mặc cho hậu quả xảy ra
Thứ tư, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân trong tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là nguyên nhân dẫn tới trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội Mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi trái pháp luật với tinh thần bị kích động mạnh là mối quan hệ tất yếu nội tại có cái này thì ắt có cái kia Không có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân thì không có tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội và vì thế nếu người phạm tội không bị kích động bởi hành vi trái pháp luật của người khác thì không thuộc trường hợp phạm tội này mà phạm tội giết người (Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015)
Thứ năm, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây ra cho người phạm tội hoặc người thân thích của