1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài Luận: Phân tích thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai và pháp luật khác có liên quan

19 47 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 119,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT ĐẤT ĐAI VIỆT NAM ĐỀ TÀI SỐ 9 Phân tích thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai và pháp luật khác có liên quan Họ và tên Ngày, tháng, năm sinh MSSV Lớp Ngành Luật Kinh Tế Hà Nội, tháng 01 năm 2022 HÀ NỘI, 2010 MỞ ĐẦU PHẦN MỞ ĐẦU Trước hết phải khẳng định, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tài sản quan trọng của quốc gia, là tư liệu sản x.

Trang 1

MỞ ĐẦU

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT ĐẤT ĐAI VIỆT NAM

ĐỀ TÀI SỐ 9 Phân tích thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai và

pháp luật khác có liên quan

Họ và tên:

Ngày, tháng, năm sinh:

MSSV:

Lớp:

Ngành: Luật Kinh Tế

Hà Nội, tháng 01 năm 2022

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Trước hết phải khẳng định, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tài sản quan trọng của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện cần cho mọi hoạt động sản xuất và đời sống Ở nước ta, khi còn nhiều người sống nhờ vào nông nghiệp, thì đất đai càng trở thành nguồn lực quan trọng Và điều này được quy định tại khoản 1 Điều 54 Hiến pháp

nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật”.

Ở Việt Nam, đất đai là một loại tài sản đặc biệt, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai Việc sử dụng đất là vấn đề thường hay phát sinh tranh chấp trên thực tế

Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã hội Đặc biệt, khi nước

ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đất đai trở thành một loại hàng hóa đặc biệt có giá trị thì tranh chấp đất đai có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như mức độ phức tạp Tình trạng tranh chấp đất đai kéo dài với số lượng người dân khiếu kiện ngày càng đông là vấn đề rất đáng được quan tâm Tranh chấp đất đai phát sinh nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội như: Làm đình đốn sản xuất, tổn thương đến các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng đến phong tục đạo đức tốt đẹp của người Việt Nam, gây ra sự mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Tranh chấp đất đai kéo dài nếu không được giải quyết dứt điểm sẽ dễ dẫn đến “điểm nóng”, bị kẻ xấu lợi dụng, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước Vì vậy, việc nghiên cứu tranh chấp đất đai và pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai là cần thiết trong giai đoạn hiện nay Đây cũng là vấn

đề đang được Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm

Mặt khác, để góp phần giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai cũng như nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án ở nước ta, cần có những công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống về các vấn đề này Đây là việc làm có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn cấp thiết Do vậy, em đã chọn đề tài “Phân tích thẩm quyền giải

quyết tranh chấp đất đai của tòa án nhân dân theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai và pháp luật khác có liên quan” làm đề tài nghiên cứu tiểu luận

Em hy vọng qua việc nghiên cứu đề tài này, sẽ góp phần phân tích, đánh giá một cách có hệ thống và tương đối toàn diện các quy định của

Trang 3

pháp luật hiện hành làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án Đồng thời, đề xuất các kiến nghị, giải pháp khả thi góp phần vào việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam

Ngoài phần mở đầu, kết luận thì nội dung của tiểu luận gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết tranh

chấp đất đai của tòa án nhân dân theo các quy định hiện hành của pháp luật đất

đai và pháp luật khác có liên quan

Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án tại Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án tại Việt Nam

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Những vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết

tranh chấp đất đai của tòa án nhân dân theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai và pháp luật khác có liên quan.

1 Một số vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai

1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “tranh chấp” được hiểu là: Giành nhau một cách giằng

co cái không rõ thuộc về bên nào Theo định nghĩa này, có thể hiểu theo nghĩa thông thường

“tranh chấp đất đai” là việc giành nhau về một phần đất nào đó hoặc quyền và nghĩa vụ liên quan đến phần đất đó mà chưa rõ nó thuộc về bên nào Việc “giành nhau” này có thể bằng hành động trực tiếp (chiếm trực tiếp), cũng có thể mới ở phần ý kiến (đòi cơ quan có thẩm quyền phải công nhận cho mình thay vì cho người khác)

Như vậy, tranh chấp đất đai có thể hiểu là biểu hiện của sự mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong việc quản lý hay chiếm quyền sở hữu, quyền sở hữu đối với đất đai Những mâu thuẫn này có thể phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản

lý và sử dụng đất đai Ngoài ra, hiểu theo nghĩa hẹp hơn, tranh chấp

đất đai chính là sự tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý

và sử dụng đất đai

Trang 4

Trên thực tế, tranh chấp đất đai thường gặp ở dạng tranh chấp mà mỗi bên trong quan hệ này đều cho rằng mình có quyền đối với mảnh đất

đó, có quyền sử dụng đối với mảnh đất đó Vì mỗi bên đều cho rằng mình

có quyền lợi và lợi ích hợp pháp đối với đất đai nên vấn đề giải quyết đòi hỏi cần phải có những biện pháp hợp lý và mạnh mẽ hơn

1.2 Đặc điểm của tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai có các đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lí, quyền

sử dụng và những lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng một loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp;

Thứ hai, các chủ thể tranh chấp đất đai chị là chủ thể quản lý và sử

dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai;

Thứ ba, tranh chấp đất đai luôn gắn liền với quá trình sử dụng đất

của các chủ thể nên không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước Vì trước hết, khi xảy ra tranh chấp, một bên không thực hiện được những quyền của mình, do đó ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước,

1.3 Nguyên nhân và hậu quả của việc tranh chấp đất đai

Trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các tranh chấp đất đai ở nước ta đang ngày càng gia tăng Mỗi năm, toà án nhân dân các cấp thụ lý và giải quyết hàng ngàn vụ tranh chấp đất đai Nhìn chung, ngành toà án nhân dân đã giải quyết thành công một số lượng lớn các vụ tranh chấp về đất đai, chất lượng xét xử ngày càng cao, phần nào bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức xã hội

và công dân Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng vì nhiều lý do khác nhau, nhiều lúc, nhiều nơi hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn Có thể kể đến các nguyên nhân sau:

Một là, do sự quản lý yếu kém kéo dài của cơ quan có thẩm quyền

quản lý nhà nước về đất đai trong việc lưu trữ, quản lý hồ sơ Một số cơ quan để xảy ra tình trạng thất lạc hồ sơ về thửa đất, lưu trữ không đầy đủ tài liệu làm gián đoạn thông tin về quá trình sử dụng đất, thông tin trong

hồ sơ về thửa đất bị thiếu và không chính xác (về kích thước, số đo, diện tích, hình thù thửa đất, tài sản trên đất) dẫn đến không cập nhật được di biến động về thửa đất

Trang 5

Thực trạng này xuất phát từ quy định, cách làm không hợp lý của cơ quan quản lý về đất đai như:

 Chậm hoàn thiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân, doanh nghiệp;

 Có sự nhầm lẫn trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

 Giao đất không cụ thể trên thực địa, không rõ ranh giới, chồng lấn khi giao;

 Không xác định được thành viên trong quá trình cấp giấy giấy chứng nhận cho hộ gia đình; yêu cầu bắt buộc ghi cả tên vợ hoặc chồng trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cá nhân;

 Cung cấp thông tin cho đương sự, cơ quan giải quyết tranh chấp không kịp thời, thiếu chính xác dẫn đến hồ sơ về thửa đất không bảo đảm

độ tin cậy, gây trở ngại rất lớn cho việc giải quyết nhanh và chính xác các vụ tranh chấp về đất đai

Hai là, do chính sách pháp luật về đất đai thay đổi liên tục và nhanh

chóng trong một thời gian dài, nhưng mỗi lần thay đổi không có các quy định của pháp luật minh định rõ các quan hệ đất đai hình thành trên thực

tế trong các thời đoạn đó, tạo ra những điểm mờ trong quan hệ về đất đai, dẫn đến cách hiểu và vận dụng quy định pháp luật đất đai chưa đồng

bộ, chưa thống nhất ở các cơ quan quản lý đất đai trên cả nước

Ba là, một nguyên nhân khiến cho mâu thuẫn giữa các bên trong

tranh chấp được đẩy lên cao trào chính là sự tăng lên về giá trị của quyền

sử dụng đất Khi xét thấy lợi ích của chính mình ngày càng bị đe dọa nếu không quyết liệt giành lấy, họ càng khiến cho cuộc tranh chấp trở nên gay gắt, miễn có được một tỷ lệ thuộc về thì họ càng quyết đi đến cùng

để đem lợi ích về

Ngoài ra, xảy ra xung đột giữa các cá nhân trong thực trạng tranh chấp đất đai hiện nay cũng là một vấn đề đáng báo động Nếu như không thể đem lợi ích về phía mình, họ càng có xu hướng dùng bạo lực để giải quyết vấn đề, lúc này ảnh hưởng không chỉ là mối quan hệ giữa các bên,

mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng

Hệ quả của tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước Khi xảy ra tranh chấp, trước hết một bên không thực hiện được những quyền của mình, do đó ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước Tranh chấp đất đai xảy ra sẽ tác động không tốt đến tâm lý, tinh thần của các

Trang 6

bên, gây nên tình trạng mất ổn định, bất đồng trong nội bộ nhân dân, làm cho những quy định của Luật Đất đai, cũng như những đường lối chính sách của Nhà nước không được thực hiện một cách triệt để

2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án nhân dân theo các quy định hiện hành của pháp luật đất đai và pháp luật khác có liên quan

2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án nhân dân

Luật Đất đai năm 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 được ban hành đã tạo hành lang pháp lý để đảm bảo quyền tự do định đoạt, quyền khởi kiện cho các được sự trong việc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai; tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu quả hơn, khắc phục những nhược điểm về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai được quy định trong Luật Đất đai năm 2003 Trong đó, giải quyết tranh chấp đất đai theo trình tự tố tụng dân sự là việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền Đối với tranh chấp về tài sản gắn liền với đất đai và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm

2013 hoặc không có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 nhưng có yêu cầu Tòa án giải quyết thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Đây là phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến và lâu đời nhất Hình thức giải quyết này thông qua cơ quan quyền lực công có chức năng xét xử để đưa ra một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bắt buộc đối với các bên tham gia tranh chấp, là cơ sở để các cơ quan hành chính nhà nước về đất đai có những điều chỉnh phù hợp theo nội dung quyết định, bản

án đã nêu Ngoài ra, theo tổ chức bộ máy nhà nước thì Tòa án được tổ chức và có cơ chế hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên các phán quyết của Tòa án đảm bảo sự công bằng, khách quan

Có thể hiểu, giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án là việc Tòa án áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể nảy sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai Tuy nhiên, không phải tranh chấp đất đai

nào cũng có thể được giải quyết thông qua Tòa án Pháp luật có quy định cụ thể về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp đất đai, theo đó, Tòa án chỉ được giải quyết những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền của mình được pháp luật quy định Cụ thể, pháp luật đất đai căn cứ vào việc người sử dụng đất có hay không có giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất hoặc có hay không có giấy tờ hợp lệ về đất đai và căn cứ theo sự tự do lựa chọn

Trang 7

hình thức giải quyết tranh chấp của đương sự để phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

2.2 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa

án nhân dân

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp được hiểu là hệ thống các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo có tác dụng định hướng trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp Việc giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và bằng tòa án nói riêng phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, nguyên tắc bảo đảm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thực hiện

vai trò đại diện chủ sở hữu: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân có nghĩa là, đất đai không thuộc

quyền sở hữu riêng của một tổ chức hay cá nhân nào Các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân chỉ là chủ thể của quyền sử dụng đất Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Đây là nguyên tắc pháp lý xuyên suốt trong quá trình quản lý và

sử dụng đất, phản ánh đặc trưng của quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai Do vậy, khi giải quyết các tranh chấp đất đai, các cơ quan có thẩm quyền phải nghiêm chỉnh chấp hành nguyên tắc này và coi đó là cơ sở để giải quyết tranh chấp đất đai

Hai là, nguyên tắc đảm bảo lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh tế,

khuyến khích tự hòa giải trong nội bộ quần chúng nhân dân Khi giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn về đất đai, điều đầu tiên cần phải chú ý là giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên Đấy cũng là điểm mấu chốt để giải quyết các tranh chấp đất đai Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, trước khi đưa các tranh chấp đất đai ra giải quyết tại các

cơ quan có thẩm quyền, nhất thiết các tranh chấp này đã phải qua thủ tục hòa giải và pháp luật khuyến khích các bên tự thương lượng hòa giải

Ba là, nguyên tắc giải quyết tranh chấp phải nhằm mục đích ổn định tình hình kinh tế,

xã hội

Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên, khi giải quyết tranh chấp đất đai chúng ta còn phải tuân thủ một số nguyên tắc khác như: Thực hiện đúng việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp; bảo vệ các giao dịch đã thiết lập theo nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tôn trọng truyền thống, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; tôn trọng

tự do ý chí, tự do thỏa thuận, thiện chí, trung thực và nguyên tắc pháp chế; thông qua hoạt động xét xử loại việc này giáo dục pháp luật cho các đương sự và những người khác; thực hiện nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam

2.3 Quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án nhân dân theo luật Đất đai hiện hành

Trang 8

Theo quy định tại Luật Đất đai năm 2003 1 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân theo Luật Đất đai năm 2003 được quy định tăng hơn so với Luật Đất đai năm

1987, 1993 Tuy nhiên vẫn còn nhiều tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND, đó là các tranh chấp quyền sử dụng đất mà đất đó không có các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều

50 Luật Đất đai năm 2003, ví dụ đất tranh chấp mà người sử dụng đất mới chỉ có tên trong sổ mục kê, hoặc ghi số thửa trong bản đồ cũng đều thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND

Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về đất đai Tại Luật đất đai năm

2013 2 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai

mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất Các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 bao gồm:

 Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

 Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

 Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp

xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

1 Khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003

2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013

Trang 9

 Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà

ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

 Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế

độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

 Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm

1993 theo quy định của Chính phủ

 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy

tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

và không phải nộp tiền sử dụng đất

 Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành

án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật

 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật

 Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Ngoài ra, Luật đất đai năm 2013 có quy định mới đó là: đối với tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự được lựa chọn UBND hoặc Tòa án nhân dân giải quyết

Trang 10

Như vậy, đối với trường hợp người sử dụng đất không có giấy chứng nhận hoặc các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm

2013, nếu có tranh chấp và đã được UBND cấp xã hòa giải không thành thì các đương sự có thể lựa chọn việc khởi kiện ngay ra Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết Trường hợp đương sự không muốn khởi kiện ra Tòa

án thì có quyền nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND có thẩm quyền

2.3 Quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng dân sự hiện hành

Giải quyết tranh chấp đất đai theo trình tự tố tụng dân sự là việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 Đây là phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến và lâu đời nhất Hình thức giải quyết này thông qua cơ quan quyền lực công có chức năng xét xử để đưa ra một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bắt buộc đối với các bên tham gia tranh chấp, là cơ sở để các cơ quan hành chính nhà nước về đất đai có những điều chỉnh phù hợp theo nội dung quyết định, bản án đã nêu Ngoài ra, theo tổ chức bộ máy nhà nước thì Tòa án được tổ chức

và có cơ chế hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên các phán quyết của Tòa án đảm bảo sự công bằng, khách quan

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự thường thuộc các quan hệ tranh chấp sau: Tranh chấp đất đai mà trên đất không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất; Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất với các nội dung chủ yếu như: Xác định người có quyền sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất; chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; tranh chấp liên quan đến các giao dịch về đất, tài sản gắn liền với đất; thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

Cũng theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, đối với loại tranh chấp xác định người

có quyền sử dụng đất hoặc tranh chấp về việc xác định người có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 hay chưa, nhưng đương sự khởi kiện đến Tòa án thì Tòa án đều có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Đối với tranh chấp về quyền sở hữu nhà không liên quan đến chính sách cải tạo nhà

ở thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bởi đây là dạng cụ thể của tranh chấp về quyền sở hữu tài sản Về nguyên tắc, nếu tài sản tồn tại trên đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết cả tranh chấp về nhà ở và tranh

Ngày đăng: 12/05/2022, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w