Bài viết Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và khu vực Đông Bắc Ấn Độ bàn về việc hoạch định bối cảnh và đưa ra các chính sách cho cộng đồng thiểu số vùng cao hoặc sự phát triển quốc gia cho tới nay chủ yếu dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của phương tây trong khi đó nhu cầu và yêu cầu của những người vùng cao có thể có nghĩa hơn nếu toàn bộ quá trình xuất phát từ khía cạnh nhân văn. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM VÀ KHU VỰC ĐÔNG BẮC ẤN ĐỘ
Rajen Singh Laishram Khoa Khoa học chính trị Đại học Trung ương Manipur
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản
Việt Nam khởi xướng tại kỳ họp Quốc hội lần
thứ VI năm 1986 đã mang lại những hệ quả và
chuyển biến kinh tế quan trọng Đây chính là
một mô hình đồng thời cũng là một bài học về
xóa đói giảm nghèo, bao gồm cả mặt xã hội và
việc xây dựng nguồn lực cho các cộng đồng
người khác nhau ở vùng cao phía Đông bắc Ấn
Độ Theo đó, Việt Nam được xếp vào nhóm có
thu nhập dưới mức trung bình năm 2009, với
thu nhập đầu người tăng lên mức 1.755 đô la
Mỹ vào năm 2012 từ mức 110 đô la Mỹ trong
hai thập niên trước.Tỷ lệ người nghèo ở Việt
Nam đã giảm từ gần 60% xuống 20,7% với
ước tính khoảng 30 triệu người thoát khỏi cảnh
đói nghèo trong vòng 20 năm – Con số này
gần bằng toàn bộ dân số của khu vực Đông bắc
Ấn [50]Cùng với đó, số lượng trẻ em thuộc
các diện nghèo được đi học Tiểu học tăng hơn
90% và số lượng đi học trung học tăng khoảng
70%
Ấy vậy mà hiện tượng người thuộc diện
cực kỳ nghèo vẫn còn tồn tại với khoảng một
nửa dân số dân tộc thiểu số được ước đoán là
có mức sống dưới định mức nghèo năm 2012
Khi Việt Nam đạt được sự phát triển nhanh
chóng thì sự bất cân bằng cũng tăng lên và tỷ
lệ nghèo ở các dân tộc thiểu số vẫn còn cao,
đặc biệt là trong số 53 dân tộc thiểu số của
Việt Nam mà chỉ chiếm 15% tổng dân số
nhưng chiếm tới 50% tỷ lệ nghèo năm 2010
Do đó, cứ hai người Việt Nam thuộc diện
nghèo thì có một người thuộc các nhóm dân
tộc thiểu số, và cứ mỗi bốn người sống trong
cảnh cực kỳ nghèo thì có đến 3 người dân tộc
thiểu số
Đông Bắc Ấn Độ nằm ở điểm giao nhau
của ba miền Đông, Nam và khu vực Đông nam
[ 50 ], “Xóa đói giảm nghẻo ở Việt Nam: Quá trình đáng kể và
những thách thức” Ngân Hàng Thế Giới, www.worldbank.org
14 tháng 2, 2013
châu Á, 8 tỉnh Đông Bắc Ấn bao gồm Arunachal Pradesh, Assam, Manipur, Meghalaya, Mizoram, Nagaland, Sikkim và Tripura giáp gianh với Băng-la-dét, Bhutan, Trung Quốc, Nepal và Mi-an-ma, và được nối liền với lục địa Ấn Độ qua một dải hẹp dài 29 ki-lo-mét Khu vực này có 40 triệu dân chiếm 3% tổng dân số Ấn Độ Về mặt địa lý, khu vực này chiếm 9% tổng diện tích quốc gia và đóng góp 3% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Đặc trưng của khu vực Đông bắc Ấn đó là sự
đa dạng khác biệt của các nhóm dân tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ, với hơn 160 bộ tộc được trình bày trong đề xuất của Hiến pháp Ấn
Độ [51] Nhưng người ta ước đoán rằng có hơn
400 bộ tộc, cận bộ tộc hoặc các nhóm người khác nhau định cư tại khu vực Đông bắc Ấn
400
Khu vực này có tỷ lệ dân số vùng nông thôn cao, chiếm tới hơn 80% và cũng là một trong những nơi có tỷ lệ nghèo cao nhất thế giới Ngân hàng Thế giới ước tính rằng tỷ lệ dân số tại khu vực này có mức sống thấp hơn định mức nghèo chiếm 34% so với tỷ lệ trung bình toàn quốc là 26%.Tỷ lệ người nghèo dưới định mức ở khu vực này không có bất kỳ chuyển biến nào trong khi con số trung bình toàn quốc gia Ấn Độ giảm từ 44% năm 1983 xuống còn 26% năm 2000.Những thành tựu đáng kể về kinh tế Ấn Độ qua thể chế kinh tế mới và chiến lược định hướng “Hướng về phương Đông” tạo ra ảnh hưởng rất nhỏ đối với các cộng đồng khác nhau tại khu vực Đông bắc Ấn Bên cạnh việc có chung biên giới với miền Đông châu Á, các tỉnh của khu vực Đông Bắc Ấn còn gặp nhiều khó khăn bởi địa hình khắc nghiệt giống như ở vùng cao, hoặc các tỉnh miền núi của Việt Nam
Sự tương đồng [51], Hiến Pháp Ấn Độ, Chính phủ Ấn Độ, 1999
Trang 2Các tỉnh vùng cao, vùng núi ở Việt Nam
và Đông bắc Ấn Độ đều có nhiều bộ tộc khác
nhau, nhiều nhóm chủng tộc, ngôn ngữ và tôn
giáo thiểu số định cư với rất ít sự tương quan
với các thể chế trung tâm [52] Thậm chí sau
60 năm sau thời kỳ thuộc địa, có một “sự thâm
hụt hợp pháp” và các mối quan hệ tế nhị giữa
khu vực trung tâm và các tỉnh biên giới do
những khác biệt về xã hội, văn hóa và sự đối
lập về thể chế chính trị Địa hình, địa lý đã tác
động đến sự đang dạng hóa con người và văn
hóa ở dãy Mi-ma-lay-a giống như ở vùng cao
Việt Nam theo một cách thức mà trong đó sự
biến đổi khí hậu đã có những ảnh hưởng có thể
giải thích được đối với dân cư trong vùng
Địa hình nhấp nhô đã làm chậm quá trình di
chuyển dân cư và làm thiếu đi sự tự nhiên
trong giao tiếp giao tiếp khiến cho các dân tộc
sống gần nhau vẫn còn rời rạc và vẫn duy trì
và phát triển nền văn hóa khác nhau.’[53]
Sự phân biệt thái độ xảy ra hằng ngày
trong các cộng đồng người vùng cao ở Việt
Nam và Đông Bắc Ấn Độ Những người dân
vùng này bị miệt thị, gọi là Chinkis (mắt lác),
Junglees (người rừng) và Paharis (những người
miền núi) ở Ấn Độ, còn ở Việt Nam thì họ bị
gọi là mọi hoặc người Thượng Sự đô hộ của
thực dân Pháp đã tiếp nhận những chính sách
phân biệt những người ở vùng đồng bằng và
những người ở vùng cao cũng giống như sự đô
hộ của Anh đặt ra phạm vi cho phép và ranh
giới rõ ràng đối với những người vùng cao ở
Ấn Độ, nơi này như địa phận bị ghẻ lạnh, đồng
thời tách rời hình thức tương tác tự nhiên hoặc
dân dã giữa các cộng đồng người vùng cao và
vùng đồng bằng Tàn tích của thời kỳ đô hộ,
bất kỳ chương trình hay dự án phát triền nào
đều được coi là đề án khai phá văn minh
Với bối cảnh giống nhau về mặt xã hội,
văn hóa và chính trị và sự đình trệ trong kinh
tế giữa khu vực Đông bắc Ấn và khu vực vùng
[ 52 ], C Patterson Giersch, “Từ tam giác vàng đến tứ giác kinh tế:
Đánh giá tiến trình phát triển kinh tế từ viễn cảnh lịch sử”
www.ciaonet.org/wps/gpc01/gpc01.html
[ 53 ], Gerald D Berreman, “Dân tộc và văn hóa ở Hi-ma-lay-a,”
Khảo sát Châu Á, Vol 3, No 6, tháng sáu 1963, p 290
cao Việt Nam, người ta cho rằng việc gắn kết các vấn đề cá biệt mà các cộng đồng người đang đối mặt cần một cách tiếp cận khác đi Để duy trì quan điểm này, một số dấu hiệu như văn hóa, thiếu thông tin về nguồn vốn, việc xây dựng nguồn lực, sự giao tiếp, sự thiếu tiếp cận tới giáo dục, cần phải được làm rõ Khi không có tiến trình hay thể chế nào, thì xã hội văn mình và sự can thiệp của các tổ chức đối với việc xóa đói giảm nghèo và các chính sách bao hàm sẽ có hiệu lực trừ phi hoặc cho tới khi kiến thức nội dinh và những cơ sở kỹ năng được nuôi lớn trong chính những cộng đồng người ở vùng cao Các chính sách giảm nghèo
ở Đông Bắc Á cho thấy việc thi hành xóa đói giảm nghèo và các chương trình phát triển mà không tạo ra những kiến thức phù hợp và năng lực tiềm tàng của các cộng đồng sống riêng rẽ
ở vùng cao, những tỉnh biên giới chịu sự cô lập
về văn hóa, bị cách ly và miệt thị thì sẽ không đạt kết quả nào hết Mặc dù Ấn Độ có những chiến lược vĩ mô, chiếm tới 10% nguồn ngân sách phát triển bang của các tỉnh Đông bắc Ấn, nhưng tính khả thi của việc xóa đói giảm nghèo vẫn chưa được thấy rõ Những viễn cảnh tối tăm có thể là do những chính sách không ăn khớp với nhau trong sự không can thiệp vào lối sống bộ lạc hoặc các dân tộc thiểu
số quốc gia Cùng với sự không ăn khớp về văn hóa, sự phụ thuộc một cách bắt ép vào các quy tắc, tiêu chuẩn thì các chính sách và viễn cảnh của vùng trung tâm mà thường không để
ý tới việc xem xét và phản ánh sự thật ở các địa phương cũng làm cho vấn đề trở lên phức tạp hơn Trong khi đó, ở Việt Nam, 30 triệu người đã thoát khỏi cảnh nghèo, con số này tương ứng với khoảng 40 triệu người ở Đông Bắc Ấn Nhưng những thành tựu đáng kể đó bao gồm rất ít dân tộc thiểu số ở vùng cao
Hệ thống chính trị dường như không có bất kỳ ảnh hưởng quyết định nào đối với việc giảm nghèo của các dân tộc thiểu số vùng cao
ở Đông bắc Ấn và Việt Nam [54] Yếu tố cản
[54], Tác giả đã so sánh các cộng đồng người sống rải rác ở biên giới Trung Ấn tại Rajen Singh Laishram “Khó khăn trong hiểu biết và phát triển tại các tỉnh
Trang 3trở trong việc mang lại một sự phát triển tổng
thể ở vùng cao chính là một sự cô lập chính
trị-địa lý, thiếu tương tác với thế giới và văn hóa
bên ngoài Điều này đã làm cho hạn chế hoặc
hoặc thậm chí ngăn cản chuỗi thương mại quốc
tế, và từ đó làm chậm lại sự hình thành nguồn
nhân lực tại chỗ
Việc thiếu nguồn nhân lực đã gây ra sự
thiếu hụt đi văn hóa và việc xây dựng nguồn
lực bị kìm hãm trong các cộng đồng người
sống ở vùng cao ở cả Đông bắc Ấn và Việt
Nam Trong trường hợp của khu vực Đông bắc
Ấn, nhiều chương trình sau đại học có thế hệ
người học đầu tiên, [55] những người thực sự
gặp khó khăn trong giao tiếp và hiểu biết sai
lệch về các vấn đề nhân tài và các chính sách
Do đó, giả thuyết rằng khát vọng và mong
muốn của thế hệ trẻ nghèo thấp hơn so với thế
hệ trẻ có điều kiện Điều này được thể hiện
trong sự lựa chọn áp dụng những quy tắc cho
sinh viên tốt nghiệp và học sinh phổ thông ở
vùng cao Sự lựa chọn áp dụng các quy tắc
thường dựa trên tính tự do và đạo đức Trong
khi đó, khoa học, quản lý, kỹ sư và y tế là rất ít
người học bởi chi phí cho những khóa học như
thế thường cao Tham gia vào giáo dục đại học
ở Đông bắc Ấn, ta có thể nói rằng ngoại trừ 3
tỉnh Meghalaya, Mizoram và Manipur thì
lượng thí sinh đăng ký thấp hơn con số trung
bình 9.97 của toàn quốc gia Và số lượng thí
sinh đăng ký vào ngành khoa học, ngoại trừ ở
Manipur, thì thấp hơn so với con số trung bình
20.0 toàn quốc [56]Tầm nhìn 2020 cho thấy
rằng nhân tố về khoảng cách dẫn đến hiện
tượng bỏ học giữa chừng ở Đông bắc Ấn cao
hơn so với con số trung bình toàn quốc Hẳn có
lẽ không sai khi cho rằng những khó khăn
tương tự chẳng hạn như thiếu đường tới
trường, khoảng cách xa mà không có phương
biên giới Trung Ấn,” Bối cảnh: Châu Á- Thái Bình Dương
(Kolkata: Hiệp hội người Ấn Độ nghiên cứu Châu Á và Thái
Bình dương trong hội thảo quốc tế lần thứ V,2012) trang
514-530
[ 55 ], Dựa trên khảo sát ngẫu nhiên sinh viên khoa học chính trị
trong vòng 15 năm tại đại học Manipur
[ 56], Bộ Phát triển khu vực Đông bắc, Ủy ban ĐÔng bắc, Tầm
nhìn Đông bắc 2020
http://mdoner.gov.in/writereaddata/sublinkimages/Vision_2020_
ANNEX.pdf trang 119-120
tiện đi lại hiện đại là nguyên nhân dẫn đến việc
bỏ học ở Việt Nam
Những nỗ lực cho việc phát triển và chế
độ ‘khai hóa văn minh’ có thể được coi là chính sách hệ thống cho việc khai thác và nô dịch của dân tộc thiểu số Hơn nữa, trong bối cảnh xã hội mới chỉ có thế hệ người học đầu tiên, sự thiếu khả năng phân biệt lĩnh vực tư nhân và công cộng, thiếu trách nhiệm cũng là những nhân tố gây chia rẽ, thờ ơ và làm giảm
đi tinh thần cộng đồng Nực cười là ở chỗ sự đẩy mạnh giáo dục dân tộc thiểu số, bảo tồn văn hóa và niềm tin tôn giáo qua truyền miệng, tiếng địa phương, tôn giáo và văn hóa cổ lại không giúp cho các cộng đồng người tham gia một cách có hiệu quả vào công cuộc thay đổi Một số nhóm dân tộc cũng đã nhận thức được giáo dục là con đường mà qua đó những người đô hộ đạt được quyền lực và tính hợp pháp Qua việc cách ngôn hóa giáo dục là
‘thanh gươm hai lưỡi’, ông Nagas ở Đông bắc
Ấn diễn tả rằng giáo dục đã hướng một cộng đồng ban sơ tới hiểu biết về khoa học và công nghệ hiện đại, ấy thế mà nó cũng xâm lấn vào cách sống, ngôn ngữ, quan điểm về thế giới và
hệ thống niềm tin của con người.Việc áp dụng một chương trình được tán thành trên toàn Ấn
Độ được coi là một quá trình đô hộ lại người Nagas đã mất khả năng để kiến tạo quá khứ của họ một cách khách quan [57]
Việc thiếu cơ sở vật chất, nguồn tài nguyên và những hỗ trợ văn hóa cùng với sự tăng lên trong việc chia tách kỹ thuật số, đã loại bỏ và phân biệt các cộng đồng ở khu vực biên giới Để thấy rõ hơn, chúng ta có thể nhìn vào mật độ vô tuyến ở khu vực Đông bắc Ấn năm 2004 là 2,08 trong khi đó mật độ của toàn quốc là 7,02, [58] qua đó cho thấy rằng có một
sự rủi ro lớn đối với những người mà không được tiếp cận tới thông tin và công nghệ truyền
[ 57 ] Dolly Kikon, “Phá hủy sự khác biệt, hài long với việc học:
Một phân tích sâu sắc về chính sách giáo dục cho vùng Naga,”
Nghiên cứu văn hóa trong Châu Á Volume 2,số 2, 2003, trang
237-241 [ 58],Bộ Phát triển khu vực Đông bắc, Ủy ban ĐÔng bắc, Tầm
nhìn Đông bắc 2020
http://mdoner.gov.in/writereaddata/sublinkimages/Vision_2020_ ANNEX.pdf p 106
Trang 4thông (ICTs) và sử dụng chúng một các hiệu
quả sẽ dẫn đến việc họ bị cô lập khỏi thế giới
Tương tự, lượng người sử dụng Internet ở khu
vực này là 66,64 trên người, trong khi đó
lượng người sử dụng trung bình toàn quốc là
3.260,78 năm 2003 [59] Sự kìm hãm phát
triển cơ sở vật chất không chỉ liên quan đến
công nghệ thông tin Việc thiếu nguồn cung
cấp điện ổn định, đặc biệt là ở các khu làng có
thu nhập thấp cũng là một vấn đề quan trọng
trong việc tạo ra kết nối cộng đồng
Sự can thiệp chính trị và nhấn mạnh nam
giới là những người con trai của đất trong sự
lựa chọn đối tượng dạy học đã đặt lên trên chất
lượng giáo dục Sự xói mòn chất lượng trong
những trường học công lập chính là căn
nguyên của phương thức tuyển sinh như vậy
Quá trình toàn cầu hóa và các dân tộc
thiểu số
Sự tấn công của công cuộc toàn cầu hóa
và những điểm nhấn của nó về các kỹ năng,
kiếm thức và nhân lực hướng vào sự tham gia
của các cộng đồng địa phương vào quá trình
thay đổi Bản chất của khái niệm nhân lực và
công nghiệp toàn cầu, lợi nhuận của những sự
đầu tư, khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên
thiên nhiên tại các tỉnh biên giới mà không có
sự trả lại tương ứng hoặc hay không có sự
tham gia của các cộng đồng thiểu số đã dẫn
đến sự phá vỡ nguồn tài nguyên thiên nhiên,
sản vật, tăng tỷ lệ tội phạm, mại dâm,và nạn
nhân chính là những người dân sống ở vùng
cao
Trong các hoạt động thương mại và quản
lý cùng với sự phân cấp hàng đầu về luật áp
cho các hãng hoặc doanh nghiệp ở các tỉnh
biên giới, vùng cao Việt Nam và khu vực
Đông bắc Ấn cũng chịu sự chèn ép của đa số
những người từ nơi khác đến Thể chế tự do và
các hoạt động không bị kiềm chế mà không có
một cơ chế thích hợp để đảm bảo lợi ích và sự
tham gia của các cộng đồng người vùng cao có
[59],Bộ Phát triển khu vực Đông bắc, Ủy ban ĐÔng
bắc, Tầm nhìn Đông bắc 2020
http://mdoner.gov.in/writereaddata/sublinkimages/
Vision_2020_ANNEX.pdf p 107
thể ảnh hưởng một cách tiêu cực đến tương lại
và thậm chí là đặt ra một thách thức lớn về tính chính trực khu vực Nói cách khác, sự nhận thức thực thụ hoặc chỉ là tưởng tượng rằng có một chính sách kiên định về chế độ đô
hộ nội bộ liên quan đến những khu vực vùng cao cần phải được loại bỏ thông qua những nỗ lực kiến tạo
Những lựa chọn Việc ưu tiên cho các nhóm dân tộc thiểu
số hoặc những nhóm người mà cần có sự can thiệp đặt ra giả thuyết rằng cần có sự phân bậc nội bộ hoặc tầng lớp trong bản thân các bộ tộc hoặc nhóm dân tộc thiểu số Việc ưu tiên này cần phải được kết hợp một cách tinh tế với những chính sách trái chiều mà không can thiệp và lối sống bộ tộc và các dân tộc thiểu số quốc gia Phần lớn chính sách thiên về người Kinh và người Ấn nhấn mạnh vào kiến thức và
kỹ năng hiện đại cùng với sự phụ thuộc bắt buộc vào các tiêu chuẩn, chính sách và bối cảnh của trung ương Những chính sách, chương trình này thường không để ý đến việc xem xét và phản ảnh thực tế địa phương, và yêu cầu duy trì mặt bằng chung ổn định với các nhân tố địa phương
Cách thức thực hiện Việc hoạch định bối cảnh và đưa ra các chính sách cho cộng đồng thiểu số vung cao hoặc sự phát triển quốc gia cho tới nay chủ yếu dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của phương tây trong khi đó nhu cầu và yêu cầu của những người vùng cao có thể có nghĩa hơn nếu toàn
bộ quá trình xuất phát từ khía cạnh nhân văn Làm thế nào để chúng ta hiểu rõ được nỗi sợ hãi, sự cô lập và cảm xúc của những người bị
kỳ thị? Những ý kiến cực đoan đối với những người thiểu số, coi họ là người lập dị cần được xem xét để chúng ta có thể tự xem xét và liên
hệ với thực tiễn Những nhu cầu về mặt địa lý, sinh học của những người vùng cao không thể
bị áp đặt bởi những người ở vùng đồng bằng, tuy nhiên việc xây dựng nguồn lực cho vùng cao là rất cần thiết Do đó, việc hoạch định chiến lược và can thiệp một cách khéo léo chính là chìa khóa Các cộng đồng người vùng
Trang 5cao không cùng nguồn gốc nhưng vô số những
người hoặc cộng đồng người ở mức độ xã hội,
kinh tế và giáo dục được nhóm lại với nhau
Những mục tiêu cụ thể hướng vào người thiểu
số thường bỏ quên quá trình thực thi
Nếu tất cả các hệ thống xã hội xuất phát
từ những người bình thường yêu cầu có một
[60] cơ cấu ép buộc thì cách thức mà Việt nam
gắn vào các cộng đồng người thiểu số vùng
cao có thể là một khởi điểm tốt Cách thức
người Việt Nam giải quyết các vấn đề liên
quan tới việc phát triển tại chỗ trong bối cảnh
phát triển hợp lý có thể là một dấu hiệu để cho
các vấn đề của người dân tộc thiểu số vùng cao
Đông bắc Ấn Về mặt địa lý, sinh học, văn
hóa, nhu cầu của những người vùng cao không
thể bị áp đặt bỏi những người vùng đồng bằng
trung tâm Bởi vì không tồn tại bất kỳ sự phát
triển ý nghĩa và hiệu quả nào hoặc một thể chế
xóa đói giảm nghèo nào thành công được khi
mà những cộng đồng người vùng cao không
được chuẩn bị sẵn sàng và được tự nuôi dưỡng,
và chính họ là người nêu ra, thoải thuận để
mang lại sự phát triển cho chính họ Do đó,
việc hoạch định chiến lược và can thiệp một
cách khôn khéo đã trở lên cấp thiết hơn bao
giờ hết Chúng ta không thể kỳ vọng rằng
những sự đầu tư về giáo dục sẽ mang lại hiệu
quả trong vòng thập kỷ như những loại hình
đầu tư khác Báo cáo của những người rút tài
trợ khỏi giáo dục và phát triển cộng đồng dân
tộc thiểu số ở Việt Nam cần xem xét lại bởi lẽ
chúng ta không thể kỳ vọng vào bất kỳ một
phép màu nào từ chính những người vùng cao,
những người mà bản thân đặc điểm địa lý, văn
hóa và lịch sử đã cô lập họ khỏi thế giới bên
ngoài hàng thế kỷ nay Sự kiên định dựa trên
tính minh bạch và trách nhiệm cùng với việc
phác họa ra những tiên đoán về đầu tư có thể
có ích về lâu dài cho cộng đồng dân tộc thiểu
số ở Việt Nam và Đông bắc Ấn Độ
[ 60 ], Amiya Kumar Bagchi, Khả năng tiếp cận và nền kinh tế
chính trị trong sự phát triển con người, ở Kaushik Basu và Ravi
Kanbur, eds., Tranh đầu cho một thế giới tốt hơn: guments for a
Better World: Những bài luận danh giá của Amartya Sen:
Volume II: Xã hội, các tổ chức và sự phát triển (Oxford: Nhà
xuất bản đại học Oxford, 2009) trang 34