1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và khu vực Đông Bắc Ấn Độ

5 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 268,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và khu vực Đông Bắc Ấn Độ bàn về việc hoạch định bối cảnh và đưa ra các chính sách cho cộng đồng thiểu số vùng cao hoặc sự phát triển quốc gia cho tới nay chủ yếu dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của phương tây trong khi đó nhu cầu và yêu cầu của những người vùng cao có thể có nghĩa hơn nếu toàn bộ quá trình xuất phát từ khía cạnh nhân văn. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM VÀ KHU VỰC ĐÔNG BẮC ẤN ĐỘ

Rajen Singh Laishram Khoa Khoa học chính trị Đại học Trung ương Manipur

Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản

Việt Nam khởi xướng tại kỳ họp Quốc hội lần

thứ VI năm 1986 đã mang lại những hệ quả và

chuyển biến kinh tế quan trọng Đây chính là

một mô hình đồng thời cũng là một bài học về

xóa đói giảm nghèo, bao gồm cả mặt xã hội và

việc xây dựng nguồn lực cho các cộng đồng

người khác nhau ở vùng cao phía Đông bắc Ấn

Độ Theo đó, Việt Nam được xếp vào nhóm có

thu nhập dưới mức trung bình năm 2009, với

thu nhập đầu người tăng lên mức 1.755 đô la

Mỹ vào năm 2012 từ mức 110 đô la Mỹ trong

hai thập niên trước.Tỷ lệ người nghèo ở Việt

Nam đã giảm từ gần 60% xuống 20,7% với

ước tính khoảng 30 triệu người thoát khỏi cảnh

đói nghèo trong vòng 20 năm – Con số này

gần bằng toàn bộ dân số của khu vực Đông bắc

Ấn [50]Cùng với đó, số lượng trẻ em thuộc

các diện nghèo được đi học Tiểu học tăng hơn

90% và số lượng đi học trung học tăng khoảng

70%

Ấy vậy mà hiện tượng người thuộc diện

cực kỳ nghèo vẫn còn tồn tại với khoảng một

nửa dân số dân tộc thiểu số được ước đoán là

có mức sống dưới định mức nghèo năm 2012

Khi Việt Nam đạt được sự phát triển nhanh

chóng thì sự bất cân bằng cũng tăng lên và tỷ

lệ nghèo ở các dân tộc thiểu số vẫn còn cao,

đặc biệt là trong số 53 dân tộc thiểu số của

Việt Nam mà chỉ chiếm 15% tổng dân số

nhưng chiếm tới 50% tỷ lệ nghèo năm 2010

Do đó, cứ hai người Việt Nam thuộc diện

nghèo thì có một người thuộc các nhóm dân

tộc thiểu số, và cứ mỗi bốn người sống trong

cảnh cực kỳ nghèo thì có đến 3 người dân tộc

thiểu số

Đông Bắc Ấn Độ nằm ở điểm giao nhau

của ba miền Đông, Nam và khu vực Đông nam

[ 50 ], “Xóa đói giảm nghẻo ở Việt Nam: Quá trình đáng kể và

những thách thức” Ngân Hàng Thế Giới, www.worldbank.org

14 tháng 2, 2013

châu Á, 8 tỉnh Đông Bắc Ấn bao gồm Arunachal Pradesh, Assam, Manipur, Meghalaya, Mizoram, Nagaland, Sikkim và Tripura giáp gianh với Băng-la-dét, Bhutan, Trung Quốc, Nepal và Mi-an-ma, và được nối liền với lục địa Ấn Độ qua một dải hẹp dài 29 ki-lo-mét Khu vực này có 40 triệu dân chiếm 3% tổng dân số Ấn Độ Về mặt địa lý, khu vực này chiếm 9% tổng diện tích quốc gia và đóng góp 3% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Đặc trưng của khu vực Đông bắc Ấn đó là sự

đa dạng khác biệt của các nhóm dân tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ, với hơn 160 bộ tộc được trình bày trong đề xuất của Hiến pháp Ấn

Độ [51] Nhưng người ta ước đoán rằng có hơn

400 bộ tộc, cận bộ tộc hoặc các nhóm người khác nhau định cư tại khu vực Đông bắc Ấn

400

Khu vực này có tỷ lệ dân số vùng nông thôn cao, chiếm tới hơn 80% và cũng là một trong những nơi có tỷ lệ nghèo cao nhất thế giới Ngân hàng Thế giới ước tính rằng tỷ lệ dân số tại khu vực này có mức sống thấp hơn định mức nghèo chiếm 34% so với tỷ lệ trung bình toàn quốc là 26%.Tỷ lệ người nghèo dưới định mức ở khu vực này không có bất kỳ chuyển biến nào trong khi con số trung bình toàn quốc gia Ấn Độ giảm từ 44% năm 1983 xuống còn 26% năm 2000.Những thành tựu đáng kể về kinh tế Ấn Độ qua thể chế kinh tế mới và chiến lược định hướng “Hướng về phương Đông” tạo ra ảnh hưởng rất nhỏ đối với các cộng đồng khác nhau tại khu vực Đông bắc Ấn Bên cạnh việc có chung biên giới với miền Đông châu Á, các tỉnh của khu vực Đông Bắc Ấn còn gặp nhiều khó khăn bởi địa hình khắc nghiệt giống như ở vùng cao, hoặc các tỉnh miền núi của Việt Nam

Sự tương đồng [51], Hiến Pháp Ấn Độ, Chính phủ Ấn Độ, 1999

Trang 2

Các tỉnh vùng cao, vùng núi ở Việt Nam

và Đông bắc Ấn Độ đều có nhiều bộ tộc khác

nhau, nhiều nhóm chủng tộc, ngôn ngữ và tôn

giáo thiểu số định cư với rất ít sự tương quan

với các thể chế trung tâm [52] Thậm chí sau

60 năm sau thời kỳ thuộc địa, có một “sự thâm

hụt hợp pháp” và các mối quan hệ tế nhị giữa

khu vực trung tâm và các tỉnh biên giới do

những khác biệt về xã hội, văn hóa và sự đối

lập về thể chế chính trị Địa hình, địa lý đã tác

động đến sự đang dạng hóa con người và văn

hóa ở dãy Mi-ma-lay-a giống như ở vùng cao

Việt Nam theo một cách thức mà trong đó sự

biến đổi khí hậu đã có những ảnh hưởng có thể

giải thích được đối với dân cư trong vùng

Địa hình nhấp nhô đã làm chậm quá trình di

chuyển dân cư và làm thiếu đi sự tự nhiên

trong giao tiếp giao tiếp khiến cho các dân tộc

sống gần nhau vẫn còn rời rạc và vẫn duy trì

và phát triển nền văn hóa khác nhau.’[53]

Sự phân biệt thái độ xảy ra hằng ngày

trong các cộng đồng người vùng cao ở Việt

Nam và Đông Bắc Ấn Độ Những người dân

vùng này bị miệt thị, gọi là Chinkis (mắt lác),

Junglees (người rừng) và Paharis (những người

miền núi) ở Ấn Độ, còn ở Việt Nam thì họ bị

gọi là mọi hoặc người Thượng Sự đô hộ của

thực dân Pháp đã tiếp nhận những chính sách

phân biệt những người ở vùng đồng bằng và

những người ở vùng cao cũng giống như sự đô

hộ của Anh đặt ra phạm vi cho phép và ranh

giới rõ ràng đối với những người vùng cao ở

Ấn Độ, nơi này như địa phận bị ghẻ lạnh, đồng

thời tách rời hình thức tương tác tự nhiên hoặc

dân dã giữa các cộng đồng người vùng cao và

vùng đồng bằng Tàn tích của thời kỳ đô hộ,

bất kỳ chương trình hay dự án phát triền nào

đều được coi là đề án khai phá văn minh

Với bối cảnh giống nhau về mặt xã hội,

văn hóa và chính trị và sự đình trệ trong kinh

tế giữa khu vực Đông bắc Ấn và khu vực vùng

[ 52 ], C Patterson Giersch, “Từ tam giác vàng đến tứ giác kinh tế:

Đánh giá tiến trình phát triển kinh tế từ viễn cảnh lịch sử”

www.ciaonet.org/wps/gpc01/gpc01.html

[ 53 ], Gerald D Berreman, “Dân tộc và văn hóa ở Hi-ma-lay-a,”

Khảo sát Châu Á, Vol 3, No 6, tháng sáu 1963, p 290

cao Việt Nam, người ta cho rằng việc gắn kết các vấn đề cá biệt mà các cộng đồng người đang đối mặt cần một cách tiếp cận khác đi Để duy trì quan điểm này, một số dấu hiệu như văn hóa, thiếu thông tin về nguồn vốn, việc xây dựng nguồn lực, sự giao tiếp, sự thiếu tiếp cận tới giáo dục, cần phải được làm rõ Khi không có tiến trình hay thể chế nào, thì xã hội văn mình và sự can thiệp của các tổ chức đối với việc xóa đói giảm nghèo và các chính sách bao hàm sẽ có hiệu lực trừ phi hoặc cho tới khi kiến thức nội dinh và những cơ sở kỹ năng được nuôi lớn trong chính những cộng đồng người ở vùng cao Các chính sách giảm nghèo

ở Đông Bắc Á cho thấy việc thi hành xóa đói giảm nghèo và các chương trình phát triển mà không tạo ra những kiến thức phù hợp và năng lực tiềm tàng của các cộng đồng sống riêng rẽ

ở vùng cao, những tỉnh biên giới chịu sự cô lập

về văn hóa, bị cách ly và miệt thị thì sẽ không đạt kết quả nào hết Mặc dù Ấn Độ có những chiến lược vĩ mô, chiếm tới 10% nguồn ngân sách phát triển bang của các tỉnh Đông bắc Ấn, nhưng tính khả thi của việc xóa đói giảm nghèo vẫn chưa được thấy rõ Những viễn cảnh tối tăm có thể là do những chính sách không ăn khớp với nhau trong sự không can thiệp vào lối sống bộ lạc hoặc các dân tộc thiểu

số quốc gia Cùng với sự không ăn khớp về văn hóa, sự phụ thuộc một cách bắt ép vào các quy tắc, tiêu chuẩn thì các chính sách và viễn cảnh của vùng trung tâm mà thường không để

ý tới việc xem xét và phản ánh sự thật ở các địa phương cũng làm cho vấn đề trở lên phức tạp hơn Trong khi đó, ở Việt Nam, 30 triệu người đã thoát khỏi cảnh nghèo, con số này tương ứng với khoảng 40 triệu người ở Đông Bắc Ấn Nhưng những thành tựu đáng kể đó bao gồm rất ít dân tộc thiểu số ở vùng cao

Hệ thống chính trị dường như không có bất kỳ ảnh hưởng quyết định nào đối với việc giảm nghèo của các dân tộc thiểu số vùng cao

ở Đông bắc Ấn và Việt Nam [54] Yếu tố cản

[54], Tác giả đã so sánh các cộng đồng người sống rải rác ở biên giới Trung Ấn tại Rajen Singh Laishram “Khó khăn trong hiểu biết và phát triển tại các tỉnh

Trang 3

trở trong việc mang lại một sự phát triển tổng

thể ở vùng cao chính là một sự cô lập chính

trị-địa lý, thiếu tương tác với thế giới và văn hóa

bên ngoài Điều này đã làm cho hạn chế hoặc

hoặc thậm chí ngăn cản chuỗi thương mại quốc

tế, và từ đó làm chậm lại sự hình thành nguồn

nhân lực tại chỗ

Việc thiếu nguồn nhân lực đã gây ra sự

thiếu hụt đi văn hóa và việc xây dựng nguồn

lực bị kìm hãm trong các cộng đồng người

sống ở vùng cao ở cả Đông bắc Ấn và Việt

Nam Trong trường hợp của khu vực Đông bắc

Ấn, nhiều chương trình sau đại học có thế hệ

người học đầu tiên, [55] những người thực sự

gặp khó khăn trong giao tiếp và hiểu biết sai

lệch về các vấn đề nhân tài và các chính sách

Do đó, giả thuyết rằng khát vọng và mong

muốn của thế hệ trẻ nghèo thấp hơn so với thế

hệ trẻ có điều kiện Điều này được thể hiện

trong sự lựa chọn áp dụng những quy tắc cho

sinh viên tốt nghiệp và học sinh phổ thông ở

vùng cao Sự lựa chọn áp dụng các quy tắc

thường dựa trên tính tự do và đạo đức Trong

khi đó, khoa học, quản lý, kỹ sư và y tế là rất ít

người học bởi chi phí cho những khóa học như

thế thường cao Tham gia vào giáo dục đại học

ở Đông bắc Ấn, ta có thể nói rằng ngoại trừ 3

tỉnh Meghalaya, Mizoram và Manipur thì

lượng thí sinh đăng ký thấp hơn con số trung

bình 9.97 của toàn quốc gia Và số lượng thí

sinh đăng ký vào ngành khoa học, ngoại trừ ở

Manipur, thì thấp hơn so với con số trung bình

20.0 toàn quốc [56]Tầm nhìn 2020 cho thấy

rằng nhân tố về khoảng cách dẫn đến hiện

tượng bỏ học giữa chừng ở Đông bắc Ấn cao

hơn so với con số trung bình toàn quốc Hẳn có

lẽ không sai khi cho rằng những khó khăn

tương tự chẳng hạn như thiếu đường tới

trường, khoảng cách xa mà không có phương

biên giới Trung Ấn,” Bối cảnh: Châu Á- Thái Bình Dương

(Kolkata: Hiệp hội người Ấn Độ nghiên cứu Châu Á và Thái

Bình dương trong hội thảo quốc tế lần thứ V,2012) trang

514-530

[ 55 ], Dựa trên khảo sát ngẫu nhiên sinh viên khoa học chính trị

trong vòng 15 năm tại đại học Manipur

[ 56], Bộ Phát triển khu vực Đông bắc, Ủy ban ĐÔng bắc, Tầm

nhìn Đông bắc 2020

http://mdoner.gov.in/writereaddata/sublinkimages/Vision_2020_

ANNEX.pdf trang 119-120

tiện đi lại hiện đại là nguyên nhân dẫn đến việc

bỏ học ở Việt Nam

Những nỗ lực cho việc phát triển và chế

độ ‘khai hóa văn minh’ có thể được coi là chính sách hệ thống cho việc khai thác và nô dịch của dân tộc thiểu số Hơn nữa, trong bối cảnh xã hội mới chỉ có thế hệ người học đầu tiên, sự thiếu khả năng phân biệt lĩnh vực tư nhân và công cộng, thiếu trách nhiệm cũng là những nhân tố gây chia rẽ, thờ ơ và làm giảm

đi tinh thần cộng đồng Nực cười là ở chỗ sự đẩy mạnh giáo dục dân tộc thiểu số, bảo tồn văn hóa và niềm tin tôn giáo qua truyền miệng, tiếng địa phương, tôn giáo và văn hóa cổ lại không giúp cho các cộng đồng người tham gia một cách có hiệu quả vào công cuộc thay đổi Một số nhóm dân tộc cũng đã nhận thức được giáo dục là con đường mà qua đó những người đô hộ đạt được quyền lực và tính hợp pháp Qua việc cách ngôn hóa giáo dục là

‘thanh gươm hai lưỡi’, ông Nagas ở Đông bắc

Ấn diễn tả rằng giáo dục đã hướng một cộng đồng ban sơ tới hiểu biết về khoa học và công nghệ hiện đại, ấy thế mà nó cũng xâm lấn vào cách sống, ngôn ngữ, quan điểm về thế giới và

hệ thống niềm tin của con người.Việc áp dụng một chương trình được tán thành trên toàn Ấn

Độ được coi là một quá trình đô hộ lại người Nagas đã mất khả năng để kiến tạo quá khứ của họ một cách khách quan [57]

Việc thiếu cơ sở vật chất, nguồn tài nguyên và những hỗ trợ văn hóa cùng với sự tăng lên trong việc chia tách kỹ thuật số, đã loại bỏ và phân biệt các cộng đồng ở khu vực biên giới Để thấy rõ hơn, chúng ta có thể nhìn vào mật độ vô tuyến ở khu vực Đông bắc Ấn năm 2004 là 2,08 trong khi đó mật độ của toàn quốc là 7,02, [58] qua đó cho thấy rằng có một

sự rủi ro lớn đối với những người mà không được tiếp cận tới thông tin và công nghệ truyền

[ 57 ] Dolly Kikon, “Phá hủy sự khác biệt, hài long với việc học:

Một phân tích sâu sắc về chính sách giáo dục cho vùng Naga,”

Nghiên cứu văn hóa trong Châu Á Volume 2,số 2, 2003, trang

237-241 [ 58],Bộ Phát triển khu vực Đông bắc, Ủy ban ĐÔng bắc, Tầm

nhìn Đông bắc 2020

http://mdoner.gov.in/writereaddata/sublinkimages/Vision_2020_ ANNEX.pdf p 106

Trang 4

thông (ICTs) và sử dụng chúng một các hiệu

quả sẽ dẫn đến việc họ bị cô lập khỏi thế giới

Tương tự, lượng người sử dụng Internet ở khu

vực này là 66,64 trên người, trong khi đó

lượng người sử dụng trung bình toàn quốc là

3.260,78 năm 2003 [59] Sự kìm hãm phát

triển cơ sở vật chất không chỉ liên quan đến

công nghệ thông tin Việc thiếu nguồn cung

cấp điện ổn định, đặc biệt là ở các khu làng có

thu nhập thấp cũng là một vấn đề quan trọng

trong việc tạo ra kết nối cộng đồng

Sự can thiệp chính trị và nhấn mạnh nam

giới là những người con trai của đất trong sự

lựa chọn đối tượng dạy học đã đặt lên trên chất

lượng giáo dục Sự xói mòn chất lượng trong

những trường học công lập chính là căn

nguyên của phương thức tuyển sinh như vậy

Quá trình toàn cầu hóa và các dân tộc

thiểu số

Sự tấn công của công cuộc toàn cầu hóa

và những điểm nhấn của nó về các kỹ năng,

kiếm thức và nhân lực hướng vào sự tham gia

của các cộng đồng địa phương vào quá trình

thay đổi Bản chất của khái niệm nhân lực và

công nghiệp toàn cầu, lợi nhuận của những sự

đầu tư, khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên

thiên nhiên tại các tỉnh biên giới mà không có

sự trả lại tương ứng hoặc hay không có sự

tham gia của các cộng đồng thiểu số đã dẫn

đến sự phá vỡ nguồn tài nguyên thiên nhiên,

sản vật, tăng tỷ lệ tội phạm, mại dâm,và nạn

nhân chính là những người dân sống ở vùng

cao

Trong các hoạt động thương mại và quản

lý cùng với sự phân cấp hàng đầu về luật áp

cho các hãng hoặc doanh nghiệp ở các tỉnh

biên giới, vùng cao Việt Nam và khu vực

Đông bắc Ấn cũng chịu sự chèn ép của đa số

những người từ nơi khác đến Thể chế tự do và

các hoạt động không bị kiềm chế mà không có

một cơ chế thích hợp để đảm bảo lợi ích và sự

tham gia của các cộng đồng người vùng cao có

[59],Bộ Phát triển khu vực Đông bắc, Ủy ban ĐÔng

bắc, Tầm nhìn Đông bắc 2020

http://mdoner.gov.in/writereaddata/sublinkimages/

Vision_2020_ANNEX.pdf p 107

thể ảnh hưởng một cách tiêu cực đến tương lại

và thậm chí là đặt ra một thách thức lớn về tính chính trực khu vực Nói cách khác, sự nhận thức thực thụ hoặc chỉ là tưởng tượng rằng có một chính sách kiên định về chế độ đô

hộ nội bộ liên quan đến những khu vực vùng cao cần phải được loại bỏ thông qua những nỗ lực kiến tạo

Những lựa chọn Việc ưu tiên cho các nhóm dân tộc thiểu

số hoặc những nhóm người mà cần có sự can thiệp đặt ra giả thuyết rằng cần có sự phân bậc nội bộ hoặc tầng lớp trong bản thân các bộ tộc hoặc nhóm dân tộc thiểu số Việc ưu tiên này cần phải được kết hợp một cách tinh tế với những chính sách trái chiều mà không can thiệp và lối sống bộ tộc và các dân tộc thiểu số quốc gia Phần lớn chính sách thiên về người Kinh và người Ấn nhấn mạnh vào kiến thức và

kỹ năng hiện đại cùng với sự phụ thuộc bắt buộc vào các tiêu chuẩn, chính sách và bối cảnh của trung ương Những chính sách, chương trình này thường không để ý đến việc xem xét và phản ảnh thực tế địa phương, và yêu cầu duy trì mặt bằng chung ổn định với các nhân tố địa phương

Cách thức thực hiện Việc hoạch định bối cảnh và đưa ra các chính sách cho cộng đồng thiểu số vung cao hoặc sự phát triển quốc gia cho tới nay chủ yếu dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của phương tây trong khi đó nhu cầu và yêu cầu của những người vùng cao có thể có nghĩa hơn nếu toàn

bộ quá trình xuất phát từ khía cạnh nhân văn Làm thế nào để chúng ta hiểu rõ được nỗi sợ hãi, sự cô lập và cảm xúc của những người bị

kỳ thị? Những ý kiến cực đoan đối với những người thiểu số, coi họ là người lập dị cần được xem xét để chúng ta có thể tự xem xét và liên

hệ với thực tiễn Những nhu cầu về mặt địa lý, sinh học của những người vùng cao không thể

bị áp đặt bởi những người ở vùng đồng bằng, tuy nhiên việc xây dựng nguồn lực cho vùng cao là rất cần thiết Do đó, việc hoạch định chiến lược và can thiệp một cách khéo léo chính là chìa khóa Các cộng đồng người vùng

Trang 5

cao không cùng nguồn gốc nhưng vô số những

người hoặc cộng đồng người ở mức độ xã hội,

kinh tế và giáo dục được nhóm lại với nhau

Những mục tiêu cụ thể hướng vào người thiểu

số thường bỏ quên quá trình thực thi

Nếu tất cả các hệ thống xã hội xuất phát

từ những người bình thường yêu cầu có một

[60] cơ cấu ép buộc thì cách thức mà Việt nam

gắn vào các cộng đồng người thiểu số vùng

cao có thể là một khởi điểm tốt Cách thức

người Việt Nam giải quyết các vấn đề liên

quan tới việc phát triển tại chỗ trong bối cảnh

phát triển hợp lý có thể là một dấu hiệu để cho

các vấn đề của người dân tộc thiểu số vùng cao

Đông bắc Ấn Về mặt địa lý, sinh học, văn

hóa, nhu cầu của những người vùng cao không

thể bị áp đặt bỏi những người vùng đồng bằng

trung tâm Bởi vì không tồn tại bất kỳ sự phát

triển ý nghĩa và hiệu quả nào hoặc một thể chế

xóa đói giảm nghèo nào thành công được khi

mà những cộng đồng người vùng cao không

được chuẩn bị sẵn sàng và được tự nuôi dưỡng,

và chính họ là người nêu ra, thoải thuận để

mang lại sự phát triển cho chính họ Do đó,

việc hoạch định chiến lược và can thiệp một

cách khôn khéo đã trở lên cấp thiết hơn bao

giờ hết Chúng ta không thể kỳ vọng rằng

những sự đầu tư về giáo dục sẽ mang lại hiệu

quả trong vòng thập kỷ như những loại hình

đầu tư khác Báo cáo của những người rút tài

trợ khỏi giáo dục và phát triển cộng đồng dân

tộc thiểu số ở Việt Nam cần xem xét lại bởi lẽ

chúng ta không thể kỳ vọng vào bất kỳ một

phép màu nào từ chính những người vùng cao,

những người mà bản thân đặc điểm địa lý, văn

hóa và lịch sử đã cô lập họ khỏi thế giới bên

ngoài hàng thế kỷ nay Sự kiên định dựa trên

tính minh bạch và trách nhiệm cùng với việc

phác họa ra những tiên đoán về đầu tư có thể

có ích về lâu dài cho cộng đồng dân tộc thiểu

số ở Việt Nam và Đông bắc Ấn Độ

[ 60 ], Amiya Kumar Bagchi, Khả năng tiếp cận và nền kinh tế

chính trị trong sự phát triển con người, ở Kaushik Basu và Ravi

Kanbur, eds., Tranh đầu cho một thế giới tốt hơn: guments for a

Better World: Những bài luận danh giá của Amartya Sen:

Volume II: Xã hội, các tổ chức và sự phát triển (Oxford: Nhà

xuất bản đại học Oxford, 2009) trang 34

Ngày đăng: 12/05/2022, 09:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w